vấn đề môi trường ở nước ta hiện nay - Pdf 33

VMôi trường sống đang là sự quan tâm mang tính toàn cầu. Ô nhiễm môi trường và những
tác hại của nó đối với cuộc sống ngày càng nặng nề hơn. Do đó chuyện bảo vệ môi trường
xanh – sạch – đẹp là nhiệm vụ của tất cả tất cả người.
Ai cũng biết rằng môi trường có một ý nghĩa to lớn và vô cùng quan trọng. Môi trường là
không khí, là thức ăn, là sự cân bằng sinh thái đảm bảo cho sự sống của con người. Môi
trường quen thuộc và gần gũi với chúng ta như những người bạn thân thiết không thể thiếu
được trong cuộc đời. Thế nhưng vì lợi ích trước mắt, con người vừa đối xử tàn tệ với môi
trường, thậm chí cố tình hủy hoại môi trường mà không biết rằng làm như vậy là tự hủy
hoại cuộc sống của chính mình. Trong trường học, học sinh các cấp phải được giáo dục về ý
thức bảo vệ môi trường sống thông qua các hình thức như tham gia các kì thi tìm hiểu môi
trường, tham gia đội tình nguyện bảo vệ môi trường… để có được những hiểu biết cơ bản
và từ đó tự giác lũy phần tạo ra môi trường sống xanh – sạch – đẹp. Bảo vệ môi trường sống
không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Nhà nước cần tăng cường đội ngũ kiểm tra, giám sát
thường xuyên ở những nơi công cộng, những khu công nghề để nhắc nhở, ngăn chặn kịp
thời (gian) các hành vi, hiện tượng phá hoại môi trường. Nếu cá nhân hay tập thể nào cố
tình vi phạm thì sẽ có những biện pháp xử phạt KẾT đáng tùy theo mức độ nặng nhẹ. Môi
trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng vừa và đang đưa ra những lời thông báo dữ dội đối
với loài người. Hãy bảo vệ môi trường sống như bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta !.
Bài viết sưu tầm từBảo vệ môi trường sống không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Nhà nước
cần tăng cường đội ngũ kiểm tra, giám sát thường xuyên ở những nơi công cộng, những khu
công nghề để nhắc nhở, ngăn chặn kịp thời (gian) các hành vi, hiện tượng phá hoại môi
trường. Nếu cá nhân hay tập thể nào cố tình vi phạm thì sẽ có những biện pháp xử phạt KẾT
đáng tùy theo mức độ nặng nhẹ. Môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng vừa và đang đưa
ra những lời thông báo dữ dội đối với loài người. Hãy bảo vệ môi trường sống như bảo vệ
cuộc sống của chính chúng ta !.
Bài viết sưu tầm từBảo vệ môi trường sống không phải là nhiệm vụ của riêng ai. Nhà nước
cần tăng cường đội ngũ kiểm tra, giám sát thường xuyên ở những nơi công cộng, những khu
công nghề để nhắc nhở, ngăn chặn kịp thời (gian) các hành vi, hiện tượng phá hoại môi
trường. Nếu cá nhân hay tập thể nào cố tình vi phạm thì sẽ có những biện pháp xử phạt KẾT
đáng tùy theo mức độ nặng nhẹ. Môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng vừa và đang đưa
ra những lời thông báo dữ dội đối với loài người. Hãy bảo vệ môi trường sống như bảo vệ



