TƯ TƯỞNG của lê NIN về tôn GIÁO TRONG tác PHẨM THÁI độ của ĐẢNG CÔNG NHÂN đối với tôn GIÁO ý NGHĨA đối với VIỆC GIẢI QUYẾT vấn đề tôn GIÁO ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 37

MỘT SỐ TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA V.I.LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
TRONG TÁC PHẨM “VỀ THÁI ĐỘ CỦA ĐẢNG CÔNG NHÂN ĐỐI VỚI
TÔN GIÁO”. Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Trong quá trình đấu tranh, xây dựng thế giới quan mới, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã không thể không đấu tranh với các trào lưu tư tưởng sai trái
đương thời, trong đó có tư tưởng về tôn giáo. Chính trong quá trình đó, với việc
phát hiện ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các ông
đã dùng học thuyết của mình để giải thích tôn giáo; đề cập đến các vấn đề cơ bản
về nguồn gốc, bản chất, tính chất, chức năng của tôn giáo; lập trường, phương
pháp giải quyết vấn đề tôn giáo của giai cấp vô sản; phê phán các trào lưu tư
tưởng duy tâm tôn giáo và các trào lưu tư tưởng sai lầm khác. Song do nhiều lý
do, vấn đề tôn giáo chủ yếu chỉ được các ông nghiên cứu ở góc độ thế giới quan
gắn với đấu tranh giai cấp, còn góc độ văn hóa, đạo đức của tôn giáo chưa được
các ông đề cập nhiều.
Đến đầu thế kỷ XX, điều kiện lịch sử thế giới nói chung và ở nước Nga
nói riêng đã có sự phát triển. Giai đoạn này, chủ nghĩa tư bản phát triển thành đế
quốc chủ nghĩa, vấn đề giành chính quyền đã đặt ra trực tiếp. Ở Nga, “Giáo hội ở
trong cảnh phụ thuộc theo kiểu nông nô vào nhà nước, và những công dân Nga ở
trong cảnh phụ thuộc theo kiểu nông nô vào quốc giáo” 1. Đạo chính thống là
công cụ để nô dịch, kìm kẹp tinh thần quần chúng. Các giới phản động cố gắng
làm cho tôn giáo hoạt động sôi nổi lên, hòng thông qua tuyên truyền tôn giáo để
lôi kéo quần chúng nhân dân ra khỏi cuộc đấu tranh cách mạng, sử dụng tư
tưởng tôn giáo để củng cố chế độ Nga hoàng. Lênin chỉ rõ: “Khắp nơi bọn tư sản
phản động đã chú trọng, và ở nước ta hiện nay, chúng cũng bắt đầu chú trọng
khêu lên những sự thù hằn tôn giáo, để làm cho quần chúng chú ý về phía đó,
khiến cho họ không để ý đến vấn đề chính trị và kinh tế thật sự quan trọng và
chủ yếu”2. Những điều kiện mới trong 10 năm đầu của thế kỷ XX đòi hỏi Lênin
phải vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm của C.Mác và
Ph.Ăngghen về toàn diện các vấn đề, trong đó có vấn đề tôn giáo.
1

nghĩa thần bí dùng để che đậy tinh thần phản cách mạng” 3. Xu hướng ngả sang
triết học duy tâm, bảo vệ phương diện tư tưởng cho thế lực phản cách mạng, tạo
điều kiện phục hồi những tư tưởng thần bí tôn giáo đã in dấu trong khoa học, văn
học, nghệ thuật. Chiếm địa vị thống trị trong triết học là những hình thức chủ
nghĩa duy tâm phản động. Trong giới tư sản, đặc biệt là trong một bộ phận tri
thức lan chuyền rộng rãi “ thuyết tìm thần”. Đó là một trào lưu triết học tôn giáo
phản động. Những đại biểu của trào lưu ấy cho rằng: nhân dân Nga “đã mất
chúa” và nhiệm vụ là phải “tìm thần”.

