Tài liệu Tiểu luận "Cách mạng khoa học kỹ thuật - một vấn đề mang tính chất thời đại" - Pdf 99

TIỂU LUẬN "Cách mạng khoa học kỹ
thuật - một vấn đề mang tính
chất thời đại"
Tiểu luận triết học

1
I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp CNH - HĐH hiện nay KHCN đang chiếm một vị trí đặc
biệt quan trọng. Bởi vì nước ta tiến lên CNXH từ một nền kinh tế phổ biến là sản
xuất nhỏ, lao động thủ công là phổ biến. Cái thiếu thốn của chúng ta là một nền
đại công nghiệp. Chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành CNH - HĐH. Trong thời
đại ngày nay, CNH phải gắn liền với HĐH. CNH - H
ĐH ở nước ta là nhằm xây
dựng CSVC kỹ thuật cho CNXH. Đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ
quá độ tiến lên CNXH ở nước ta.
Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm
hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực khoa
học và công nghệ. Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (Khoá VI) đã nêu rõ: "Đại hội
lần thứ VI của Đả
ng đề ra đường lối đổi mới, coi khoa học và công nghệ là một
động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển kinh tế
xã hội theo định hướng XHCN, coi những người làm khoa học và công nghệ là
đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta". Nghị
quyết của Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (Khoá VII) trong phần về chủ trương phát
triển công nghiệp và công nghệ

I. Lời mở đầu
II. Phần nội dung
III. Phần kết luận
Do phạm vi đề tài rộng mà tầm hiểu biết của em còn h
ạn chế nên không
tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự đóng góp chân thành của thầy
giáo và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn ! II. PHẦN NỘI DUNG
1. NGUYÊN LÝ TRIẾT HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cách mạng khoa học - Công nghệ được thực hiện trên cơ sở lý
luận khoa học phát triển không ngừng:
Đó là điểm khác biệt quan trọng nhất của cuộc cách mạng Khoa học - Kỹ
thuật lần này (Cách mạng Khoa học - công nghệ mới đối với chủ nghĩa tư bản
Tiểu luận triết học

3

tầm quan trọng của việc phát triển và đưa vào ứng dụng các công nghệ
mới
nhằm cơ cấu lại nền công nghiệp, nâng cao năng suất và đảm bảo tăng trưởng
kinh tế và sự phồn vinh thông qua khả năng cạnh tranh. Phần thưởng khao khát
trong cuộc chạy đua công nghệ là sức mạnh kinh tế. Một dân tộc thậm trí không
thể tồn tại được nếu thiếu công nghệ. Mặc dù còn chưa đầy đủ, nhưng công nghệ
đã dạy cho nhân loại ít nhất m
ột bài học quan trọng, đó là không gì là không thể.
Trong một thế giới không chắc chắn hiện nay, sự thay đổi công nghệ là
điều chắc chắn. Việc thay đổi công nghệ kéo theo những rủi ro. Song không chấp
nhận rủi ro lại chính là sự rủi ro lớn hơn cả! Mỗi nước cần có kế hoạch phát triển
dựa trên công nghệ riêng của mình. Tuy nhiên, một nguyên lý mang tính
Tiểu luận triết học

4
phương pháp luận chung cũng như sự phân tích so sánh quốc tế có thể cung cấp
thông tin có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà lập kế hoạch
trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân.
Việc xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ phải bằng sự lựa
chọn chứ không phải là ngẫu nhiên. Điều đó có thể đạt được bằng sự thuyết
phục, tính quyết định, sự quy
ết tâm và hơn hết phải là ý trí chính trị mãnh liệt - ý
trí kiến tạo tương lai của một quốc gia sử dụng công nghệ như một công cụ để
phát triển.
Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng hiện nay, công nghệ
là một biến số chiến lựơc sống còn cho sự phát triển nhanh chóng kinh tế - xã
hội. Nếu có một kế hoạch sử dụng công nghệ thích hợp, nó có thể là một chiếc
chìa khoá cho một xã hội phồn vinh, cho toàn thể nhân loại. Do đó, công nghệ là
hi vọng lớn nhất để nâng mức sống của một số lớn những người nghèo trên thế
giới. Mặc dù những vấn đề mà các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình

quốc tế
Cấp giai
đoạn

Hàm lượng
xuất khẩu
Hàm lượng
nhập khẩu
Các thành phẩm
của công nghệ

Cấp bậc tinh xảo
ĐÁNH GIÁ
HÀM LƯỢNG
CÔNG NGHỆ
So sánh
Hệ thống
đóng góp
của công
n
g
h