Áo dài có thể nhiều màu nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là chiếc áo dài trắng thể hiện sự
thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. Trong trường học, không gì đẹp mắt và thanh
bình cho bằng mỗi sáng, từng nhóm nữ sinh trong bộ áo dài, thướt tha, xõa tóc dài chạy
xe đạp đến trường. Cũng nơi đó, những cô giáo, những người mẹ thứ hai của các học
sinh nhẹ nhàng đón rón những đứa con của mình trước giờ vào học trong chiếc áo dài
mới thực sự toát lên vẻ đằm thắm, và thương yêu. Trong những dịp lễ Tết, chiếc áo dài
lại thêm một lần nữa thấp thoáng trên các ngã tư đường phố, cùng hoa va cảnh sắc của
trời mới đất mới, khoe sắc ngày Tết. Áo dài giũa phố đông chật chội người và xe, ấm ào
náo động, làm dịu lại cảnh sắc và làm mát lại những hồn người, làm cho ai đó phải quay
lại ngắm nhìn dù chỉ một lần, dịu đi cái khó chịu và u uất vốn có trong bản tính mỗi con
người bân rộn.
Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn lên nét đẹp của mọi thân hình. Phần trên ôm
sát thân nhưng hai vạt buông thật rộng trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ đến trên vòng
eo khiến cho người mặc có cảm giác thoải mái, lại tạo dáng thướt tha tôn lên vẻ nữ tính,
vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bằng vài lụa mềm lại cũng vừa khiêu gợi vì nó làm
lộ ra sống eo. Chính vì thế, chiếc áo dài mang tính cá nhân hóa rất cao, mỗi chiếc chỉ
may riêng cho một người và chỉ dành cho ngươi ấy, không thể là một công nghệ “sản
xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo rất kĩ, khi may xong phải thử
và chỉnh sửa lại thêm vài lần nữa thì mới hoàn thiện được.
Thực vậy, trong các hội nghị quốc tế, ở hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 100 năm ngày
sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nữ học giả Mỹ đã vận một chiếc áo dài, và mở đầu bài
phát biểu của mình bằng một câu tiếng Việt: “Xin chào các bạn”, cả hội trường Ba Đỉnh
trang trọng khi đó bỗng tràn ngập một không khí thân thương trìu mến. Trong hội nghị
cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam, áo dài đã được vinh dự là trang phục chính cho
các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội
nghị. Áo dài, như vậy có thể là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt, mang nước Việt Nam
cùng hòa chung vào dòng kinh tế năng động và nhiệt huyết trên thương trường thế giới,
là một nét riêng của người phụ nữ Việt nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung.

dài một cái áo lễ, thí dụ như áo tấc, áo dấu, áo tràng ngoài dân gian; hoặc áo bào, áo
mệnh phụ trong triều. Chỉ có các lễ phục này mới mang ảnh hưởng của phương Bắc.
Trong khi đó, từ đầu đến cuối quyển sách Trung Quốc Phục Trang Sử nổi tiếng, viết và
minh họa về y phục Trung Hoa từ đời Xuân Thu cho đến những năm đầu Dân Quốc
(1920), không thấy đả động gì đến bì bào (áo mặc sát vào da). Loại bì bào độc nhất ở
Trung Quốc, thường gọi là xường xám, có nghĩa là áo dài, chỉ xuất hiện từ Trùng
Khánh và Thượng Hải trong thập niên 1930.
Trong sách "Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au
Royaume de la Cochinchine", xuất bản tại Lille năm 1631, giáo sĩ Borri đã tả rõ về cách
ăn mặc của người Việt ở đầu thế kỷ 17: "Người ta mặc năm sáu cái áo dài, áo nọ phủ
lên áo kia, mỗi cái một màu... Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành
những dải dài. Khi đi lại, các dải này quyện vào nhau trông đẹp mắt... Đàn ông cũng
mặc năm, sáu lớp áo dài lụa... để tóc dài và vấn khăn như đàn bà".
Có lẽ giáo sĩ Borri đã hiểu lầm về số lớp áo được người Việt cổ xưa mặc mỗi khi ra
ngoài. Thật ra mấy lớp áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng mà giáo


sĩ Borri nhắc đến chỉ là cái xiêm cánh sen, hoặc có nơi gọi là quầy bơi chèo, mà người
xưa mặc trước ngực hay dưới thắt lưng bên ngoài áo dài. Xiêm này có ba hoặc bốn lớp
dải lụa may chồng lên nhau. Lớp dải trong cùng dài nhất, rồi các lớp bên ngoài ngắn
dần. Bức tượng Ngọc Nữ tạc từ thế kỷ 17 ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh, là
minh chứng rõ nhất cho cả áo dài, các giải cánh sen, lẫn cách vấn khăn mà giáo sĩ
Borri đã mục diện từ bốn thế kỷ trước đây.
Thế kỷ XIX - XX
Năm 1819, cách ăn mặc của người dân vẫn giống như giáo sĩ Borri đã thấy ở Thuận
Quảng từ hơn hai thế kỷ trước đó với quần lụa đen và áo may sát người dài đến mắt cá
chân.
Cho đến đầu thế kỷ 20, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân,
hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo.
Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối phía dưới

này. Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu được hạ thấp xuống.


