Tài liệu Tiểu luận:" Cách mạng khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay" - Pdf 97

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

TIỂU LUẬN
Đề tài:
Cách mạng khoa học công nghệ
ở nước ta hiện nay
1
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG CHÍNH 3
I.cở sở lý luận và thực tiễn của cách mạng KH- CN ở nước ta hiện nay .
1.Sự cần thiết phải phát triển KH- CN
2 Nội dung KH-CN và hướng tác động của KH- CN ở Việt Nam 6
a. Nội dung KH-CN
b. Hướng tác động của KH-CN
3.Vai trò của khoa học công nghệ 8
a.Với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn và phát triển nông
thôn .
b.Mối quan hệ giữa KH- CN với sản xuất vật chất
c.Khoa học – công nghệ đã nhanh chóng trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp ở nước ta
4. Các nguồn lực để phát triển KH- CN 15
a. Chăm lo phát triển nguồn nhân lực KH- CN
b. Bảo đảm nguồn vốn cho sự phát triển KH- CN
II Thực trạng KH- CN Việt Nam. 18
1.Thành công
2.Hạn chế 21
3.Nguyên nhân 26
III Một số giải pháp . 29
C. KẾT LUẬN. 33

đòi hỏi cấp bách, không chỉ đối với các nước lạc hậu, mà ngay cả đối với các
nước phát triển. Thực tế cho thấy có thể chuyển giao một cách có hiệu quả
cho các nước đi sau khi mà các nước đi sau đã có sự chuẩn bị kĩ càng để đón
nhận. Vấn đề đặt ra là các nước đi sau trong đó có nước ta cần phải làm
ngững gì đẻ iếp nhận một cách có hiệu quả nhất những thành tựu mà các nước
đi trước đã đạt được. Bài học thành công trong quá trình công nghiệp hoá của
các nước NIC đã chỉ ra rằng: việc xây dựng một cơ cấu kinh tế theo hướng
mở cửa với bên ngoài ngằm tiếp nhận một cách có chọn lọc những thành tựu
của các nước đi trước kết hợp với việc đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại, đó chính là con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất quyết
định sự thành công của quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
4
B. NỘI DUNG CHÍNH
I.CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÁCH MẠNG KH- CN Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
1.Sự cần thiết phải phát triển KH- CN
Cách mạng KH- CN đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở các nước phát triển,
tức là ở những nước đã trải qua thời kì cách mạng công nghệ, đã xác lập được
nền sản xuất cơ khí hoá đã có nền KH và CN tiên tiến. Tuy nhiên, nó không
chỉ hạn chế trong ranh giới của các nước phát triển mà ảnh hưởng của nó
đang lan ra tất cả các nước trên thế giới . Có thể nói cách mạng KH- CN là
một hiện tượng toàn cầu, hiện tượng quốc tế sớm hay muộn nó sẽ đến với tất
cả dân tộc và các quốc gia trên trái đất
Là một hiện tượng toàn cầu, cuộc mạng KH- CN mang trong bản
thân nó những qui luật chung, phổ biến, chúng tác động vào tất cả các loại
hình cách mạng KH- KT. Nhưng mặt khác, mỗi nước tiến hành cuộc cách
mạng này trong những điều kiện riêng của đất nước mình cho nên cách mạng
KH- KT ở những nước khác nhau cũng mang những màu sắc, những đặc
điểm khác nhau. Do đó, khi xem xét cuộc cách mạng KH- KT ở nước ta cần
phải đặt nó trong bối cảnh chung của cách mạng KH- KT trên thê giới.