T. hợp các
đóng góp
của công
n
g
h


SƠ ĐỒ LẬP KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ

2. CÁCH MẠNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ - VẤN ĐỀ CÓ TÍNH
CHẤT THỜI ĐẠI.
2.1. Nguyên nhân của cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ:
2.1.1. Tác dụng và ảnh hưởng của chiến tranh thế giới:
Chiến tranh thế giới thứ hai là một tai hoạ to lớn chưa từng có trong lịch
sử loài người, nhưng lại có tác dụng thúc đẩy nhất định đối với sự phát triển của
KHKT. Để dành thắng lợi trong chiến tranh các nước đế quốc đã dốc sức và
nghiên cứu KHKT quân sự. Các bên tham chiế
n cạnh tranh kịch liệt trong việc
phát minh và sử dụng các vũ khí và trang bị mới như: Ra đa, tên lửa, máy bay
phản lực, bom nguyên tử Trong chiến tranh Đức là nước đầu tiên dùng tên lửa
mang đầu đạn có điều khiển, còn Mỹ là nước đầu tiên sử dụng bom nguyên tử.
Việc phát minh và sử dụng vũ khí, trang thiết bị mới không quyết định thắng bại
cuối cùng, song quả thực nó ảnh hưởng quan trọ
ng đối với cuộc chiến. Sau
chiến tranh thế giới thứ hai, rất nhiều bộ môn KHKT quân sự được ứng dụng vào
ngành công nghiệp dân dụng, điều đó không những mở ra rất nhiều ngành công
nghiệp mới, mà còn nâng cao nhanh chóng năng suất lao động của toàn bộ nền

g
h


Các mặt của
CS hạ tầng

ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC
CÔNG NGHỆ

Các nguồn lực
Khoa học và Công
nghệ trong hệ
thống sản xuất
Khoa học và công
nghệ hàn lâm
Những tiến bộ và
nỗ lực trong những
khu vực chuyên mô
hoá được lựa chọn
Cam kết của cấp vĩ
mô đối với khoa
học và Công nghệ
vì sự phát triển
Tiểu luận triết học

6
kinh tế quốcdân. Chỉ riêng điểm này có thể thấy rằng những thành tựu KHKT
giành được sau chiến tranh, là do loài người đã phải trả cái giá rất đắt mới có

ư bản cá biệt, thậm chí các tập đoàn tư bản độc quyền. Mối
liên quan giữa các ngành KHCN cũng ngày càng rộng rãi và chặt chẽ. Một phát
triển mới của ngành KHCN đòi hỏi sự phát triển tương ứng của rất nhiều ngành
có liên quan. Ví dụ: Việc nghiên cứu và ứng dụng năng lượng nguyên tử, việc
tìm tòi nghiên cứu hàng không và vũ trụ đều không thể tách rời việc khai thác
sử dụng vật li
ệu mới, không thể tách rời sự phát triển cao độ của kỹ thuật điện tử
và tự động hóa Điều đó đòi hỏi phải có sự hợp tác và phối hợp mạnh mẽ.
Trong tình hình đó sự phát triển cao độ của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà
nước, ở mức độ rất lớn đãđáp ứng được những
đòi hỏi về mặt này của sự phát
Tiểu luận triết học