Áo dài được thay đổi nhiều nhất trong thập kỷ 60. Vì nịt ngực ngày càng phổ biến hơn,
nên áo dài bắt đầu được may chít eo, nhiều khi rất chật, để tôn ngực. Eo áo cắt cao lên
hở cạp quần. Gấu áo lúc này cắt thẳng ngang và may dài gần đến mắt cá chân. Năm
1960, vì muốn thấy cổ phụ nữ dài thêm, bà Trần Lệ Xuân đặt ra loại áo dài cổ thuyền.
Nhiều người sau đó còn may áo dài với cổ khoét tròn. Đến gần cuối thập kỷ 60, áo dài
mini trở thành thời thượng. Vạt áo may hẹp và ngắn, có khi đến đầu gối. áo may rộng
hơn, không chít eo nữa, nhưng vẫn giữ đường lượn theo thân thể. Cổ áo thấp xuống
còn 3cm. Tay áo cũng được may rộng ra. Đặc biệt trong khoảng thời gian này, vai áo dài
bắt đầu được cắt lối raglan để ngực và tay áo ôm hơn, nhăn ít, mà lại đỡ tốn vải. Tay áo
được nối với thân từ chéo vai. Quần may rất dài với gấu rộng đến 60cm và nhiều khi
được lót hai ba lớp.
Năm 1975, đất nước thống nhất, điều kiện vật chất còn nhiều khó khăn nên áo dài có
phần đơn giản hơn. Nhưng đến những năm 90, áo dài đã trở lại, cầu kỳ hơn, thanh nhã
hơn và bắt đầu được bạn bè quốc tế nghĩ tới như là một biểu tượng của người phụ nữ
Việt Nam. Năm 1989, báo Phụ Nữ tổ chức cuộc thi Hoa Hậu Áo dài đầu tiên. Sáu năm
sau, tà áo dài xanh thướt tha đã đưa Việt Nam tới danh hiệu "Trang phục truyền thống
đẹp nhất" tại Tokyo, Nhật Bản.
Các nhà thiết kế đương đại thường "thí nghiệm" với các loại vải mới , các motif lạ mắt,
các hoa văn của người dân tộc thiểu số hoặc thay đổi đường may nét cắt bằng cách mở
rộng cổ, bớt tay áo hoặc thay tà trước bằng những chất liệu mềm mại hơn. Chiếc quần
trắng ngày nào là mốt giờ đã nhường chỗ cho quần đồng màu hoặc ngược hẳn với áo.
Ngày nay, áo dài vừa là đồng phục duyên dáng của nữ sinh cấp 3:
Là hình ảnh của người tiếp viên hàng không Vietnam Airlines, lại vừa là trang phục lễ
Tết, hội hè:
Nhiều nhà tạo mẫu áo cưới có xu hướng kết hợp giữa áo cưới hiện đại với chiếc áo dài
dân tộc. Với hai chất liệu tơ tằm và voan, chiếc áo dài cưới dân tộc được cách điệu vừa
tạo nét duyên dáng cho cô dâu vừa tạo vẻ mềm mại, mỏng manh. Cách điệu lớn nhất

