Tài liệu Tiểu luận “Vai trò của Nhà nước đối với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta” - Pdf 84

TRƯỜNG.........................................
KHOA............................................. TIỂU LUẬN
“Vai trò của Nhà nước đối
với quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hoá ở nước ta”

1
MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU.................................................................................................. 4
B. NỘI DUNG........................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ ...........................................................................................6

2.2.3.2. Thực trạng quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ.......................... 25
2.3. Chính sách huy động và sử dụng nguồn vốn............................................... 26
2.3.1. Thực trạng huy động vốn của Nhà nước....................................................... 26
2.3.2. Thực trạng vai trò của Nhà nước trong việc sử dụng và quản lý vốn........... 27
2.4. Quản lý quá trình công nghiệp hoá .............................................................. 29
2.4.1. Thực trạng vai trò quản lý của Nhà nước...................................................... 29
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI......32
3.1. Định hướng quá trình công nghiệp hoá ....................................................... 32
3.1.1. Xác định một cách toàn diện thích hợp hơn quá trình công nghiệp hoá ...... 32 2
3.1.2. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bước đi của công nghiệp
hoá hiện đại hoá....................................................................................................... 32
3.1.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm củng cố và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực............................................................................................................................ 33
3.1.4. Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực
cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ........................................... 36
3.2. Chính sách phát triể
n khoa học công nghệ.................................................. 39
3.2.1. Công nghệ nước ngoài .................................................................................. 39
3.2.2. Công nghệ và cán bộ khoa học trong nước................................................... 40
3.2.3. Một số giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước về KH - CN........ 42
3.3. Phát triển nguồn vốn...................................................................................... 42
3.3.1. Giải pháp huy động vốn ................................................................................ 42
3.3.2. Giải pháp sử dụng và quản lý vốn................................................................. 44
3.3.3. Đổi mới tổ chức bộ máy tài chính quốc gia và công tác kiểm toán kế toán ..... 45
3.4. Giải pháp trong vấn đề quản lý .................................................................... 48
3.4.1. Xác định đúng ph

cũng còn nhiều nước đang tiến hành công nghiệp hoá. Trong các giai đoạn phát
triển khác nhau của lịch sử loài người, công nghiệp hoá ở những nước khác nhau
có sự khác nhau v
ề mô hình, về thời gian thực hiện và do đó có sự khác nhau về
ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế xã hội. Nước ta bắt đầu công nghiệp hoá
từ năm 1960 theo đường lối do đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của đảng đề
ra. Đến nay sự nghiệp đó vẫn tiếp tục. Nhưng hoàn cảnh, điều kiện quốc tế và
trong nước, trình độ phát tri
ển kinh tế nước ta hiện nay khác nhiều so với năm
1960. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn phải giải quyết như: Công
nghiệp hoá có còn là tất yếu khách quan nữa không? Đánh giá như thế nào về thực
trạng công nghiệp hoá ở nước ta những năm qua? Mục tiêu, mô hình, nội dung
công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá ở nước ta hiện nay như thế nào?
S
ự phát triển của nền kinh tế trong hơn mười năm kể từ khi đổi mới đến nay
đã thu được nhiều kết quả đáng kể.Trong đó phải kể đến vai trò rất quan trọng của
Đảng và Nhà nước. Nhà nước là người hoạch định ra các chính sách chiến lược
phát triển kinh tế, phát huy tối đa những mặt tích cực, hạn chế tối thiểu những mặt
tiêu cực củ
a kinh tế thị trường. Mà quan trọng nhất là sự định hướng của nhà nước
để kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân đã lựa chọn.
Đây là điểm khác biệt giữa cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta và các nước khác.
Mặc dù Nhà nước ta đã phát huy vai trò của mình một cách có hiệu quả trong
sự nghiệp này, nhưng không phải là không có hạn chế. Đó là sự c
ồng kềnh của bộ
máy, chưa xóa bỏ được thói quen của cơ chế cũ, chưa thích nghi với cơ chế mới
nên hiệu quả chưa cao. Để nhận thức rõ hơn về vai trò của nhà nước trong phát
triển kinh tế nói chung và trong công nghiệp hoá hiện đại hoá nói riêng, trong bài
viết này, em xin chọn đề tài: “Vai trò của Nhà nước đối với quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta”.