7
triển KHCN hiện đại. Chỉ nói riêng về chi phí cho nghiên cứu mỗi năm chính
phủ các nước tư bản bỏ ra xấp xỉ một nửa số kinh phí của toàn bộ việc nghiên
cứu của các nước này. Hơn nữa, số kinh phí đó phần lớn tập trung vào các đề tài
nghiên cứu khoa học tương đối lớn và cơ bản, nên tác dụng thúc đẩy KHCN của
nó càng mạnh mẽ.
Ngoài phương diện kinh phí nghiên cứu KHKT, chính ph
ủ các nước tư
bản ngày nay còn có tác dụng rất to lớn trong việc bồi dưỡng nhân tài để phát
triển nghiên cứu khoa học. Một vấn đề then chốt của tiến bộ KHCN hiện nay là
phải có một loại nhân tài KHKT phù hợp và có chất lượng cao, ngay cả những cá
nhân bình thường cũng cần nâng cao trình độ KHKT mới có thể đáp ứng được
yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
Tác dụng thúc đẩy tiế
n bộ KHCN của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà
nước còn thể hiện ở chỗ nó làm cho sự hợp tác quốc tế về KHKT ngày càng mở
rộng.

vực khoa học, công nghệ mới đã và đang có triển vọng nhất hiện nay.
2.2.1. Kỹ thuật điện tử:
Đây là ngành hạt nhân có tính quyết định của cuộc cách mạng KHCN, là
ngành phát triển nhanh nhất, ứ
ng dụng rộng rãi nhất trong số các ngành KHCN
mới nổi lên. Hiện nay bất kể những sáng tạo KHCN mới hay cải tạo kỹ thuật
trong các ngành kinh tế truyền thống đều không thể tác rời kỹ thuật điện tử. Ở
các nước tư bản phát triển, ngành này đã trở thành một ngành mới, độc lập giá trị
sản lượng của nó không ngừng tăng lên.
Thành tựu nổi bật nhấ
t của kỹ thuật điện tử biểu hiện ở việc phát minh và
áp dụng máy vi tính điện tử. Máy vi tính điện tử là một trong những phát minh
KHCN vĩ đại nhất của thế kỷ này. Máy tính điện tử từ khi ra đời vào giữa thập
kỷ 40 đến nay, nó đã trải qua 4 thế hệ là: Bóng điện tử, bóng bán dẫn, mạch vi
điện tử, mạch vi điệ
n tử quy mô lớn. Ở một số nước đã bắt đầu nghiên cứu, chế
tạo máy tính sinh học. Nó có ưu điểm lớn nhất là tốc độ tính toán cực nhanh.
Ngoài máy tính sinh học ra, các loại máy tính mô phỏng óc người, máy
tính quang học cũng đang trong quá trình nghiên cứu chế tạo. Sự phát triển của
máy tính điện tử tuy trải qua chừng nửa thế kỷ nhưng triển vọng của nó vẫn vô
cùng rộ
ng lớn đang làm phấn chấn lòng người.
2.2.2. Công nghệ thông tin
Nếu nói kỹ thuật điện tử là cơ sở của kỹ thuật thông tin, thì kỹ thuật thông
tin là bộ phận mấu chốt của công nghệ tin học ngày nay. Thông tin là hệ thống
thần kinh của XH hiện đại, không có sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ
không thể có sự truyền bá và sử dụng hàng ngàn hàng vạn thông tin trong XH
hiện đại.
Sự phát triể
n của công nghệ thông tin được đo bằng chỉ tiêu: Tỷ số giá cả/