-> áo tứ thân & ngũ thân .
- Người có công khai sáng là định hình chiếc áo dài VN là chúa Nguyễn Phúc Khoát .
Chiếc áo dài đầu tiên được thiết kế tại thời điểm này là sự kết hợp giữa váy của người
Chăm và chiếc váy sườn xám của người trung hoa....==> áo dài đã có từ rất lâu.
2.Hiện tại
+tuy đã xuất hiện rất nhiều nhữg mẫu mã thời trang, nhưng chiếc áo dài vẫn giữ được
tầm quan trọng của nó, và trở thành bộ lêx phục của các bà các cô mặc trog các dịp lễ
đặc biệt..
+đã được tổ chức Unesco công nhận là 1 di sản Văn hoá phi vật thể, là biểu tượng của
người fụ nữ VN.
3.Hình dáng
-Cấu tạo
*Áo dài từ cổ xuống đến chân
*Cổ áo may theo kiểu cổ Tàu, cũng có khi là cổ thuyền, cổ tròn theo sở thik của người
mặc. Khi mặc, cổ áo ôm khít lấy cổ, tạo vẻ kín đáo.
*Khuy áo thường dùng = khuy bấm, từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông.
*Thân áo gồm 2 phần: Thân trước và thân sau, dài suốt từ trên xuống gần mắt cá chân.
*áo được may = vải 1 màu thì thân trước thân sau sẽ được trang trí hoa văn cho áo
thêm rực rỡ.
*thân áo may sát vào form người, khi mặc, áo ôm sát vào vòng eo, làm nổi bật những
đường cong gợi cảm của người fụ nữ.
*tay áo dài ko có cầu vai, may liền, kéo dài từ cổ áo--> cổ tay.
*tà áo xẻ dài từ trên xuống, giúp người mặc đi lại dễ dàng, thướt tha, uyển chuyển.
*áo dài thường mặc với quần đồng màu hoặc màu trắng = lụa, satanh, phi bóng....với
trang fục đó, người fụ nữ sẽ trở nên đài các, quý fái hơn.
-Thợ may áo dài phải là người có tay nghề cao, thợ khéo tay sẽ khiến áo dài khi mặc vào
ôm sát form người.
-Áo dài gắn liền tên tuổi của những nhà may nổi tiếng như Thuý An, Hồng Nhung, Mỹ
Hào, ....., đặc biệt là áo dài Huế màu tím nhẹ nhàng...
-Chất liệu vải phong phú, đa dạng, nhưng đều có đặc điểm là mềm, nhẹ, thoáng mát.

vùng Quảng Nam đã nhận xét trong một cuốn sách của ông rằng: “Người Việt Nam
xưa nay thường có tính kín đáo. Tuy là một nước nhiệt đới, nhưng người Việt ăn mặc
rất kín đáo, có thể là kín đáo nhất so với các dân tộc khác trong vùng”. Có lẽ người Việt
xưa đã phải dành nhiều thời gian để nghiên cứu, tìm cách phối hợp những nguyên tắc
thẩm mỹ với quy luật kín đáo cố hữu của dân tộc vào việc may mặc. Chẳng hạn, do đặc
thù về nhân chủng học, người Việt có cái cổ thường không cao, người xưa đã biết may
cổ áo thấp xuống và ôm sát cổ, trong khi tóc được vấn cao lên, để lộ gáy... Và vì thế, cái
cổ của một phụ nữ Việt có nhan sắc trung bình vẫn trở nên thanh tú và cao sang hơn.
Phải chăng đó là tiền đề cho phần cổ của chiếc áo dài? Áo dài của người Việt vẫn có
tiếng là gợi cảm. Người Trung Quốc gọi loại áo này là “bì bào”, có nghĩa là áo mặc sát
vào da. Đến nay, vẫn chưa có ai khẳng định được chiếc áo dài Việt xuất hiện từ bao giờ
và như thế nào? Tuy nhiên, chuyện được biết nhiều nhất là việc chúa Nguyễn Phúc
Khoát ở Đàng Trong, khi xưng vương (năm 1744) đã bắt quan, dân phải mặc lễ phục
lấy mẫu từ “Tam tài đồ hội” của nhà Minh, Trung Quốc. Vì thế mà có giả thuyết cho
rằng, áo dài Việt Nam xuất xứ từ phương Bắc. Tuy nhiên, áo dài hay “bì bào” không
phải là lễ phục. áo dài chỉ là một loại thường phục trang trọng có thể mặc để tiếp khách
hay đi chơi. Loại “bì bào” độc nhất ở Trung Quốc thường được gọi là “Sường xám”, có
nghĩa là áo dài, chỉ xuất hiện vào những năm của thập niên 1930 tại Trùng Khánh và
Thượng Hải. Vào năm 1776, sau khi chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chiếm được kinh đô
Phú Xuân của xứ Đàng Trong, quan Hiệp Chấn Thủ Lê Quý Đôn đã ra lệnh cho dân ở
đây phải ăn mặc theo lề lối của Đàng Ngoài. Theo lệnh này, về thường phục thì: “Từ
nay trở đi, đàn ông và đàn bà chỉ được mặc loại áo ngắn tay có cổ đứng...”. Tức là tay
áo chỉ dài đến cổ tay, thay vì dài gấp đôi chiều dài của cánh tay như trong áo lễ. Trong
cuốn sách của giáo sỹ Borri (như đã nói ở trên) có tên: “Tường thuật về sứ mệnh mới
của các linh mục Dòng Tên ở Nam Kỳ - năm 1631” đã miêu tả cách ăn mặc của người
Việt Nam đầu thế kỷ 17 như sau:“Người ta mặc năm, sáu cái áo dài, áo nọ phủ lên kia,
mỗi cái một màu. Cái thứ nhất dài đến mắt cá chân, những cái áo khác ở ngoài ngắn