CHƯƠNG 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ

1.1. Vai trò của nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá
1.1.1. Quan niệm công nghiệp hoá - Thực chất công nghiệp
Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng: “Công nghiệp hoálà
tạo đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (cho vùng, cho một nước) các
nhà máy công nghiệp”. Quan niệm này có những mặt chưa hợp lí:
Trước hết nó không cho thấy mục tiêu của quá trình cần thực hiện
Thứ hai, trong nội dung trình bày, quan niệm này gần như đồng nhất quá trình
công nghiệ
p hoá với quá trình phát triển công nghiệp. Và cũng không thể hiện
được tính lịch sử của quá trình công nghiệp hoá. Vì thế nó được sử dụng rất hạn
chế trong thực tiễn. Đặt biệt là trong sách báo của Liên Xô (trước đây) tồn tại một
định nghĩa phổ biến : “Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng đại cơ khí có khả
năng cải tạo cả nông nghiệp”. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành
trung tâm là chế
tạo máy. Quan niệm này được coi là hợp lí trong điều kiện của
Liên Xô thời kì đó. Nhưng sẽ là rất sai lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp
dụng cho tất cả các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay.
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc đã đưa ra định
nghĩa sau: “Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một
bộ phậ
n ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển
cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kĩ thuật hiện đại. Đặt điểm của cơ cấu
này là có một bộ phận chế biến sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có
khả năng bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế xã hộ
i”.
Hiện nay ở nước ta, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa được coi là nhiệm vụ

kỉ 18 được thực hiện đầu tiên ở nước Anh mà nội dung chủ yếu là thay thế lao
động thủ công bằng lao động cơ khí hoá. Lần thứ hai với tên gọi là cuộc cách mạng
khoa học công nghệ hiện đại được bắt đầu vào giữa thế kỉ 20 mà nội dung ch
ủ yếu
của nó không chỉ dừng lại ở tính chất hiện đại của các yếu tố tư liệu sản xuất, mà
còn ở kĩ thuật công nghệ sản xuất hiện đại, phương pháp sản xuất tiên tiến... Hiện
nay cuộc cách mạng khoa học và công nghệ có nhiều nội dung phong phú, đa dạng
trong đó có thể chỉ ra những nội dung nổi bật sau đây:
Môt là, cách mạng về ph
ương pháp sản xuất: Đó là tự động hoá. Ngoài phạm
vi tự động trước đây, hiện nay tự động hoá còn bao gồm cả việc sử dụng rộng rãi
người máy thay thế cho con người để điều khiển quá trình sản xuất.
Hai là, cách mạng về năng lượng: Bên cạnh những năng lượng truyền thống
mà con người đã sử dụng trước đây như nhiệt điệ
n, thuỷ điện, thì ngày nay con
người ngày càng khám phá ra nhiều năng lượng mới và sử dụng chúng rộng rãi
trong sản xuất như: Năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời...
Ba là, cách mạng về vật liệu mới: Ngày nay ngoài việc sử dụng các vật liệu tự
nhiên, con người ngày càng tạo ra nhiều vật liệu nhân tạo mới thay thế hiệu quả
cho các vật liệu tự nhiên.
Bốn là, cách mạng v
ề công nghệ sinh học: Các thành tựu của cuộc cách mạng
này được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế , hoá chất
và nhiều lĩnh vực khác.
Năm là, cách mạng về điện tử tin học: Đây là một lĩnh vực mà hiện nay con
người đang đặc biệt quan tâm nhất là máy tính điện tử.
Đất nước ta tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện thế giới đ
ã trải qua hai
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ như vậy, vì thế nếu chỉ công nghiệp hoá
nền kinh tế thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, không thể

