TÌNH HÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NƯỚC TA HIỆN NAY - Pdf 26

KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NƯỚC TA HIỆN NAY: TÌNH HÌNH VÀ CÁC
GIẢI PHÁP
Tác giả: PGS-TSKH Võ Đại Lược
Sự phát triển kinh tế đối ngoại nước ta trong thời gian vừa qua đã có ý nghĩa
hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế của
nước ta. Nước ta đã đạt được nhiều thành tựu cả về tăng trưởng xuất nhập
khẩu, thu hút vốn nước ngoài và phát triển du lịch. Bài viết này sẽ đề cập
đến hai vấn đề: phân tích hiện trạng và vấn đề; nêu ra các quan điểm phát
triển và giải pháp.
I. Hiện trạng và vấn đề
Việc đổi mới chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đã là cơ sở cho
những thành công trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, nhưng đồng thời thực
tiễn những năm vừa qua cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phân tích lý giải.
Dưới đây xin nêu ra những điểm chính của tình hình và một số vấn đề có thể
là cấp bách.
1. Kinh tế đối ngoại đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong cả thập kỷ
90, mặc dù có sự giảm sút tốc độ từ năm 1999
Lý do cho sự tăng trưởng cao của các lĩnh vực kinh tế đối ngoại trên có thể
là tương đối rõ, nhưng lý do cho sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế đối
ngoại trong những năm gần đây còn có thể có những ý kiến khác nhau. Đúng
là có lý do khách quan do suy giảm kinh tế toàn cầu và khu vực, do giá hàng
xuất khẩu của ta giảm nghiêm trọng... Tuy nhiên, Trung Quốc cũng chịu tác
động bởi những hoàn cảnh khách quan bên ngoài như nước ta nhưng cả giá
trị xuất khẩu lẫn FDI vào Trung Quốc trong vài năm nay vẫn có mức tăng
trưởng cao. Do vậy, việc giảm tăng trưởng của cả giá trị xuất khẩu lẫn FDI
vào nước ta trong thời gian qua không chỉ do nguyên nhân khách quan, mà
có thể lại do những nguyên nhân chủ quan là chính.
Trong các nguyên nhân chủ quan đó, có thể kể ra các nguyên nhân chính sau
đây:
Trước hết, đó là tình trạng bảo hộ mậu dịch không giảm đáng kể mà còn gia
tăng. Mức thuế suất nhập khẩu bình quân đã được giảm từ trên 16% xuống

nước ngoài của ta hiện ở mức cao nhất trong khu vực, là 50%, trong khi ở
Inđônêxia là 30%, ở Thái Lan là 37%, ở Trung Quốc là 45%. Mức thuế thu
nhập cao này đã làm cho người nước ngoài không muốn làm việc ở Việt
Nam.
Tính chung chi phí lao động của nước ta hiện nay tương tự với Indonexia, và
thấp hơn các nước ASEAN-4, nhưng mức thấp này đã giảm dần.
Giá các dịch vụ như liên lạc, viễn thông, hàng không, điện, nước... đều ở
mức cao: chi phí điện cao hơn 4 nước ASEAN: Xingapo, Malaixia, Thái
Lan, Inđônêxia; giá nước cao hơn Philipin và gần ngang với Malaixia, Thái
Lan; chi phí liên lạc, viễn thông vào loại cao nhất khu vực; chi phí vận tải
hàng không, đường biển cao hơn cả Trung Quốc.
Công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam khá lạc hậu so
với các quốc gia khác trong khu vực. Ví dụ, xí nghiệp sản xuất xi măng Sao
Mai do nước ngoài đầu tư sản xuất ở nước ta 1 tấn xi măng chi phí 12 USD,
trong khi các xí nghiệp sản xuất xi măng của ta chi phí 26 USD.
Chi phí sản xuất của ta cao như vậy, nên khả năng cạnh tranh của hàng Việt
Nam bị giảm thiểu cả ở thị trường trong lẫn ngoài nước.
Thứ ba, chính sách tiền tệ và tín dụng hỗ trợ hoạt động kinh tế đối ngoại
yếu.
Tỷ giá giữa đồng VN với USD và các đồng tiền khác tuy đã được nhiều lần
điều chỉnh kể từ 1996, nhưng hiện vẫn còn cao. Theo một số chuyên gia
nước ngoài, mức cao này khoảng trên 10%, và đã tác động tiêu cực đến hàng
xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường ASEAN, Nhật Bản và Liên minh
châu Âu, trừ Trung Quốc và Mỹ. Đồng VN cao giá và chưa do thị trường
đích thực xác định đã tác động xấu không chỉ tới xuất khẩu mà cả tới FDI và
du lịch. Đồng tiền Việt Nam cho đến nay, chưa có thể chuyển đổi tự do.
Trong khi tổng giá trị xuất nhập khẩu của nước ta đã ngang bằng tổng GDP,
thì đây là một vấn đề rất bất lợi. Buôn bán quốc tế lớn đến thế, mà đồng tiền
không chuyển đổi tự do được, có nghĩa là các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu của ta phải chịu các chi phí chuyển đổi tiền với thủ tục phiền hà và tốn