dần...”. Đấy là vị giáo sỹ đã nói đến chiếc áo mớ ba, mớ bảy của phụ nữ Việt còn thấy ở

phải. Vậy là áo Le Mur được xem là táo bạo và chỉ có giới nghệ sỹ hay ăn chơi “thời
thượng” lúc đó mới dám mặc. Nhưng chỉ đến khoảng năm 1943 thì loại áo này đã bị
lãng quên.
Đến khoảng những năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may chiết eo. Các nhà may lúc
đó đã cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau rộng hơn thân trước, đặc biệt là phần
mông để áo ôm theo thân dáng mà không cần chiết eo; vạt áo cắt hẹp hơn, cổ áo cao lên
trong khi gấu được hạ thấp xuống.
Ảnh minh họa
Vào những năm 1960, áo dài được thay đổi nhiều nhất vì cái nịt ngực được sử dụng
ngày càng phổ biến hơn, nên áo dài phải được may chiết eo, thậm chí người phụ nữ
mặc rất chật để tôn ngực. Eo áo cắt cao lên để hở cạp quần; gấu áo cắt ngang thẳng và
dài gần đến mắt cá chân. Năm 1960, vì muốn thấy có cảm giác cổ phụ nữ dài thêm, bà
Trần Lệ Xuân đặt ra loại áo dài cổ thuyền, được gọi là áo bà Nhu và sau này còn có
người may áo dài với cổ khoét tròn.
Vào cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, để thích ứng với thời trang váy ngắn,


quần loe của thanh niên theo lối hippy, áo dài mini đã xuất hiện và ngay lập tức trở
thành mốt thời thượng. Vạt áo may hẹp và ngắn, có khi đến đầu gối, áo may rộng ra và
không chiết eo, nhưng vẫn giữ đường lượn theo thân thể; cổ áo may thấp xuống còn 3
cm; vai áo bắt đầu được cắt lối raglan để ngực và tay áo ôm hơn; quần khi đó được may
rất dài, gấu rộng đến 60 cm. Sau thời kỳ này trở về đến năm 1990, áo dài không thay đổi
nhiều lắm so với truyền thống, thỉnh thoảng cũng có vài mẫu đổi mới, chẳng hạn như
quần và áo đồng màu, nhưng không phổ biến...
Ngày nay, Việt Nam đã có một lực lượng đông đảo các nhà tạo mẫu áo dài, với đủ các
loại chất liệu vải, họ vẫn luôn nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo đưa ra những mẫu mốt
mới...Chất liệu mới cho áo Dài được kết hợp từ những tấm vải mẫu, thường được trang
trí bằng những đường nét thủ công hoặc thêu thùa. Song, cũng chỉ dừng lại ở việc thay
đổi chất vải và hoa văn trên áo dài còn về kiểu dáng vẫn phải giữ theo “công thức” cũ,
nghĩa là không khác gì nhiều với cái áo dài của pho tượng Ngọc Nữ thế kỷ XVII. Trong

của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa - chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của
trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể
thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt.


#8
25-11-2013
sakura1235
Thành viên
Thành viên của
lớp

Tham gia : 22-062013
Bài viết: 4
Đã cảm ơn: 0
Được cảm ơn 15 lần

Áo dài là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Áo dài mang lại nét đẹp duyên dáng,
đằm thắm làm say lòng người của người phụ nữ Việt. Bởi vậy đã có biết bao nhà thơ,
nhà văn hết lời ca ngợi:
“Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay”
(Tương tư – Nguyên Bá)
Trải qua bao thế kỉ chiếc áo dài đã có nhiều thay đổi so với tổ tiên nó trước đây. Không
ai biết rõ nguồn gốc nguyên thủy của chiếc áo dài vì chưa có tài liệu ghi nhận. Nhưng
kiểu sơ khai nhất của chiếc áo dài là chiếc áo giao lãnh. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát
là người được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt Nam.
Chính do sự di cư của người Minh Hương mà chúa Nguyễn Phúc Khoát đã cho ra đời