Ví dụ: chính phủ
Malaixia bằng việc thực hiện “mục tiêu là xoá đói giảm nghèo
tiến tới xoá bỏ nghèo và cấu trúc lại nền kinh tế xã hội đã giảm tỉ lệ người sống
dưới mức nghèo khổ từ 49,3% (năm 1970) xuống 17% (1990) và 13,5% (1993).
Nhà nước điều chỉnh kịp thời việc sử dụng các thành phần kinh tế, nhấn
mạnh việc sử dụng các thành phần kinh tế nhưng các doanh nghiệp nhà nước v
ẫn
giữ vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Nhà nước xây
dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đầu tư thích đáng cho giáo dục đào tạo,
sử dụng hiệu quả nguồn lao động đã được đào tạo. Tại INĐÔNÊXIA, chí phí của
nhà nước cho giáo dục và đào tạo so với tổng nguồn chi tăng từ 9% (1969 - 1974)
lên 17,6% (1984 - 1989) và 21% (1990 - 1995).
Từ đó cho ta th
ấy vai trò hết sức quan trọng của nhà nước trong sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá.

1.2. Tất yếu khách quan vai trò của nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá
1.2.1. Vai trò của nhà nước trong việc định hướng cho quá trình công nghiệp
hoá
Công nghiệp hoá là một quá trình diễn ra liên tục với những nội dung, bước
đi thích hợp cho từng thời kì, phù hợp với nền kinh tế. Nước ta cũng như nền kinh
tế thế giới. Muốn thự
c hiện thành công công nghiệp hoá hiện đại hoá thì phải có
một phương hướng cụ thể chiến lược đúng đắn thích hợp. Sau khi xác định được
mục tiêu, quan điểm nội dung của công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế nước 7
ta thì một vấn đề không kém quan trọng là đề ra những bước đi để đạt đến mục tiêu
đó. Những bước đi trong công nghiệp hoá có thể nêu ra đại thể cho mỗi thời kì

ng kê toán và kiểm toán, chế độ tài chính và bao cáo tài chính công khai
chính xác để quản lý thống nhất.
Nhà nước phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu và định hướng đúng đắn đã được
xác định, vì quá trình công nghiệp hoá chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp cả
về chiều ngang và chiều dọc.
Nhà nước tổ chức việc kiểm tra giám sát quá trình công nghiệp hoá để phát
hiện kịp thời những sai sót lệch lạc mất cân đối. Quyết định đúng đắn việc điều
chỉnh quá trình thực hiện công nghiệp hoá là việc làm cần thiết và thường xuyên để
cân đối lại hoàn chỉnh nâng cao chất lượng hoạt động của các ngành các địa
phương và cơ sở.
Nhà nước đảm bảo đồng bộ các điều kiện chủ yếu để thực hi
ện thành công
công nghiệp hoá. Những quan điểm phương hướng bước đi của công nghiệp hoá
có được thực hiện đầy đủ đúng đắn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các điều
kiện chủ yếu có được đảm bảo hay không. Nếu không có đủ các điều kiện chủ yếu
thì quá trình công nghiệp hoá sẽ không thể thành công. Từ đó ta thấy vai trò hết 8
sức quan trọng của nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nền
kinh tế.