Việc xuất khẩu hàng nông phẩm vào thị trường Mỹ như cá basa và tôm của
ta gần đây lại còn bị các nhà nuôi cá tôm Mỹ phản ứng và gây rắc rối nhằm
bảo vệ thị trường sản xuất của họ.
Vấn đề là thị trường thế giới cho đến nay gần như đã bão hòa, và sản phẩm
nào cũng đều đã có các ông chủ chiếm giữ thị phần. Nước ta là một thị
trường mới nổi, nên ta sản xuất thêm nhiều gạo, cà phê, cá basa..., thì người
khác phải giảm sản xuất những mặt hàng này, nếu không sẽ dẫn tới tình
trạng dư thừa, cung vượt cầu, giá cả sẽ hạ, hoặc dẫn tới những giải pháp bảo
hộ thương mại. Một trong các lý do chủ yếu làm cho giá gạo và cà phê giảm
liên tục là nước ta đã gia tăng xuất khẩu gạo từ 2,0 triệu tấn năm 1995 lên tới
trên 4 triệu tấn năm 1999 và từ 248 ngàn tấn cà phê năm1995 lên tới trên
500 ngàn tấn năm 2000. Cung về gạo và cà phê đã vượt cầu, do đó giá liên
tục giảm. Đứng trước tình trạng giá gạo và cà phê giảm, những người sản
xuất gạo và cà phê không có cách gì chống đỡ, ngoài việc phải thu hẹp sản
xuất. ở đây cung cầu của thị trường đã điều tiết giá cả và sản xuất. Người
sản xuất buộc phải thu hẹp sản xuất khi giá cả thị trường đã thấp hơn chi phí
sản xuất.
Trường hợp cá basa của ta xuất khẩu vào Mỹ lại có một sự khác biệt là thị
trường Mỹ có cả người tiêu dùng cá basa và người sản xuất cá da trơn tương
tự. Do cá basa của ta rẻ hơn, thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Mỹ với thị
phần khoảng 2% đã đặt những người nuôi cá basa ở Mỹ trước nguy cơ phá
sản. Trong trường hợp này người dân Mỹ nuôi cá đã kiện lên chính phủ Mỹ
và có thể có ba khả năng giải quyết: Nếu Việt Nam bán phá giá thì phải chịu
mức thuế 190%; Nếu không, Chính phủ Mỹ có thể áp dụng biện pháp hạn
chế định lượng bằng cô-ta nhập khẩu cá basa; Hoặc Mỹ sẽ tăng thuế nhập
khẩu tạm thời, có thời hạn lên đến mức đủ bảo vệ những người nuôi cá. Cuối
cùng là Mỹ đã tăng thuế nhập khẩu cá basa Việt Nam vào Mỹ.
Từ hai trường hợp trên đây ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu tìm hiểu thị
trường, xác định dung lượng các thị trường, các giới hạn của thị trường và
khả năng thâm nhập tối đa của hàng Việt Nam vào các thị trường đó là một