3

V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 41, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1979, tr.11-12.


3
Bên cạnh trào lưu “tìm thần” là trào lưu “tạo thần”. Những người theo
trào lưu “tạo thần” đứng đầu là Lunatsácxki đã mưu toan biến chủ nghĩa xã hội
thành một tôn giáo mới. Họ cho rằng, nếu mang hình thức tôn giáo thì chủ nghĩa
xã hội sẽ “gần gũi và dễ hiểu hơn” đối với nhân dân Nga. Như vậy, lúc này tôn
giáo trở thành một vấn đề lớn ở nước Nga, ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào
công nhân và việc tập hợp lực lượng chuẩn bị cho cách mạng. Lênin nhận xét:
“Một điều không thể nghi ngờ được là hiện nay, sự quan tâm đối với mọi cái có
liên quan đến tôn giáo đã lan tới những giới rộng rãi trong “xã hội” và đã ăn sâu
vào các giới trí thức gần gũi với phong trào công nhân, cũng như vào một vài bộ
phận trong công nhân”4 .
Đảng dân chủ - xã hội Nga lúc này chia thành hai phái, phái Bônsêvich
và phái Mensêvich. Tư tưởng cơ bản của phái Mensêvich là cơ hội xét lại, ủng
hộ tư tưởng của chính phủ Nga hoàng, cho rằng nhà nước phải can thiệp vào
vấn đề tôn giáo, phải đầu tư cho các hoạt động tôn giáo. Mặt khác, chính phủ
Nga hoàng lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống lại cách mạng vô sản. Như vậy, có

viết: “Cảm giác về sự phụ thuộc là cơ sở của tôn giáo”, “Một nguyên nhân khác
của lòng tin vào thượng đế: con người áp dụng quan niệm về sự sáng tạo có tính
mục đích của mình vào giới tự nhiên. Giới tự nhiên có tính mục đích - ergo, nó
đã được sáng tạo bằng thực thể có lý tính”. PhoiơBắc chính là người có công lớn
nhất trong việc vạch ra nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, theo quan điểm của
ông: “Tư tưởng và dụng ý của con người như thế nào thì chúa của con người như
thế”; “Thánh thần của con người có trong tinh thần và trái tim của anh ta”... Tuy
nhiên do lập trường duy tâm và phương pháp nhận thức siêu hình về các vấn đề
xã hội, PhoiơBắc đã không thấy thấy được ý thức của con người nói chung, tình
cảm tôn giáo nói riêng cũng là sản phẩm xã hội lịch sử. Vì thế PhoiơBắc không
thấy được nguồn gốc xã hội của tôn giáo.
Bằng cách tiếp cận sâu sắc nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã nhìn thấy nguồn gốc xã hội của tôn giáo và coi đây là nguồn gốc chủ yếu làm
nảy sinh và tồn tại của tôn giáo. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nguồn gốc chủ yếu
làm nảy sinh và tồn tại của tôn giáo là sự bế tắc, sự túng quẫn, cùng cực của
những người lao động bị áp bức, bóc lột trong xã hội có giai cấp. Mác viết: “Sự
nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo
là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái
tim”. Các ông chỉ rõ: “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ không phải tôn giáo
sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là sự phản ánh và sự phản kháng của con người
đối với hiện thực. Thông thường, khi mới ra đời các tôn giáo đều phản ánh
nguyện vọng của quần chúng, nhưng trong quá trình tồn tại và phát triển thường
bị các thế lực, giai cấp thống trị lợi dụng để chống lại quần chúng.
Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Mác và Ăngghen, Lê nin đã
đề cập sâu sắc những vấn đề về nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo trong
thời đại tư bản chủ nghĩa.