trung bình ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ
6
Với thực trạng đó, việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học – công
nghệ ở nước ta không chỉ được coi là tất yếu khách quan, mà còn là một đòi
hỏi bức xúc để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là đến năm 2020 về cơ
bản nước ta trở thành nước công nghiệp. Khác với các nước đi đàu, công
nghiệp hoá nước ta đòi hỏi phải thực hiện rút ngắn. chỉ có như thế, chúng ta
mới có thể sớm rút ngắn được khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước phát
triển. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá
Cùng với đó, yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường cũng đòi
hỏi chúng ta phải phát triển khoa học và công nghệ. Để chuyển sang nền kinh
tế thị trường hiện đại từ điểm xuất phát thấp, nước ta không thể đi theo các
bước tuần tự như các nước đi trước đã làm, mà phải phát triển theo kiểu “nhảy
vọt”,”rút ngắn”. Đây vừa là cơ hội để tận dụng lợi thế của nước phát triển sau,
vừa là thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Muốn phát triển nhanh kinh tế thị
trường theo cách thức như vậy, nhất thiết phải đẩy mạnh phát triển khoa học-
công nghệ.
Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ đối với nước ta không chỉ
bắt nguồn từ đòi hỏi bức xúc của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn bắt nguồn từ yêu
cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, về bản chất, là một kiểu định hướng tổ chức
nền kinh tế- xã hội vừa dựa trên nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị
trường, vừa dựa trên nguyên tắc và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Định
hướng này không chỉ đòi hỏi nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao mà còn đòi
hỏi phải xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.Ở đó, phát
triển con người và phát triển xã hội bền vững được coi là trung tâm. Đây là
con đường phát triển chưacó tiền lệ. Muốn đạt tới đó, chúng ta phải có nỗ lực

8
bí quyết biến các nguồn lực có sẵn thành sản phẩm. Với ý nghĩ đó khi nói tới
công nghệ thì sẽ cũng bao hàm cả kỹ thuật. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện
nay khoa học, kĩ thuật luôn gắn bó chặt chẽ với nhau : khoa học là tiền đề trực
tiếp của công nghệ và công nghệ lại là kết quả của khoa học.
b.Về hướng tác động của KH- CN
Tập trung nỗ lực tiến hành cải tạo, đồng bộ, hoá và hiện đại hoá có
chọn lọc các cơ sở sản xuất hiện có
Tuy cơ sở vật chất- kỹ thuật có của nước ta còn nhỏ bé, trình độ công
nghệ, kỹ thuật vào loại lạc hậu, hệ số sử dụng thiết bị và công suất còn thấp.
Bởi vậy, nguồn dự trữ còn khá lớn và dưới nhiều góc độ, đây thật sự đang là
nguồn vốn quý của đất nước và phải bắt đầu từ đây để đi lên
Chủ động sử dụng có chọn lọc một số hướng công nghệ tiên tiến phù
hợp với thế mạnh của đất nước nhằm chuẩn bị điều kiện phát triển các ngành
có hàm lượng công nghệ cao
Ở nước ta, cùng với việc tập trung nỗ lực KH- CN khai thác có hiệu
quả cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện có, cũng cần phải chăm lo, dành một số phần
tiềm lực dư lớn cho việc thử nghiệm, lựa chọn một sồ hướng công nghệ cao
phù hợp để một mặt, hỗ trợ cho việc giải quyết có hiệu quả hơn, mặt khác
thúc đẩy việc hình thành một số lĩnh vực sản xuất công nghệ cao với quy mô
phù hợp để tạo ta các sản phẩm thay thế nhập và tạo chỗ đứng trên thị trường
quốc tế.
Trong số những hướng công nghệ cao, cần quan tâm đầy đủ tới khâu
tin học hoá một số lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Cần có quyết tâm trong
việc đầu tư phát triển một số lĩnh vực sản xuất gắn với các hương ưu tiên của
chương trình tổng hợp tiến bộ KH- CN. Đó là dịp tốt để VN tham gia vào
phân công lao động quốc tế về một số sản phẩm có hàm lượng khoa học cao
Thúc đẩy việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của các xí nghiệp
nhỏ, của khu vực tiểu thủ công nghệp cả ở thành thị và nông thôn.
9