1.2.2. Vai trò của nhà nước trong việc phát triển khoa học công nghệ
Từ trước đến nay đảng và nhà nước ta luôn xác định khoa học và công nghệ
có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế.
Nghị quyết hội nghị trung ương lần thứ VII (khoá VII) đã coi công nghệ là nền
tảng của công nghiệp hoá. Theo những đánh giá c
ủa bộ khoa học công nghệ và môi
trường thì trình độ khoa học và công nghệ ở nước ta lạc hậu nhiều thế hệ so với thế

thiết bị mới cần thiết cho sản xuất tạo điều kiện thuận lợi trong xuất nhập khẩu,
nhất là xuất khẩu những sản phẩm do cơ sở mình sản xuất, nhập khẩu máy móc
thiết bị tiên tiến của nước ngoài, đưa cán bộ ra nước ngoài để tiếp cậ
n thị trường,
nghiên cứu học tập công nghệ mới. Chính sách mở cửa với những điều kiện ưu đãi
trong việc đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện cho các đầu tư nước ngoài tìm đến
liên doanh, đem theo những máy móc thiết bị phụ tùng hiện đại, những chuyên gia
kĩ thuật, chuyên gia quản lý tiên tiến của thế giới. Việc đó đã tạo
điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tiếp cận và tiếp nhận công nghệ tiên tiến
hơn nhiều so với công nghệ hiện có trong nước. Nhà nước cũng là nơi ban hành 9
những chính sách, cơ chế ưu đãi làm động lực kích thích cán bộ hoạt động trong
lĩnh vực khoa học công nghệ trong nước, kích thích phát huy tính sáng tạo nghiên
cứu triển khai khoa học công nghệ mới phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước.
1.2.3. Nhà nước với vai trò phát triển nguồn vốn
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không muốn
nói là quan trọng nhất đối với công nghiệ
p hoá hiện đại hoá cũng như đối với sản
xuất kinh doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vấn đề huy động vốn cho quá
trình công nghiệp hoá có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nước ta. Trước hết
là huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nước. Đây là nguồn vốn có tính quyết
định, là nhân tố nội lực. Nguồn vốn nội bộ đượ
c tạo ra từ sự liên doanh liên kết
giữa các ngành, các lĩnh vực, vùng, miền của nền kinh tế đất nước, từ sự phát triển
mạnh mẽ của các công ty cổ phần, thông qua việc huy động tiền nhàn rỗi của dân
cư, của các cơ sở kinh tế, các tổ chức đoàn thể, các khoản thuế nộp ngân sách của


1.2.4. Vai trò của nhà nước trong quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá 10
Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá chỉ có thể thành công khi được thực
hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Công nghiệp hoá hiện đại
hoá là một quá trình lâu dài và phức tạp. Nó tuân theo quy luật và tính quy luật của
các quan hệ cung cầu trên thị trường. Điều đó có nghĩa là cơ chế thị trường và các
bộ phận cấu thành: Cung cầu, giá cả, cạnh tranh sẽ quyết định quá trình công
nghiệp hoá, quy
ết định các phương án phát triển lựa chọn đầu tư... Nhưng cơ chế
thị trường có những khuyết tật và hạn chế riêng của nó, cho nên nếu quá trình công
nghiệp hoá lệ thuộc vào cơ chế thị trường thì sẽ không đạt được những mục tiêu
công bằng xã hội, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường. Thực tế khách
quan này đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nướ
c. Sự quản lý của nhà nước là một
bộ phận không thể thiếu của cơ chế quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá.
Nhà nước quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá phải là nhà nước
của dân do dân. Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình thông qua các công
cụ chủ yếu như: Định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống luật pháp, các chính
sách kinh tế xã hội, các quỹ quốc gia... Thực hi
ện công nghiệp hoá hiện đại hoá
trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước có vai trò
quản lý vĩ mô sau:
Một là, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá đảm bảo sự ổn định về chính trị xã hội, thiết l