5
Trước hết, Lênin phê phán quan điểm của những người cấp tiến và

V.I.Lênin, Sđd, tr.515.
V.I.Lênin, Sđd, tr.515.
7 V.I.Lênin, Sđd, tr.515-516.
8 V.I.Lênin. Sđd, tr,515-516.
5
6


6
tôn giáo được ví như “thuốc phiện”, như thứ “rượu tinh thần” xoa dịu nỗi đau
khổ và bù đắp niềm tin nơi trần thế cho quần chúng bị áp bức bóc lột. Tôn giáo
là hạnh phúc ảo tưởng, là những bông hoa giả trang điểm cho những xiềng xích
trên cổ người lao động.
Như vậy, trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen,
và phân tích sự bần cùng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động dưới ách áp
bức bóc lột tư bản, Lênin đã một lần nữa khẳng định nguồn gốc kinh tế - xã hội
của tôn giáo. Lênin không coi đó là nguồn gốc duy nhất, nhưng ông khẳng định
đó là cội rễ “chủ yếu” và “sâu xa” của tôn giáo trong xã hội tư bản hiện đại. Sự
phân tích và khẳng định đó của Lênin có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ, phát
triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, đấu tranh chống các quan điểm sai
trái xung quanh vấn đề tôn giáo, đồng thời có tác dụng giác ngộ, tập hợp quần
chúng vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản.
Hai là: Thái độ của đảng công nhân là cần chủ trương đấu tranh tiến
tới loại trừ và xóa bỏ ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội, tuy nhiên
phải xác định hình thức đấu tranh phù hợp, không được tuyên chiến với tôn
giáo.
Trong tác phẩm, Lê nin đã khẳng định rõ thái độ của Đảng công nhân là
đối địch với tôn giáo; là chủ trương đấu tranh tiến tới loại trừ và xoá bỏ ảnh
hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội. Thái độ ấy được Lênin luận giải trên
hai cơ sở: Lênin khẳng định lại luận điểm của C.Mác “tôn giáo là thuốc phiện

Ăngghen đã trách cứ Phoiơbắc “là đã đấu tranh với tôn giáo không phải nhằm
mục đích tiêu diệt nó, mà là nhằm nhào nặn lại nó, chế tạo ra một thứ tôn giáo
mới, cao thượng”12. Lênin cũng coi khẳng định của Lunatsácxki “Chủ nghĩa xã
hội là một tôn giáo”, là một hình thức quá độ từ chủ nghĩa xã hội sang tôn giáo –
đây chính là sự tuyên truyền cho “Chủ nghĩa tạo thần”.
Tóm lại, theo Lê nin: “Người Mác-xít phải là người duy vật, nghĩa là kẻ thù
của tôn giáo”. Nhiệm vụ của đảng công nhân là giáo dục, tổ chức quần chúng đấu
tranh chống lại mọi tôn giáo, giải phóng họ khỏi những thiên kiến tôn giáo độc hại.
Là kẻ thù của tôn giáo, nhưng những người mácxít không được “tuyên
chiến” với tôn giáo. Đây là bài học được Mác - Ăngghen và Lênin rút ra từ cuộc
đấu tranh chống tôn giáo trong phong trào xã hội chủ nghĩa. Lênin phê phán
những kẻ ba hoa, “tả khuynh”, “cách mạng hơn” muốn thay thế việc tuyên
truyền, giáo dục chủ nghĩa vô thần, chống tôn giáo một cách có hệ thống bằng
những biện pháp hành chính nhằm chống lại nhà thờ và các tín đồ. Lênin đã nhắc
lại lời của Ăngghen “coi lời tuyên chiến ầm ĩ của họ với tôn giáo là dại dột” 13 và
rằng: “tuyên chiến như thế là một phương pháp tốt nhất làm kích động thêm sự
V.I.Lênin, Sđd, tr.510-511.
V.I.Lênin, Sđd, tr.510–511.
12 V.I.Lênin, Sđd, tr.510–511.
13 V.I.Lênin, Sđd, tr.510-511.
10
11


8
quan tâm của người ta đối với tôn giáo, và làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong
thực sự một cách khó khăn hơn”14.
Mặt khác, Lênin cũng công kích kịch liệt những sự xuyên tạc của bọn cơ
hội đối với các nguyên tắc của học thuyết vô thần của giai cấp vô sản, khi bọn
chúng đem thay thế luận điểm của Mác cho rằng: “Tôn giáo là một việc tư nhân”

V.I. Lênin, Sđd, tr.519-520.