liệu từ bên ngoài, từ lâu đã tích cực phát triển công nghệ vật liệu mới. Thị trường
vật liệu của Nhật Bản dự tính tăng từ 2,2 tỷ đô la (1981) lên 24 tỷ đô la (2000).
2.2.4. Công nghệ sinh học
Công nghệ sinh họ
c là một bộ môn khoa học mới nổi lên từ những năm 50
của thế kỷ này. Nó là sản phẩm kết hợp của khoa học về sự sống và KHKT hiện
đại. Công nghệ sinh học đang được nghiên cứu và phát triển hiện nay chủ yếu là
gen, dung học tế bào, môi tế bào, phản ứng sinh vật và công nghệ gây men
Công nghệ sinh học tuy hiện nay mới ở giai đoạn đầu nhưng nó đã có nhữ
ng
bước tiến, bắt đầu có tác dụng và ảnh hưởng đến đời sống KT - XH.
2.2.5. Công nghệ hải dương
Biển chiếm 71% diện tích trái đất nhưng việc lợi dụng biển của loài người
còn hết sức nhỏ bé. Cùng với sự tiến bộ của KHCN, con người đã dần dần coi
trọng việc khai thác và sử dụng biển. Xem xét tình hình hiện nay thì thấy rằng
công nghệ hải dương
đã bao gồm rất nhiều lĩnh vực chuyên môn như: Năng
lượng biển, nuôi trồng hải sản, khai thác khoáng sản biển, làm nhạt nước biển,
hoá chất biển Trong đó ngành khai thác khoáng sản biển có triển vọng lớn rất
hấp dẫn.
2.2.6. Công nghệ vũ trụ.
Tiểu luận triết học

10
Công nghệ vũ trụ bao gồm việc nghiên cứu và chế tạo các thiết bị máy
móc cho việc bay vào vũ trụ như: Vệ tinh nhân tạo, phi thuyền chở người, phóng
tên lửa Cũng bao gồm việc sử dụng các lĩnh vực nghiên cứu khoa học phục vụ
việc bay vào vũ trụ như: Khí tượng, tài nguyên, khoa học đời sống Về mặt
thông tin truyền dẫn, việc sử dụng kỹ thuậ
t không gian càng tương đối rộng rãi.

sự nghiệp XD một nước Việt Nam mới không hoàn thành được".Do đó Chính
phủ đã tuyển chọn và gửi đi đào tạo một lực lượng khá đông cán bộ khoa học.
Năm 1954, hoà bình lập lại ở mi
ền Bắc, lớp cán bộ khoa học đầu tiên lần lượt trở
Tiểu luận triết học

11
về và cùng với lớp trí thức tham gia kháng chiến phục vụ công cuộc khôi phục
và XD đất nước.
2.3.2. Thời kỳ 1954 - 1964.
Hoà bình lập lại năm 1954, đất nước tạm chia làm 2 miền. Miền Bắc bước
vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế và bắt đầu thực hiện kế hoạch 5
năm lần thứ nhất. Lần đầu tiên trong văn kiện của ĐCSVN khẳng định vai trò
củ
a KHCN trong sự nghiệp XD đất nước "Khoa học và kỹ thuật là một điều kiện
không thể thiếu được trong công cuộc XDCNXH". Tháng 9-1960 Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng quyết định "Đưa miền Bắc tiến lên CNXH
có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến".
Phát triển luận điểm của Đại hội lần thứ III, Hội nghị BCHTW
Đảng lần
thứ 10 đã chỉ rõ: "Chúng ta phải đẩy mạnh cách mạng về quan hệ sản xuất, cách
mạng kỹ thuật, cách mạng văn hoá và tư tưởng. Các mặt nói trên phải đồng thời
được tiến hành, không thể xem nhẹ một mặt nào, song phải tập trung sức đẩy
mạng cách mạng KHKT là then chốt, nhằm từng bước trang bị cơ khí và nửa cơ
khí cho các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành sả
n xuất chủ yếu,
tiếp tục XDCSVC và kỹ thuật của CNXH". Trong vòng 10 năm (Kể từ khi hoà
bình lập lại năm 1954), trên mặt trận khoa học và công nghệ, một loạt tổ chức
khoa học được thành lập từ Uỷ ban khoa học Nhà nước đảm nhận chức năng
quản lý đến các cơ sở nghiên cứu và đào tạo đại học nhằm thực hiện mục tiêu