sự duyên dáng và uyển chuyển. Hàng nút phía trước của áo được chuyển dọc qua hai
vai và chạy dọc một bên sườn. Áo may ráp vai, tay phồng, cổ bồng hoặc hở. Để cho
đúng mốt, áo Cát Tường phải mặc với quần sa tanh trắng, đi giày cao, cầm bóp đầm. Do
xã hội vẫn còn chưa cởi mở với cách ăn mặc này nên chiếc áo không được nhiều người
chấp nhận vì họ cho là “đĩ thõa” (phản ánh của Vũ Trọng Phụng trong tác phẩm, “Số
đỏ” đã chứng minh điều đó). Năm 1943, họa sĩ Lê Phổ đã bỏ bớt những nét cứng nhắc
của áo Cát Tường, đưa thêm một số yếu tố dân tộc của áo tứ thân, ngũ thân đã tạo ra
kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt trước tự do bay lượn. Sự
dung hòa này được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đấy, áo dài Việt Nam đã
tìm được hình hài chuẩn mực của nó và từ đấy đến nay dù trải qua bao thăng trầm, bao
lần cách tân, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn được giữ nguyên.
Cho tới ngày nay, chiếc áo dài đã được thay đổ rất nhiều. Cổ áo cổ điển cao 4 – 5 cm,
khoét hình chữ V trước cổ. Cổ áo làm tăng thêm nét đẹp của chiếc cổ cao ba ngấn trắng
ngần của người phụ nữ. Phần eo được chít ben làm nổi bật đường cong thon thả của
chiếc lưng ong của người phụ nữ. Cúc áo là loại cúc bấm, được bố trí cài từ cổ qua vai
xuống eo. Từ eo, thân áo được xẻ thành hai tà dài đến mắt cá chân. Ống tay áo may từ
vai ôm sát cánh tay dài qua khỏi cổ tay. Áo thường mặc với quần lụa có màu sắc hài
hòa với áo. Áo dài thường được may bằng lụa tơ tằm, nhung, voan, the,… rất phong
phú. Nhưng có sự lựa chọn chung là nên chọn loại vải mềm, rũ. Để làm tăng thêm nét
duyên dáng, khi mặc áo dài phụ nữ thường đội nón lá. Ở đồng bằng Nam bộ, áo dài
được cải biên thành áo bà ba mặc với quần đen ống rộng để tiện việc lao động.
Chiếc áo dài là một trang phục không thể thiếu được của người phụ nữ ngày nay. Nó
không chỉ là trang phục dân tộc mà còn là trang phục công sở của giáo viên, nữ sinh,
nhân viên ngân hàng, tiếp viên hàng không,… Áo dài còn được mặc khi đi dạo phố,
những buổi họp mặt quan trọng như lễ cưới chẳng hạn. Ngay cả cô dâu trong nghi
thức bái gia tiên cũng không thể thiếu bộ trang phục này.
Do được may bằng chất liệu vải mềm nên áo dài cần được bảo quản cẩn thận. Chỉ nên
giặt áo dài bằng tay, giũ cho áo ráo nước và phơi ngoài nắng nhẹ, tránh nắng gắt vì áo
dễ bạc màu. Dùng bàn ủi ủi với nhiệt độ thích hợp tránh nóng quá làm cháy áo. Luôn
cất áo vào tủ cẩn thận giúp áo bền, đẹp và mới lâu. Nên giặt áo ngay sau khi mặc, treo

b/ Chiếc áo dài thay đổi theo từng giai đoạn và lý do khác nhau: Chiếc áo dài đầu tiên là
chiếc áo dài giao lãnh. Đó là loại áo giống như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai tà trước
không buộc lại, mặc cùng váy thâm đen.
c/ Do việc đồng áng, chiếc áo giao lãnh được thu gọn thành áo tứ thân với hai tà trước vốn
được thả tự do nay cột lại cho gọn gàng, mặc cùng váy xắn quai cồng tiện cho việc lao
động. Đó là chiếc áo tứ thân dành cho người phụ nữ lao động bình dân. Còn áo tứ thân
dành cho phụ nữ thuộc tầng lớp quí tộc, quan lại thì lại khác: Ngoài cùng là chiếc áo the
thâm màu nâu non, chiếc áo thứ hai màu mỡ gà, chiếc áo thứ ba màu cánh sen. Khi mặc
không cài kín cổ, để lộ ba màu áo. Bên trong mặc chiếc yếm đào đỏ thắm. Thắt lưng lụa
màu hồng đào hoặc màu thiên lý. Mặc với váy màu đen, đầu đội nón quai thao trông rất
duyên dáng.