9
đối bất cứ sự xúc phạm nhỏ nào đến tín ngưỡng tôn giáo của họ, nhưng chúng ta
thu hút họ để giáo dục họ theo tinh thần cương lĩnh của chúng ta, chứ không phải
để họ tích cực chống lại cương lĩnh ấy” 16. Rõ ràng giai cấp vô sản không kỳ thị
với tôn giáo như kẻ thù thường vu khống trong giai đoạn hiện nay.
Bằng cách phân tích trên, có thể khẳng định: theo quan điểm của Lênin
thì đảng của giai cấp công nhân là “đối địch”, là “kẻ thù” của tôn giáo, vì đảng
ấy là đảng theo chủ nghĩa vô thần triệt để, đảng ấy chủ trương giải phóng loài
người khỏi vòng nô lệ về cuộc sống vật chất và sự đầu độc trong đời sống tinh
thần. Tuy nhiên, thái độ ấy phải được thực hiện bằng những chiến lược, sách
lược, bằng con đường đúng đắn. Mọi biểu hiện “tả khuynh” hay “hữu khuynh”
đều không thể xoá bỏ được tôn giáo mà còn làm cho tôn giáo khó đi đến chỗ tiêu
vong hơn. Đây là một thái độ hết sức đúng đắn được rút ra từ thực tiễn đấu tranh
chống tôn giáo trong lịch sử và từ việc vận dụng sáng tạo thế giới quan duy vật
biện chứng vào xem xét đời sống tôn giáo, chỉ ra nguồn gốc thực sự của tôn giáo
và phương pháp đấu tranh để loại trừ nguồn gốc ấy.
Ba là, trong tác phẩm, Lênin đề cập đến vấn đề sách lược, phương pháp
đấu tranh của Đảng công nhân đối với tôn giáo: Phải tập hợp quần chúng vào
cuộc đấu tranh xóa bỏ nguồn gốc tôn giáo, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư
bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trên cơ sở phân tích một cách hết sức khoa học nguồn gốc của tôn giáo,
Lênin cho rằng không thể xoá bỏ tôn giáo bằng những lời lẽ tuyên chiến ầm ĩ,
bằng những biện pháp cấm đoán, hay bằng những biện pháp đàn áp tôn giáo.
Làm như vậy là chỉ làm lợi cho tôn giáo, đưa tôn giáo đến chỗ khó tiêu vong
hơn. Lênin cũng chỉ ra rằng không thể bằng tuyên truyền giáo dục một cách
thuần tuý chủ nghĩa vô thần mà giải thoát được cho quần chúng khỏi những thiên
kiến tôn giáo độc hại. Ông viết “Không một quyển sách tuyên truyền nào sẽ tẩy

nghĩa xã hội. Và chỉ có thắng lợi của chủ nghĩa xã hội thì cuộc đấu tranh chống
tôn giáo mới đạt được hiệu qủa trên thực tế.
Lênin cũng yêu cầu những người mácxít phải phân biệt rõ cuộc đấu
tranh chống tôn giáo ở các nước phương Tây “như Đức, Pháp” của giai cấp tư
sản với cuộc đấu tranh chống tôn giáo của Đảng dân chủ - xã hội. Theo Lênin,
cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống chủ nghĩa tăng lữ là một thủ đoạn để
đánh lạc hướng quần chúng công nhân làm cho họ khỏi chủ ý đến chủ nghĩa xã
hội. Còn cuộc đấu tranh của Đảng dân chủ xã hội chống tôn giáo là phục vụ cho
cuộc đấu tranh đảm bảo sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Theo Lênin, để có thái độ và sách lược đấu tranh chống tôn giáo đúng
đắn, cần giải quyết một số vấn đề về nhận thức: trước hết cần nhận rõ tính chất
độc hại, phản tiến bộ, phản văn hoá của tôn giáo “tôn giáo là thuốc phiện của
nhân dân”; tiếp đến là cần vạch rõ vai trò giai cấp của giáo hội và tăng lữ với
chính phủ, qua đó vạch trần tính chất phản động của giáo hội; đồng thời, cần
phải giải thích rõ ràng luận điểm “tuyên bố tôn giáo là một việc của tư nhân”
18