vào khoa học và công nghệ” “khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng
và động lực cho CNH- HĐH”. Chỉ bằng con đường CNH- HĐH, phát triển
khoa học và công nghệ mới có thể đưa nước ta từ nghèo nàn lạc hậu trở thành
một nước giàu mạnh văn minh. Việc đưa khoa học và công nghệ, trước hết là
phổ cập những tri thức khoa học và công nghê cần thiết vào sản xuất và đời
sống xã hội là một nhu cầu cấp thiết của xã hội ta hiện nay.
Vai trò của KH- CN đối với một số lĩnh vựcnhư sau:
a.Với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn và phát triển
nông thôn
Gần 15 năm qua sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã đạt
được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng ổn định và phát triển kinh
tế xã hội đưa nước ta bước sang giai đoạn mới đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước.Tuy nhiên cho đến nay với gần 80% dân số của cả nước
sống ở nông thôn, trong đó tỷ lệ đói nghèo vẫn còn trên 17%, có nơi như ở
một số huyện miền núi còn trên 35%. Mặt khác cũng do nền kinh tế nước ta
mới bước đầu chuyển từ nền sản xuất theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao
cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nên năng suất, chất lượng
và sức cạnh tranh của nông sản, hàng hoá còn rất thấp so với nhiều nước
trong giới khu vực và thế. Điều đó làm cho thu nhập và tích luỹ của đại bộ
phận dân cư nông thôn còn bấp bênh, sức mua có khả năng thanh toán về tư
liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng đều rất hạn chế, gây ảnh hưởng lớn đến sự
chuyển dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời gây cản trở việc, phát
triển công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn
So với các giải pháp khác, thì giải pháp về khoa học và công nghệ
yêu cầu vốn đầu tư không quá lớn mà đem lại hiệu quả cao. Theo đánh giá
chung, trong nông nghiệp ước tính 1/3 giá trị tăng của sản xuất lương thực
thời gian vừa qua là do người dân tiếp thu, ứng dụng các tiến bộ khoa học và
kỹ thuật mới vào sản xuất
11
Tuy nhiên, tiềm lực về KH- CN của nước ta chưa được phát huy đầy

hiện CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay và đó cũng chính
là những yêu cầu bức xúc đặt ra đối với các nhà khoa học vì sự phát triển của
nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để huy động được các lực lượng KH- CN
phục vụ nông nghiệp, nông thôn, chú ý các vấn đề về tổ chức bộ máy, cơ chế
vận hành và các chính sách tác động, trong đó cốt lõi là giải quyết hợp lý lợi
ích cho người làm nghiên cứu, triển khai các thành tựu của KH-CN
b.Mối quan hệ giữa KH- CN với sản xuất vật chất
Khoa học có nguồn gốc, bản chất, chức năng sứ mạng từ đời sống
thực tiễn của xã hội, con người. Nó không phải là bản thân công cụ lao động
và sức lao động, nhưng cũng không nằm ngoài thành tố quan trọng nhất là lực
lượng sản xuất. Nó không thay thế, nhưng nó có thể làm thay đổi mạnh mẽ,
nhanh chóng tính năng hiệu lực của công cụ lao động, sức lao động và do đó,
phương thức con người tác động đến giới tự nhiên theo chiều hướng ngày
càng tăng cường sức mạnh, vai trò và tự do của con người trước thiên nhiên.
Tuy nhiên, với tính cách là sản phẩm, giá trị đã được sáng tạo ra, đã có sẵn,
thì khoa học không còn là kết quả, mà lại đóng vai trò như một trong những
nguyên nhân, động lực bên trong, trực tiếp thúc đẩy mạnh nhất sự phát triển
lực lượng sản xuất
Trong điều kiện “ thông tin hoá “, “toàn cầu hoá” của đời sống xã hội
và kinh tế thế giới ngày nay, nhiều thành tựu của cuộc cách mạng KH- CN có
thể được chuyển giao tiếp nhận tương đối nhanh chóng, dễ dàng, tạo ra cơ hội
khách quan thuận lợi cho sự phát triển đột biến, nhảy vọt và bứt phá về kinh
tế ở những dân tộc, quốc gia, hay khu vực nhất định trong những thời điểm,
thời kỳ hay giai đoạn nhất định. Nhưng để tranh thủ tân dụng và phát huy
được hết tiềm năng của cơ hội bên ngoài này thì điều kiện tất yếu và tối thiểu
là ở bên trong phải chuẩn bị xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và bồi dưỡng
nhân tố con người lao động ở một nức độ tương ứng, thích đáng. Kinh
nghiệm thế giới về việc giải quyết mối quan hệ “ con người- tư kiệu sản xuất-
13
khoa học” một cách cân đối, hài hoà để tạo ra hiệu quả tổng hợp tối đa và tối