Áo tứ thân không chỉ là một trang phục đẹp mà còn mang theo những ý nghĩa rất đặc biệt:
Phía trước có hai tà, phía sau có hai tà (vạt áo) tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu (cha mẹ
chồng và cha mẹ vợ). Một vạt cụt có tác dụng như một cái yếm, nằm phía bên trong hai
vạt lớn, tượng trưng cho cha mẹ ôm ấp đứa con vào lòng. Năm hạt nút nằm cân xứng năm
vị trí cố định, giữ cho nếp áo được ngay thẳng, kín đáo tượng trưng cho năm đạo làm
người: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Hai vạt trước buộc lại tượng trưng cho tình chồng vợ
quấn quýt.
d/ Khi Pháp xâm lược nước ta, chiếc áo dài lại một lần nữa thay đổi. Chiếc áo tứ thân được
thay đổi thành chiếc áo dài. Chiếc áo dài này do một họa sĩ tên Cát Tường (tiếng Pháp là
Lemur) sáng tạo nên nó được gọi là áo dài Lemur. Chiếc áo dài Lemur này mang nhiều nét
Tây phương không phù hợp với văn hóa Việt Nam nên không được mọi người ủng hộ.
e/ Năm 1934, họa sĩ Lê Phổ đã bỏ bớt những nét cứng cỏi của áo Lemur, đồng thời đưa các
yếu tố dân tộc từ áo từ thân thành kiểu áo dài cổ kính, ôm sát thân, hai vạt trước được tự
do tung bay. Chiếc áo dài này hài hòa giữa cũ và mới lại phù hợp với văn hóa Á đông nên
rất được ưa chuộng.
h/ Chiếc áo dài ngày nay: Trải qua bao năm tháng, trước sự phát triển của xã hội chiếc áo
dài ngày nay dần được thay đổi và hoàn thiện hơn để phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ và

Do chất liệu vải mềm mại nên áo dài đòi hỏi phải được bảo quản cẩn thận. Mặc xong nên
giặt ngay để tránh ẩm mốc, giặt bằng tay, treo bằng móc áo, không phơi trực tiếp dưới ánh
nắng để tránh gây bạc màu. Sau đó ủi với nhiệt độ vừa phải, treo vào mắc áo và cất vào tủ.
Bảo quản tốt thì áo dài sẽ mặc bền, giữ được dáng áo và mình vải đẹp.
Chiếc áo dài may đẹp là đường chỉ phải sắc sảo, ôm sát, vừa vặn với người mặc.
Ở Nam bộ, chiếc áo dài được cách điệu thành áo bà ba mặc với quần đen ống rộng cũng
rất đẹp.
Chiếc áo dài khi mặc thường được được đi kèm với chiếc nón lá đội đầu càng tôn vẻ dịu
dàng nữ tính của người phụ nữ Việt Nam.
KB:
Dù hiện nay có nhiều mẫu thời trang ra đời rất đẹp và hiện đại nhưng vẫn không có mẫu
trang phục nào thay thế được chiếc áo dài – trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt
Nam ta: dịu dàng, duyên dáng nhưng cũng rất hợp mốt, hợp thời.
Một ngày đẹp trời, khi bác nông dân đi vắng, các loài vật nuôi trong nhà liền tổ chức buổi
họp mặt với nhau và bình chọn xem loài nào có công nhiều nhất với con người. Các bạn
chó, mèo và gà hào hứng kể về những công trạng của mình. Tuy hiền lành, ít nói, nhưng họ
nhà trâu của tôi cũng giúp ích cho con người nhiều không kém các bạn ấy. Chúng tôi còn
mang niềm tự hào là con vật gần gũi, gắn bó với nhà nông khắp mọi miền đất nước. Tôi xin
tự giới thiệu về loài trâu của mình để các bạn hiểu rõ hơn nhé.
Trâu là động vật thuộc họ Bò, phân bộ Nhai lại, nhóm Sừng rỗng, bộ Guốc chẵn. Trên thế
giới có rất nhiều bà con xa của chúng tôi với nhiều đặc điểm ngoại hình khác nhau. Riêng
chúng tôi là trâu Việt Nam, có nguồn gốc từ trâu rừng, thuộc nhóm trâu đầm lầy.
Cả họ nhà trâu ai cũng có thân hình vạm vỡ, lực lưỡng. Trên người chúng tôi phủ một lớp
lông màu xám trắng hoặc đen bóng lưỡng. Đặc điểm nổi bật của họ nhà trâu là cặp sừng
cong cong, hình lưỡi liềm, rỗng bên trong. Chính cặp sừng này đã mang lại vẻ đẹp mạnh mẽ
rất riêng cho loài trâu và đó cũng là niềm tự hào của giống loài chúng tôi.