V.I.Lênin. Sđd, tr.517-518.


11
nhằm chống lại sự xuyên tạc của bọn cơ hội và tránh sự hiểu lầm trong đảng viên
của Đảng dân chủ - xã hội.
Về phương pháp luận chung nhất trong cuộc đấu tranh chống tôn giáo,
Lênin yêu cầu những người mácxít phải đứng vững trên lập trường duy vật biện
chứng, phải có quan điểm lịch sử cụ thể, phải có hình thức và phương pháp đấu
tranh sáng tạo. Ông viết “Người Mác-xít phải là người duy vật, nghĩa là kẻ thù
của tôn giáo, nhưng phải là người duy vật biện chứng, nghĩa là đặt vấn đề đấu
tranh chống tôn giáo không phải một cách trừu tượng... lúc nào cũng giống lúc
nào, mà phải đặt vấn đề một cách cụ thể, căn cứ vào thực tế cuộc đấu tranh giai

độ và sách lược đấu tranh chống tôn giáo của đảng dân chủ - xã hội.
Mặt khác, Lênin cũng yêu cầu người mácxít phải là người theo chủ
nghĩa duy vật biện chứng, từ đó mới có thể xác định được chiến lược, sách lược
và những biện pháp đấu tranh chống tôn giáo có hiệu quả. Giai cấp vô sản muốn
giành lại con tim, khối óc của quần chúng nhân dân đang bị tôn giáo lôi kéo, mê
hoặc thì chí có con đường duy nhất đúng là phải đứng trên lập trường của chủ
nghĩa duy vật biện chứng để tập hợp quần chúng nhân dân lao động vào cuộc
đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, lật đổ chế độ tư bản chủ
nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tóm lại, tác phẩm “Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo” thể
hiện sự đứng vững trên lập trường thế giới quan vô thần khoa học của Lênin. Tác
phẩm là một hình mẫu về việc giữ vững nguyên tắc tính đảng trong xem xét, giải
quyết vấn đề tôn giáo. Thông qua tác phẩm này, Lênin đã đề cập và giải quyết
một cách sâu sắc những vấn đề lý luận về tôn giáo, đặc biệt là việc luận giải
nguồn gốc xã hội của tôn giáo; thái độ của những người mácxít đối với tôn giáo
và sách lược đấu tranh chống tôn giáo của Đảng mácxít. Cùng với hệ thống các
tác phẩm viết về vấn đề tôn giáo, tác phẩm “Về thái độ của Đảng công nhân đối
với tôn giáo” góp phần quan trọng trong việc tích cực truyền bá, làm sâu sắc
thêm và cụ thể hóa quan điểm của Mác, Ăngghen về tôn giáo vào trong Đảng dân
chủ - xã hội và phong trào công nhân Nga. Đồng thời, nó cũng là cơ sở lý luận
quan trọng để thống nhất nhận thức và hành động của những người cộng sản Nga
lúc đó xung quanh vấn đề tôn giáo thông qua việc đề ra sách lược giải quyết vấn
đề tôn giáo và thực hiện sách lược đó trong quá trình lãnh đạo cách mạng.
Ngay sau khi cách mạng tháng Mười Nga thành công, khi chính quyền đã
về tay nhân dân, trong quá trình xây dựng xã hội mới, Lênin đã từng bước hiện
thực hóa tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và của tác phẩm về vấn đề tôn giáo ở
Liên bang Xô Viết. Ngày 23 tháng 1 năm 1918, Lênin đã tuyên bố sắc luật “Về
việc tách giáo hội ra khỏi nhà nước, trường học ra khỏi nhà thờ”. Đây là văn kiện
đầu tiên của Nhà nước Xô Viết về vấn đề tôn giáo. Ngày 31 tháng 3 năm 1921,
Người gửi thư cho G.V.Tsitseerin, nhất trí gửi công văn cho tổ chức đảng của