triển
Khoa học là một hệ thống tri thức được tích luỹ trong quá trình lịch
sử và được thực tiễn kiểm nghiệm, phản ánh những quy kuật khách quan của
thế giới bên ngoài cũng như hoạt động tinh thần của con người, giúp con
người có năng lực cải tạo thế giới
Như vậy, khoa học là” văn hoá biết”, còn sản xuất, kỹ thuật, công
nghệ là “ văn hóa làm “. Từ “biết” đến “ làm “ có một khoảng nhất định
nhưng không hề có bức tường nào ngăn cản tuyệt đối cả. Khoảng cách ấy có
thể bị rút ngắn và được rút ngắn đến đâu là tuỳ thuộc ở trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, của kỹ thuật, công nghệ và khoa học
Khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn,
nhưng đến lượt mình nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt
động sản xuất. Do đó con người hoàn toàn có khả năng biến khoa học thành
lực lượng sản xuất trực tiếp.
Trong thực tế, sự phát triển của khoa học đã giúp con người tăng
cường sức mạnh trong quá trình chinh phục tự nhiên, sử dụng có hiệu quả
những sức mạnh của nó. Nếu không có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học,
làm sao con người có thể tạo ta năng lượng hạt nhân, phóng tàu vũ trụ lên
thám hiểm các hành tinh, hay sản xuất ra máy tính điện tử và người máy công
nghiệp thay thế nhiều hoạt động phức tạp của mình.
Khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kỹ thuật và sản xuất
còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động
mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất. Kỹ thuật và công nghệ là kết quả sự vận
dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo, cải biến
các công cụ, phương tiện phục vụ cho hoạt động sản xuất và các hoạt động
khác của xã hội. Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì dứt khoát
phải gắn liền với kỹ thuật và công nghệ. Song như thế chưa đủ. Khoa học còn
phải được người lai động tiếp thu vận dụng để nâng cao kỹ năng, kỹ xảo lao
15
động, phát triển tư duy kinh tế nhanh nhạy, trau dồi đạo đức, lối sống, v v,

