Tài liệu Đề tài "Lạm phát và các giải pháp chống lạm phát ở nước ta hiện nay" - Pdf 92

z
 LUẬN VĂN
Đề Tài : Lạm phát và các giải pháp
chống lạm phát ở nước ta hiện nay

1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay
gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh

là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian".
- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát. Nó chính là GNP danh
nghĩa/GNP thực tế. Trong thực tế nó được thay thế bằng tỷ số giá tiêu dùng
hoặc chỉ số giá bán buôn I
p
= ip . d
d: chỉ số giá cả từng loại nhómhàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng.
1.2. Phân loại lạm phát
- Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát
dưới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối.
Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao
động ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất
tiền gửi không cao, không xảy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá
với số lượng lớn…
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý cho người lao động chỉ trông
chờ vào thu nhập. Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoảng thu
nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.

3
- Lạm phát 2 con số : Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh
với tỷ lệ 2 con số 1 năm. Ở mức 2 con số, lạm phát làm cho giá cả chung tăng
lên nhah chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá.
Lúc này người dâ tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ
cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ
gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao
vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông
tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực
tế của người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin

Tăng cung tiền có thể đạt được bằng 2 cách:
- Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp và điều kiện
kinh doanh tốt), hoặc
- Các ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng.
Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi
phí. Về mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá và dịch vụ
tăng. Nếu cung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽ được bù đắp
bằng việc tăng giá. Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng
sau đó 2-3 năm. In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát
nghiêm trọng.
Ví dụ:
Năm 1966-1967, chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho
những chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ
3% (năm 1967) đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức
cân bằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định. Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P
cũng không đổi. Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ
tăng lên với tỷ lệ tương ứng. Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Đây là lý
do tại sao ngân hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này.
b) Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo)

5
Tăng cung tiền là nguyên nhân duy nhất dẫn đến việc tăng cầu về hàng
hoá và dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những
nhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3
năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được
mở rộng hoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì
nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự gia tăng của cầu. Sự mất cân đối đó
sẽ được giá cả lấp đầy. Lạm phát do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo
được ra đời từ đó. Chẳng hạn ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc là một chỉ số

Chỉ tiêu khả năng cung ứng
- Khi sản lượng vượt tiềm năng
đường AS có độ dốc lớn nên khi cầu
tăng mạnh, AD - AD
1
, giá cả tăng P
0
-
P
1
Chi phí tăng đẩy giá lên cao
- Cầu không đổi, giá cả tăng sản
lượng giảm xuống Y
0
- Y
1

AS
1
- AS
2

ASS
L
ASRL

P
P
1
P
0
y*

y
0
y

E
1
ASLR

AD

ASSR
1
ASSR
2
y
1
P
2
P
Trong lạm phát dự kiến AS & AD dịch chuyển lên trên cùng, độ sản
lượng vẫn giữ nguyên, giá cả tăng lên theo dự kiến.
e) Các nguyên nhân khác
Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh nghĩa
tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt.
Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh,
tăng mức độ tiền gửi vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường
để mua về mọi loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu
trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao.
Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có
thể in thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên
nhân gây ra lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy
sinh, đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt.
Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy
nhiên, chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay dân thông qua tín
phiếu. Lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm
phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc lẫn
lãi) sẽ lớn đến mức cần phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát
mạnh là điều chắc chắn.
Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của Nhà nước, chính sách
thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý. Các chủ thể kinh doanh làm
tăng chi phí đầu vào, nguyên nhân do nước ngoài.
1.4. Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác
nhau đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế

8
mà lạm phát được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác

Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá.
Khi lạm phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của
giá cả làm cho thị trường bị rối loạn. Người ta khó phân biệt được những
doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời lạm phát làm cho nhà nước thiếu
vốn, do đó nhà nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho
phúc lợi xã hội bị cắt giảm… các ngành, các lĩnh vực dự định được Chính phủ
đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà
nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã
hội sẽ không có điều kiện thực hiện được.
2. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
2.1. Thực trạng lạm phát của Việt Nam
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công tác quản lý kinh
tế vĩ mô là việc tìm cách kiềm chế lạm phát. Thực ra không phải 10 gần đây
lạm phát mới xuất hiện ở Việt Nam mà từ năm 1980 về trước, lạm phát cũng
đã tồn tại, chỉ có điều biểu hiện của nó không rõ ràng, các nghị quyết của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đại hội V trở về trước không sử dụng khái niệm
lạm phát mà chỉ dùng cụm từ "Chênh lệch giữa thu và chi giữa hàng và
tiền…"; "Thị trường vật giá không ổn định…"
Lạm phát ở thời kỳ này là "lạm phát ngầm" nhưng chỉ số giá cả ở thị
trường tự do thì tăng cao, vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng cũng như
thu nhập quốc dân.
Sau một thời kỳ "ủ bệnh" đã bột phát thành lạm phát công khai với mức
lạm phát phi mã cũng tăng giá ba chữ số. Đảng đã kịp thời nhận định tình
hình này.
"Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính
sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang
nặng tính bao cấp và một thời gian dài vượt qua nguồn thu. Việc sử dụng vốn
vay và viện trợ kém hiệu quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách
là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát trầm trọng".


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status