Tác phẩm “Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo” ra đời
cách đây gần 100 năm nhưng giá trị khoa học của nó vẫn còn nguyên vẹn. Nó
vẫn là cơ sở để xem xét và giải quyết vấn đề tôn giáo trong xã hội hiện đại. Đặc
biệt, đối với nước ta, thông qua việc giải quyết vấn đề tôn giáo càng cho thấy
giá trị khoa học của các quan điểm của Lênin về vấn đề tôn giáo.
20

V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1979, Tập 52, tr.180.


14
Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo, sự thăng trầm của tôn giáo Việt
Nam, cũng luôn gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử xã hội Việt Nam. Trong
lịch sử, các tín ngưỡng tôn giáo (dù nội sinh hay ngoại nhập) cũng đã góp phần
tích cực trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc trong từng giai
đoạn lịch sử khác nhau. Hiện nay, các tôn giáo Việt Nam chiếm một tỉ lệ tương
đối lớn trong cộng đồng con người và dân số Việt Nam. Theo số liệu thống kê về
số lượng tín đồ một số tôn giáo chính ở nước ta hiện nay: Đạo Phật: khoảng gần
10 triệu tín đồ, Đạo công giáo: 5.324.492 tín đồ, Đạo tin lành: khoảng 800.000
tín đồ, Đạo hồi: khoảng 64.990 tín đồ, Đạo cao đài: 2.276.976 tín đồ và Đạo
hoà hảo: có khoảng 1.232.572 tín đồ… Tính chung, số lượng tín đồ tôn giáo ở
nước ta hiện nay chiếm khoảng 25% dân số.
Ở nước ta quan hệ giữa tôn giáo và chính trị cũng đã từng bị các thế lực
chính trị bẻ lái theo khuynh hướng tiêu cực. Sự biến dạng quan hệ giữa tôn giáo
và chính trị gắn liền với chiêu bài sử dụng tôn giáo vào mục đích xâm lược của
thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ. Trong giai đoạn cách mạng nước ta hiện
nay, các thế lực phản động đứng đầu là đế quốc Mỹ chưa từ bỏ dã tâm đen tối lợi
dụng tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị chống phá cách mạng nước ta, sử
dụng tôn giáo như là một chiêu bài hòng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.
Trong điều kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), chúng

chủ nghĩa xã hội. Đó là quan điểm nhất quán của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và cũng là của Đảng ta.
Để tiếp tục thực hiện tốt sự chỉ dẫn của Lênin trong tác phẩm “Về thái độ của
đảng công nhân đối với tôn giáo” và những quan điểm của Đảng ta hiện nay,
chúng ta cần thống nhất nhận thức đối với việc giải quyết vấn đề tôn giáo: Thứ
nhất, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thứ
hai, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình
thường theo đúng luật pháp của nhà nước. Thứ ba, đoàn kết đồng bào theo các
tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Chăm lo phát
triển kinh tế, văn hoá nâng cao đời sống của đồng bào có đạo. Thứ tư, từng bước
hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng bào theo đạo và các vị chức
sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm của công dân đối với Tổ quốc,
sống “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá, đạo đức của
tôn giáo. Thống nhất nhận thức và hành động theo quan điểm của Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X về vấn đề tôn giáo: “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan
trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện chính sách nhất quán tôn
trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của
công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng
bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo


16
tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động
viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp
đạo”. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật
bảo hộ. Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời
sống vật chất, văn hóa của đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê
tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm phương hại đến lợi ích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status