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA

2.1. Định hướng cho quá trình công nghiệp hoá
2.1.1. Việc đề ra muc tiêu chiến lược kế hoạch bước đi của công nghiệp hoá
Thực hiện công nghiệp hoá nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bản về kinh
tế, trên cơ sở đó góp phần cải thiện đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đảm
bảo công bằng xã hội. Nhưng việc xác định phương hướng bước đ
i của công
nghiệp hoá hiện nay còn nhiều thiếu xót bất cập. Tuy nhà nước đã ưu tiên đầu tư
cho phát triển kinh tế nhưng chưa giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa tích luỹ
và tiêu dùng. Các chính sách kinh tế của nhà nước chưa gắn bó hữu cơ với các
chính sách xã hội. Chính sách xoá đói giảm nghèo đã được triển khai nhưng
phương pháp thực hiện chưa hữu hiệu, tốc độ còn chậ
m. Phương hướng và bước đi
thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá chưa gắn bó chặt chẽ với phương hướng và
bước đi thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chưa định hướng phát triển các
ngành kinh tế mũi nhọn để phát huy có hiệu quả nguồn lực và lợi thế của đất nước.
Định hướng phát triển vẫn còn khá dàn trải, chưa đề
u cho các ngành, chưa
khai thác và động viên có hiệu quả mọi nguồn lực có sẵn trong nước. Tuy nhà
nước ta đã cố gắng tích cực tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài phù hợp với khả
năng tiếp thu, quản lý và sử dụng công nghệ, nhân lực nhưng không có chính sách

khẩu chưa phát triển, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cơ bản thiết yếu còn ít
ỏi nhỏ bé. Ngành cơ khí chưa hướng vào sản xuất công cụ thiết bị phục vụ sản xuất
nông lâm ngư nghiệp, thiết bị phục vụ công nghiệp chế biế
n nông lâm thuỷ sản...
Nhà nước chưa chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bước đi
của công nghiệp hoá hiện đaị hoá. Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp vẫn còn ở
mức cao, tỷ suất hàng hoá nông lâm sản thấp, tỷ trọng hàng xuất khẩu nhỏ bé manh
mún.
Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP còn thấp. Công nghiệp chế
biến nông lâm hải sản và công nghi
ệp chế biến hàng tiêu dùng để xuất khẩu phát
triển chậm

2.1.3. Tạo nguồn lực cho tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước
Chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới rất quan trọng đẩy mạnh công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Để th
ực hiện được điều đó, Hội nghị lần thứ II Ban
chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định: “Cùng với giáo dục đào tạo,
khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội,
là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội. Vì thế cần phải “phát huy nguồn lự
c con người, yếu tố phát triển
mạnh và bền vững”.
Kinh nghiệm cho thấy, hiện đại hoá nền kinh tế ở các nước phát triển, thực
chất là thay đổi cơ cấu công nghiệp dựa trên các ngành công nghệ cao, trong đó
những công nghệ cũ, tiêu hao nhiều tài nguyên và lao động, dựa trên nền tảng điện
cơ khí, được thay thế bằng ngành công nghiệp cao cấp, dựa trên nền tảng cơ điện
t