Tháng 3/1982 Đại hội lần thứ V của Đảng đã nêu rõ phương hướng nhiệm
vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế và XH năm 1981 - 1985, trong đó nhấn
mạnh: "Trước hết khoa học và kỹ thuật phải phục vụ tốt nhất cho vi
ệc đưa nông
nghiệp một bứơc lên sản xuất lớn XHCN trong cơ cấu công - nông nghiệp hợp
lý". Đối với nhiệm vụ lâu dài của khoa học và công nghệ Nghị quyết Đại hội lần
thứ V của Đảng đã chỉ ra: "XD từng bứơc nền khoa học và kỹ thuật tiên tiến của
nước CHXHCNVN có cơ cấu phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá và
XH, có khả năng gi
ải quyết những yêu cầu trước mắt và những mục tiêu lâu dài
của nền sản xuất, đời sống và quốc phòng, đón trước và mở ra cho nền kinh tế
và XH những phương hướng phát triển mới, chú trọng phát triển những ngành
khoa học và kỹ thuật gắn liền với thế mạnh về tài nguyên, điều kiện nhiệt đới và
con người Việt Nam.
2.3.5. Thời kỳ 1986 đến nay.
Sau hơ
n 10 năm thông nhất đất nước nền kinh tế XH gặp nhiều khó khăn
do cơ chế quản lý tập trung bao cấp. Đại hội lần thứ VI của ĐCSVN tháng
12/1986 đã mở ra một bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của nước ta, đề ra
đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới trong lĩnh vực kinh tế với nội dung chủ
yếu là chuyển nền kinh tế
từ tập trung quan liêu bao cấp sang sản xuất hàng hóa
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước,
theo định hướng XHCH. Đại hội khẳng định khoa học và công nghệ là động lực
thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và chỉ rõ phương hướng hành
động "Nhằm trước hết phục vụ cho 3 chương trình mục tiêu": Lương thực - thực
phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xu
ất khẩu.
Tháng 6/1991 Đại hội ĐCSVN lần thứ VII khẳng định quan điểm: "Khoa
học và công nghệ, GD - ĐT phải được xem là quốc sách hàng đầu". Đảng còn

c
sản xuất, nó chủ yếu còn nhằm vào duy trì và cải thiện điều kiện và môi trường
sống của con người.
2.4.2. cuộc cách mạng KHCN rút ngắn nhanh chóng quá trình biến
KHCN thành lực lượng sản xuất, làm cho khoa học và công nghệ phục vụ sự
phát triển KT - XH càng nhanh hơn, tốt hơn. Lấy việc phát minh và ứng dụng
máy hơi nước làm ví dụ: Năm 1705, người ta đã phát minh ra máy hơi nước cớ
lớn, năm 1925 Stivenson m
ới phát minh ra xe lửa chạy bằng máy hơi nước. Từ
khi phát minh ra máy hơi nước đến khi nó được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất
và vận tải, phải tới hơn 100 năm. Việc phát minh ra động cơ đốt trong, quá trình
rút ngắn còn lại 80 năm. Còn việc tìm ra và ứng dụng năng lượng nguyên tử chỉ
cần đến 40 năm. Lại lấy ví dụ như máy điện thoại từ khi phát minh ra đến khi sử

dụng rộng rãi phải mất 60 năm, còn vô tuyến truyền hình phức tạp hơn rất
nhiều, nhưng quá trình đó chỉ có 14 năm. Máy tính điện tử chỉ trong vòng thời
gian ngắn (14 năm) đã trải qua 4 thế hệ. Có thể thấy rõ là, từ KHKT chuyển
thành sức sản xuất, đúng như một số nhà khoa học đã kết luận, có xu hướng phát
triển "Tăng tốc".
Tiểu luận triết học

14
2.4.3. Cách mạng KHCN trở thành nguyên tố trực tiếp quyết định sự
phát triển của lực lượng sản xuất XH của các nước tư bản sau chiến tranh.
Nó được uỷ nhiệm chủ yếu trên các mặt sau đây:
Các ngành công nghiệp mới dựa trên cơ sở KHKT công nghệ hiện đại ra
đời và phát triển rất nhanh, trở thành những ngành tiên phong, chủ đạo của sự
phát triển KT - XH.
Nhờ KHCN hiện đại, các ngành công nghi
ệp truyền thống phần lớn là các