Nhân tố con người
Nhân tố con người, đã và đang là điều kiện quyết định trong sự
nghiệp phát triển KH- CN của nước ta. Thành công của chúng ta là ở chỗ đã
tạo ta một lực lượng cán bộ KH- CN ban đầu tương đối đông đảo. Mặt khác,
chính lĩnh vực này cũng là nơi đang đặt ta những vấn đề bức thiết, mà việc
giải quyết chúng, về thực chất, sẽ quyết định tính hiện thực của những bước
tiếp theo
Đối với KH- CN vấn đề không chỉ là những nhà khoa học, các kỹ sư,
kỹ thuật viên với nghề nghiệp chính thức của họ là làm công tác KH- CN, mà
trước hết phải nói đến cả phong trào quần chúng nhân dân đang tham dự vào
hoạt đông công nghệ trong sản xuất xã hội. Bất cứ hoạt động gì trong thực
tiễn đời sống và sản xuất đều có quan hệ tới KH- CN.
Yếu tố quan trọng hàng đầu cho tiến bộ khoa và công nghệ là phải tạo
ra một mội trường xã hội thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển. Ở
một mức độ đáng kể, môi trường đó được tạo nên bởi nhận thức của con
người ở mọi tầng lớp xã hội về vai trò của khoa học và công nghệ
Thấy được ý nghĩa của môi trường khoa học và công nghệ dân chúng
là để từ đó cần chú trọng các biện pháp tác động về mọi mặt : giáo dục, đào
tạo, tuyên truyền, phổ biến, kích thích kinh tế và các biện pháp khác
Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học
Đào tạo là khâu đầu tiên của một chu trình hình thành và sử dụng
nguồn nhân lực quốc gia về mặt khoa học và công nghệ. Nói đến đào tạo đối
với nguồn nhân lực này trước hết phải kể đến toàn bộ hệ thống giáp dục các
cấp, từ phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, giáo dục chuyên nghiệp đến đại
học và trên đại học.
Tuy nhiên, so với yêu cầu chuẩn bị cán bộ khoa học và công nghệ để
đẩy mạnh công nghệ hoá trong giai đoạn sắp tới thì đội ngũ cán bộ ấy vẫn
thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Không thể vì một số khó khăn trước
17
mắt mà hạn chế qui mô và tốc độ đào tạo. Con người luôn luôn là vốn quý

Từ đây phải thường xuyên đánh giá lại năng lực đã có, không thể coi
năng lượng khoa học- công nghệ là bất biến.Sử dụng là tiền đề và điều kiện
tiên quyết cho phát triển nhân lực khoa học- công nghệ. Tiềm lực cán bộ chỉ
có thể phát triển trong điều kiện được phát huy năng lực của mình một cách
thoả đáng.
Không ít trường hợp sự đánh gía tiềm lực khoa học- công nghệ của
đất nước ta hiện nay tỏ ra lạc quan, khi chỉ nhìn vào số lượng cơ cấu, trình độ
đào tạo ban đầu của đội ngũ cán bộ. Chúng ta hầu như đã có đủ tất cả các
ngành nghề với số lượng khá đông cho một nền kinh tế như nước ta. Song
nhiều lĩnh vực chúng ta không thể huy động được lực lượng cần thiết, mặc dù,
trên danh nghĩa, chuyên ngành nào đó đã có một đội ngũ cán bộ được đào tạo
không nhỏ. Như vậy, năng lực thực tế kém xa năng lực trên danh nghĩa.
Như vậy nếu đào tạo không đi đôi với sử dụng và phát huy trình độ
đã có thì không làm tăng thêm tiềm lực khoa học- công nghệ của đất nước,
trái lại còn có thể giảm sút so với tích tụ ban đầu của nguồn nhân lực.
b. Bảo đảm nguồn vốn cho sự phát triển KH- CN
Bên cạnh nhân lực thì vốn là điều kiện quan trọng cho phát triển
khoa học- công nghệ. Muốn cho sự nhiệp công nghiệp hoá, hiện đai hoá được
tiến hành với tốc độ nhanh cần phải có cơ chế, chính sách và biện pháp huy
động được nguồn vốn nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
Vấn đề huy động vốn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá có
ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nước ta. Song song với việc huy động
các nguồn vốn, vấn đề sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn cũng có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng. Yêu cầu bảo toàn vốn được thể hiện trước hết trong công
tác tổ chức tài chính, có nghĩa là phải lựa chọn các phương án tối ưu trong tạo
nguồn tài chính. Sự cần thiết của chế độ bảo toàn và phát triển vốn trước hết
xuất phát từ yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, phải hoạch toán kinh tế
19
kinh doanh, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
là phải đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, để quá trình công nghiệp