học, tuổi bình quân tiến sĩ là 52,8 ; phó giáo sư là 56,4 ; cấp viện trưởng là 55 ;
Cấp viện phó là 50. Như vậy đến năm 2000 hơn 80% số người có học hàm, học vị
sẽ đế
n tuổi về hưu. Từ đó gây nên tình trạng hẫng hụt cán bộ khoa học kế cận.
Nhìn vào độ tuổi của đội ngũ cán bộ giáo dục tại các trường đại học và cao đẳng ở
nước ta có thể thấy một thực trạng là sự già hoá quá nhanh, dẫn tới sự hụt hẫng cán
bộ giáo dục vào cuối thế kỉ XX, nhất là cán bộ đầu đàn.
Thứ hai, việc
đầu tư cho khoa học và công nghệ cũng như giáo dục và đào
tạo chưa đủ để phát triển nguồn lực. Chúng ta muốn mau chóng trở thành một
nước công nghiệp, muốn hội nhập với thế giới, phát triển giáo dục và đào tạo, tạo
nguồn nhân lực, nhân tài, phải luôn được coi là quốc sách hàng đầu. Đảng và chính
phủ ta đã có những cố gắng lớn tăng nguồn đầu tư tài chính cho giáo dụ
c và đào
tạo. Tỉ trọng ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tăng hàng năm và
tăng nhanh chóng những năm gần đây, từ 5,83% năm 1986 với mức chi 120 tỉ
đồng, đến năm 1990 tăng lên 8,9% với mức chi 9186 tỉ và năm 1996 là 10,08% với
mức chi là 70000 tỉ. Tuy vậy tỉ lệ này còn thấp so với các nước trên thế giới và khu
vực.
Thứ ba, cơ cấu nguồn nhân lực của nước ta hiệ
n nay chưa hợp lý: 1 đại học/
1,6 trung học chuyên nghiệp/ 3 công nhân. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo ở nước ta
mới chỉ đạt 10% so với tổng số lao động là quá thấp. Việc phân bố cán bộ theo
ngành nghề cũng còn rất bất cập. Theo con số của tổng cục thống kê năm 1997 cơ
cấu cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ tiến sĩ và phó tiến sĩ theo các ngành
khoa học như
sau: Tự nhiên: 38%; xã hội và nhân văn: 20%; công nghệ: 27%;
dược: 8%; nông nghiệp: 7%. Hơn thế nữa đội ngũ này nằm trong các cơ quan trung
ương tới 94,4%, ở các cơ quan địa phương chỉ 5,4%. Còn trong các doanh nghiệp,
cán bộ đại học và cao đẳng chỉ chiếm 32% so với Hàn Quốc là 48%, Nhật Bản là

trình độ quốc tế”
Kinh nghiệm của thế giới cho thấy, những nước kinh tế lạc hậu, tài nguyên
thiên nhiên có hạn, vẫn có thể vươn nhanh trên con đường hiện đại hoá nếu có một
nền giáo dục đại học phát triển. Khi tỉ lệ dân cư có trình độ đại học cao thì khả
năng tiếp thu, nắm bắt và vận dụng những thành t
ựu mới nhất của nhân loại về kĩ
thuật, công nghệ rất hiệu quả.
Trong hoàn cảnh hiện nay nước ta còn nghèo, chúng ta chưa đủ lực để thực
hiện đồng loạt những yêu cầu xã hội đòi hỏi, do đó phải lựa chọn sự ưu tiên để tiến
từng bước vững chắc. Sự ưu tiên này phải thể hiện trong từng ngành và từng cấp.
Ch
ẳng hạn, nhiêm vụ của giáo dục là góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và
hoàn thiện nhân cách, cả hai nhiệm vụ đó đều quan trọng, nhưng nguy cơ tụt hậu
về kinh tế ngày càng xa của đất nước đòi hỏi giáo dục phải lấy nhiệm vụ thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội làm ưu tiên. Từ đó, trong các chủ trương của từng cấp học,
bậc học, ngành họ
c, quan hệ giữa các ngành học, trong đầu tư, xây dựng đội ngũ
phải quán triệt sự lựa chọn ưu tiên này.
Những năm qua, chúng ta đã nhận thức được vấn đề này và có những bước
điều chỉnh, do đó cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân nước ta đã có những đổi mới
nhất định. Giáo dục đại học ở nước ta gồm hai cấp: Cấ
p đại học và sau đại học.
Cấp đại học chia làm hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học, cấp sau
đại học có hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Cấp sau đại học trước
đây đào tạo ba trình độ: Thạc sĩ, phó tiến sĩ và tiến sĩ, nhưng cách tổ chức này sẽ
kéo dài thời gian học tập của học sinh tại trường, thời gian ph
ục vụ xã hội và cống
hiến cho khoa học sẽ rút ngắn, do vậy, cấp sau đại học bỏ bớt trình độ phó tiến sĩ,
chỉ còn hai trình độ là thạc sĩ và tiến sĩ. Sự điều chỉnh đó là phù hợp, tạo ra sự
thống nhất về hệ thống văn bằng giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status