ụng rộng rãi máy dệt không có thoi, đầu máy hơi
nước, sự phát triển rộng rãi của lò luyện thép điện và đúc gang liên hoàn, sự tăng
vọt của hệ thống máy công cụ điều khiển Tất cả những cái đó khiến cho các
Tiểu luận triết học

15
ngành công nghiệp cũ như dệt và xe lửa, gang thép đều đổi mới về chất lượng.
Sự phát triển của cuộc cách mạng KHCN mới và các ngành nghề cũ ngày càng
kết hợp chặt chẽ với nhau. Các ngành mới lấy công nghiệp truyền thống làm chỗ
dựa và thị trường chủ yếu cho sự phát triển của mình, các ngành cũ thì dựa vào
các ngành cải tạo kỹ thuật mà tăng thêm sức sống mớ
i. Sự kết hợp chặt chẽ 2
mặt này sẽ là xu thế quan trọng của sự phát triển KHKT từ nay về sau.
2.5. Quá trình đổi mới chính sách KHCN ở nước ta:
Quá trình đổi mới chính sách KHCN ở nước ta thực chất là quá trình phát
triển tư duy lý luận khoa học bằng những bổ sung thực tiễn vận động KT - XH.
Một quá trình hoàn thiện lý luận hướng tới chân lý khách quan: KHCN là động
lực phát triển KT - XH đất nước.
2.5.1. Các giai đoạ
n cải cách chính sách KHCN trong tiến trình cải cách
KT - XH.
Căn cứ bản chất nội dung từng chặng đường phát triển của chính sách
KHCN trong tương lai, chúng ta có thể phân chia quá trình cải cách trong chính
sách KH và CN ở nước ta theo 3 giai đoạn với những nội dung khá đặc trưng.
2.5.1.1. Giai đoạn I (1975 - 1980): Cải cách trong khuôn khổ Nhà nước
tổ chức mọi hoạt động KH và CN với một hệ thống chỉ huy tập trung.
Nội dung cải cách trong giai đoạn này ở nướ
c ta cũng như hàng loạt nước
XHCN là nhằm vào việc hoàn thiện hệ thống kế hoạch hoá, hình thành phương
thức kế hoạch hoá theo chương trình các mục tiêu sao cho Nhà nước có khả năng

2.5.2.1. Cơ cấu lại mạng lưới nghiên cứu và triển khai.
Mạng lưới nghiên c
ứu và triển khai được tổ chức như một sản phẩm của
nền kinh tế chỉ huy trước đây rõ ràng không đủ điều kiện đáp ứng những đòi hỏi
của việc tạo ưu thế cạnh tranh và phát triển XH trong 1 nền kinh tế thị trường vì
nhiều lý do khác nhau.
Mạng lưới nghiên cứu và triển khai được tổ chức theo đòi hỏi của nền KT
chỉ huy tr
ước đây đang tự nó chuyển đổi thích ứng với tiến trình cải cách, cần
phân tích tiến trình này để đề ra những giải pháp thích hợp.
Thực trạng mạng lưới nghiên cứu và triển khai đã được phân tích trong
các báo cáo của Viện nghiên cứu quản lý KH. Những nghiên cứu gần đây cho
thấy hiện nay cần được tập trung thảo luận để tìm ra giải pháp về các vấn đề sau.
2.5.2.1.1. Tổ chức nghiên cứu KH trong tr
ường đại học.
Theo mô hình tổ chức KH cũ trước đây, trong hệ thống trường đại học
không có các đơn vị nghiên cứu KH. Chế độ hợp đồng nghiên cứu KH được thiết
lập năm 1981 làm nảy sinh nhu cầu khách quan về thành lập các đơn vị nghiên
cứu KH có tư cách pháp nhân độc lập.
2.5.2.1.2. Tổ chức nghiên cứu công nghệ.