và cả người Việt Nam kinh doanh đối ngoại sẽ nản lòng vì việc chuyển đổi
ngoại tệ khó khăn, tốn kém. Các vấn đề về tỷ giá, thuế quan, hải quan,
những quy chế về đầu tư nước ngoài, chính sách xuất nhập cảnh... cần được
xem xét lại và đổi mới thích hợp với những điều kiện mới của khu vực kinh
tế đối ngoại đã gia tăng vượt trội.
Kinh tế đối ngoại và đối nội thực chất chỉ là hai mặt của một nền kinh tế, vì
vậy những thay đổi về kinh tế đối ngoại đòi hỏi kinh tế đối nội phải thay đổi
theo. Chính sự tiến triển không kịp của kinh tế đối nội sẽ cản trở kinh tế đối
ngoại phát triển và ngược lại. Nước ta đang ở thời điểm kinh tế đối nội
không phát triển kịp, cản trở kinh tế đối ngoại - luật pháp thay đổi chậm, các
công ty chậm đổi mới và yếu kém, điều hành của bộ máy quản lý kém hiệu
lực...
4. Đội ngũ các doanh nghiệp hoạt động kinh tế đối ngoại đã tăng cả về
số lượng và chất lượng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay
Trước những năm 1990 các doanh nghiệp hoạt động kinh tế đối ngoại chỉ có
mấy trăm công ty xuất nhập khẩu và du lịch quốc tế và tất cả đều là của quốc
doanh. Nay đội ngũ doanh nghiệp hoạt động kinh tế đối ngoại đã lên đến
hàng nghìn gồm cả quốc doanh, tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. Đó là một bước tiến to lớn cần phải khẳng định.
Đội ngũ các doanh nghiệp hoạt động kinh tế đối ngoại có một vai trò rất
quan trọng, nếu không nói là quyết định đối với sự phát triển kinh tế đất
nước. Thực tế thế giới cho thấy các doanh nghiệp này hoạt động rất đa dạng
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, từ sản xuất, thương mại dịch vụ đến bảo
hiểm... Chính tính đa dạng này mới đảm bảo cho hoạt động kinh tế đối ngoại
có hiệu quả. Một doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu muốn có hiệu quả cần
phải vay mượn vốn nước ngoài (vì vốn trong nước không đủ và nhiều khi
quá đắt), cần phải có dịch vụ tư vấn nước ngoài (vì tư vấn trong nước chưa
đủ trình độ), cần chuyển đổi ngoại tệ, cần bảo hiểm rủi ro, cần thuê mướn
chuyên gia, cần marketing quốc tế... Ở nước ta các doanh nghiệp hoạt động

hoạt động xuất nhập khẩu và liên doanh liên kết với nước ngoài.
Có thể nói, nếu các công ty hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta vẫn chủ
yếu là các công ty quốc doanh, không hoạt động xuyên quốc gia, không đa
dạng hóa các hoạt động... thì lợi thế so sánh của các công ty này trên thị
trường quốc tế chắc chắn sẽ khó tránh khỏi thua kém các công ty xuyên
quốc gia của các nước khác.
II. Các quan điểm và giải pháp
1. Các quan hệ kinh tế đối ngoại là quan hệ thị trường
Các quan hệ bên trong nền kinh tế nước ta hiện nay là quan hệ thị trường,
còn các quan hệ phi thị trường thì rất ít và có lẽ chỉ tồn tại trong viện trợ
ODA, viện trợ không hoàn lại, tài trợ của các loại quỹ tư nhân... Tính chất
thị trường đậm nét của các quan hệ kinh tế quốc tế đã buộc các quan hệ kinh
tế đối ngoại của mọi quốc gia trước hết phải tuân thủ các nguyên tắc của thị
trường: sản xuất lưu thông phải theo cung cầu của thị trường thế giới; tỷ giá
giữa các đồng tiền cũng do thị trường thế giới quy định, giá cả của các hàng
hoá và dịch vụ lưu thông trên thị trường thế giới là giá cả thị trường thế giới;
giá chứng khoán, công trái... cũng phải do thị trường quy định. Chính phủ
quốc gia có thể điều tiết, có khi khá chặt chẽ, các quan hệ kinh tế bên trong
của một quốc gia, nhưng chỉ có thể điều tiết một cách rất hạn chế những
quan hệ kinh tế quốc tế, chúng có một không gian rộng rãi hơn để tự do vận
động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status