sinh sản đã thành nghề giàu có ở nông thôn. Đặc biệt, kỹ thuật nuôi tôm đã
được ứng dụng khắp nơi, tạo công ăn việc làm cho 350.000 ngư dân ven biển
góp phần cải thiện và tăng kim ngạch xuất khẩu của ngành thuỷ sản, năm
1993 đạt 368 triệu USD, 1994 : 551,2 triệu, 1996 : 670 triệu, 1997 : 750 triệu
và 2000 : 1000 triệu, tăng kơn 10 lần so với 1980. Việc nuôi trồng hải sản đã
có sự đầu tư khoa học thích đáng trong việc tận dụng mặt nước ao, hồ, nước
biển, nước lợ, kết hợp sản xuất nông nghiệp với nuôi tôm cá, phát triển nuôi
trồng với giữ gìn môi trường, môi sinh, nuôi xen ghép, quảng canh, chọn
giống tốt… toàn ngành hiện có 59 cơ sở đủ tiêu chuẩn sản xuất hàng xuất
khẩu
Trong công nghiệp, hàng loạt kỹ thuật tiên tiến được áp dụng, tạo
nhiều sản phẩm chất lượng cao : hàng may mặc, thuốc lá, đồ nhựa, cao su, đồ
điện máy, điện tử… nhất là trong chế tạo máy móc, thiết bị phụ tùng và đổi
mới công nghệ, kinh doanh sản xuất ô tô, xe máy, nhằm giải quyết nguyên vật
kiệu, thiết bị thay thế. Trong công nghiệp đầu khí… đội ngũ cán bộ khoa học
trong nước, đã có khả năng tiếp thu và làm chủ công nghệ mới. CN chế biến
nông- lâm- hải sản cũng được đẩy mạnh một bước
Trong lĩnh vực năng lượng, nhiều công trình, nghiên cứu KH- CN đã
tập trung vào công tác quy hoạch, sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng. Đổi
mới CN xây dựng các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, nghiên cứu các phương
pháp giảm tổn thất năng lượng trong truyền tải điện và đổi mới CN. Hệ thống
năng lượng đã phát triển nhanh chóng : 80% địa bàn xã ở khu vực nông thôn,
hơn 50% hộ gia đình đã có điện sử dụng.
Trong giao thông vận tải, KH- CN đã góp phần quan trọng vào việc
nâng cấp và phát triển mạng lưới, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường
sông… đã xây dựng một số công trình quan trọng bằng việc áp dụng các CN
21
mới : đóng tàu biển trọng tải 3.000 tấn, công trình hạ tầng cất cánh sân bay
Tân Sơn Nhất, thắng thầu nhiều công trình giao thông ở Lào, Campuchia…
với việc áp dụng CN mới trong gia cố nền móng và thi công mặt đường.