Các tổ chức nghiên cứu công nghệ vốn là những viện trực thuộc các bộ
"Sản xuất - Kinh doanh" hoạt động dưới sự "Chỉ huy trực tiếp" của Bộ, tồn tại
song song với các xí nghiệp thuộc Bộ. Các tổ chức này hiện đang đứng trước
những thử tách trước nhu cầu tồn tại và đang trải qua những diễn biến của trình
Tiểu luận triết học

17
tự sắp xếp mạng lưới nghiên cứu và triển khai trong quá trình chuyển đổi cơ chế
quản lý KT ở Việt Nam.

vật lý lượng tử ở cấp siêu cơ bản trên con đường tìm hiểu một cách thống nhất
sự phong phú đa dạng của tự nhiên.
2.6.5. Kỷ nguyên năng lượng mới- Với nguồn năng lượng tổng hợp
nhiệt hạch (Tìm ra năm 1991) là nguồn năng lượng sạch của tương lai, không
gây ô nhiễm môi trường cho nhân loại.
Tiểu luận triết học

18
2.6.6. Kỷ nguyên vũ trụ - Dựa trên những thành tựu mới nhất của công
nghệ năng lượng mới, công nghệ vật liệu, công nghệ chế tạo cấp vi - Điện tử
(vi mô) và tới đây là công nghệ vi - quang tử (siêu vi mô).
2.7. Mặt trái của cách mạng KHCN đối với sự phát triển của CNTB
hiện đại.
Cách mạng KHCN đã thực sự như một cứu cánh cho CNTB ngày nay,
nhưng mặt khác, nó cũ
ng đặt CNTB trước những vấn đề gay cấn.
2.7.1. Sự tiêu vong của các nghề nghiệp truyền thống và nạn thất
nghiệp cơ cấu.
Trong các nước tư bản phát triển, lực lượng lao động trực tiếp sản xuất
giảm đi theo đà áp dụng người máy, Rô bốt và hệ thống máy móc sản xuất và
điều khiển sản xuất tự động hoá. Do đó làm cho những nghề nghiệp truyền thống
đòi hỏi nhiều sức bắp, nhiều hao phí lao động sống ngày càng bị tiêu vong. Lao
động trí óc ngày càng được đề cao và phát triển, do đó làm nạn thất nghiệp cơ
cấu tăng lên.
2.7.2. Khoảng cách giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang
phát triển ngày càng lớn hơn.
Ngoài các quốc gia giàu có đang bước vào thời đại "hậu công nghiệp", 3/4
dân số của thế giới ngày nay đang phải vật l
ộn với sự nghèo khổ. Đại đa số các
nước đang phát triển có tốc độ phát triển chậm, CN lạc hậu, khả năng tham gia

các Viện nghiên cứu trên thế giới.
Với thế hệ sinh viên trẻ - Lực lượng nòng cốt của sự nghiệp CNH - HĐH
ngày nay, mỗi chúng ta cần phải tự mình trau dồi thêm kiến thức về KHCN nói
riêng và về mọi mặt nói chung không chỉ trong trường học mà còn cả trong thực
tiễn cuộc sống để có thể đưa nước ta vững bước đi lên con đường XHCN đúng
như mong muốn của Bác H
ồ vĩ đại "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay
không chính nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu". TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Một số vấn đề về chính sách phát triển KH và CN - Phó Tiến sĩ
Nguyễn Văn Thuỵ (Chủ biên) - Nxb Chính Trị Quốc gia Hà Nội, 1994
Từ trang 163 - 211
2. KH và CN lực lượng sản xuất hàng đầu - GS Tiến sĩ Vũ Đình Cự -
Nxb Chính Trị Quốc gia Hà Nội, 1996
Từ trang 9 - 17
3. Chủ nghĩa tư bản hiện đại (T.1) Khoa học - công nghệ và phát triển
kinh tế - Lê Văn San (Chủ biên ), Đào Lê Minh, Trần Quang Lâm - Nxb Chính
Trị
Quốc gia Hà Nội, 1995
Trang 20 - 79
Tiểu luận triết học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status