bằng hệ thống pháp luật như các quốc gia khác. Thời gian qua Đảng và Nhà
nước đã có nhiều cố gắng tạo nguồn tài chính để đầu tư cho khoa học và công
nghệ nhưng chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển. Theo số liệu thống kê
từ năm 1965 đến nay, mức đầu tư tài chính từ ngân sách nhà nước dành cho
hoạt đông nghiên cứu và triển khai chiếm từ 0,2% đến 0,82% thu nhập quốc
dân. Trong 10 năm đổi mới, nước ta đạt được những thành tựu kinh tế đáng
mừng, tổng kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ được nâng lên dần,
nhưng do giá cả hàng hóa tăng cho nên giá trị thực tế của vốn đầu tư không
tăng. Theo số liệu của Bộ KH- CN và môi trường thì đầu tư tài chính cho kha
học công nghệ chưa vượt quá 1% ngân sách tiêu dùng hằng năm. Chi phí bình
quân hằng năm cho một cán bộ khoa học công nghệ từ ngân sách nhà nước
khoảng 1.000 USD, rất thấp so với mức bình quân của thế giới hiện là 55.324
USD và kếm các nước trong khu vực châu Á . Mức đầu tư thấp nhưng lại
phân tán và không ít trường hợp sử dụng lãng phí. Tuy Đảng và Nhà nước đã
có nhiều chủ trương, nghị quyết sáng suốt, nhấn mạnh vai trò của khoa học
công nghệ và coi trọng nó không kém gì các quốc gia khác trên thế giới,
nhưng mức đầu tư cho khoa học vẫn rất thấp. Có 2 khả năng lý giải tình hình
trên. Thứ nhất, nếu huy động gấp đôi vốn cho nghiên cứu khoa học và công
nghệ thì việc nghiên cứu khoa học có mang lại hiệu quả thiết thực hay không
trong khi trình độ quản lý khoa học hiện tại còn yếu kém. Thứ hai, ngân sách
nhà nước trong nhiều năm thâm hụt, phải bảo đảm chi cho nhiều ngành cũng
quan trọng, do đó mức đầu tư kinh phí cho khoa học nhiều khi lại phụ thuộc
vào quan điểm của người lãnh đạo và các cơ quan quản lý của Nhà nước. Rốt
cục quy định trong các văn bản và chỉ thị của Đảng dành 2% ngân sách hằng
năm cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn không thực hiện được.
23
Với mức đầu tư như vậy nên chỗ làm việc chật chội, thiết bị lạc hậu,
phòng thí nghiệm và cụng cụ thí nghiệm thiếu… cơ quan khoa học và công
nghệ chỉ có thể hoạt động cầm chừng, chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt
mà không thể tạo ra được thành quả khoa học có tầm chiến lược. Nếu không

ngành, các khu vực giữa các vùng, giữa các thành phần kinh tế đã gây ra hậu
quả xấu cho quá trình phát triển, càng làm sâu sắc thêm sự chênh lệch và phát
triển giữa các vùng, các ngành.
Một điều mà nhiều người nhìn thấy rất rõ là trong nhiều năm, đặc
biệt sau khi chuyển sang kinh tế thị trường thì các ngành khoa học cơ bản bị
xem nhẹ và dường như đang bị bỏ rơi. Đó là một cách nhìn rất thiển cận và
hậu quả của nó sau một số năm thấm dần sẽ gây tác hại nghiêm trọng. Khoa
học công nghệ là một hệ thống, cũng như một nền kinh tế nếu không có hạ
tầng cơ sở tốt thì không thể phát triển được. Trong khoa học nếu chỉ coi trọng
những ngành ứng dụng có lãi nhanh mà coi nhẹ khoa học cơ bản rút cục sẽ
đưa khoa học đến chỗ bế tắc và không có đủ năng lực tiếp thu làm chủ các
lĩnh vực khoa học công nghệ mới.
d. Những bất cập giữa KH- CN và hoạt động kinh tế ở VN
Mối quan hệ thống nhất giữa hoạt động khoa học công nghệ và hoạt
động kinh tế là cơ sở quan trọng bảo đảm cho sự phát triển của một quốc gia.
Tuy nhiên, ở VN hiện nay giữa hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động
kinh tế lại bộc lộ những bất cập rõ rệt
1. Mặc dù tồn tại số lượng đáng kể các cơ quan nghiên cứu khoa học
công nghệ và dưới nhiều dạng thực phong phú, nhưng các viện nghiên cứu,
các trường đại học thường mạng nặng tính hàn lâm và ít gắn bó hữu ích với
các tổ chức kinh tế. Ngoài mối quan hệ lỏng lẻo giữa cơ quan nghiên cứu và
các đơn vị kinh tế còn một khía cạnh nữa là bản thân hệ thống cơ quan nghiên
cứu vẫn thiếu phương pháp luận tiếp cận có hiệu quả tới hệ thống kinh tế. Ở
đây đòi hỏi sự hợp tác, trao đổi qua lại nhiều vòng giữa các nhà khoa học và
đại diện của các khu vực sản xuất. Các hãng luôn được coi như nhân vật trung
25

Trích đoạn MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status