Chính vì vẻ ngoài khỏe mạnh đó mà loài trâu giúp ích được cho con người rất nhiều, đặc
biệt là các bác nông dân. Từ thuở xa xưa, loài trâu đã được con người thuần hóa và nuôi

Br2, H2, CuO, Cl2. Số các đơn chất và hợp chất trong các chất trên là
A. 6 hợp chất và 2 đơn chất.
C. 3 hợp chất và 5 đơn chất.
B. 5 hợp chất và 3 đơn chất.
D. 4 hợp chất và 4 đơn chất.
Câu 2. Công thức hoá học của hợp chất gồm nguyên tố X có hoá trị III và nhóm OH có hoá
trị
I

A. X(OH)3.
B. XOH.
C. X3(OH).
D. X3(OH)2.
Câu 3. Cho phương trình hoá học sau: ?Al + 6HCl → ?AlCl3 + ?H2
Hệ số thích hợp đặt vào dấu chấm hỏi trong phương trình hoá học trên lần lượt là
A. 2, 2, 2.
B. 2, 2, 3.
C. 3, 3, 2.
D. 2, 6, 3
Câu 4. Cho khối lượng mol nguyên tử của magie là 24 g. Vậy 12 g Mg có số mol là
A. 0,5 mol.
B. 1 mol.
C. 1,5 mol.
D. 2 mol.
Câu 5. Hãy chọn từ hoặc cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống trong các câu sau đây: Trong
phản ứng hoá học tổng .............. của các chất ............... bằng tổng .......... các chất ...............
phản ứng.
Câu 6. Hãy điền chữ (Đ) vào câu đúng và chữ (S) vào câu sai trong các câu sau đây:
1
􀁆 Nguyên

3. C(IV) với O
d) Al3O2
4. Na(I) với O
e) CuO
g) Na2O
1……; 2 ………; 3………;4………….
II. Tự luận (5 điểm)
Câu 8. (1điểm) Hoàn thành các phương trình hoá học sau :
a)
P
+
O2 →
P2O5
b) CuCl2 + NaOH → NaCl + Cu(OH)2
Câu 9. (2 điểm) Viết công thức tính số mol chất và công thức tính thể tích chất khí
(đktc), (ghi chú rõ kí hiệu và đơn vị).
Câu 10. (2 điểm) Tính thành phần trăm theo khối lượng của các nguyên tố trong hợp
chất Al2O3. (Biết Al = 27, O = 16).
I. Trắc nghiệm khách quan (5 điểm)
Khoanh tròn vào chữ A hoặc B, C, D trước phương án chọn đúng để trả lời từ câu 1 đến câu
4.
Câu 1. Có các chất được biểu diễn bằng các công thức hoá học sau : O 2, Zn, CO2, CaCO3,
Br2, H2, CuO, Cl2. Số các đơn chất và hợp chất trong các chất trên là
A. 6 hợp chất và 2 đơn chất.
C. 3 hợp chất và 5 đơn chất.
B. 5 hợp chất và 3 đơn chất.
D. 4 hợp chất và 4 đơn chất.
Câu 2. Công thức hoá học của hợp chất gồm nguyên tố X có hoá trị III và nhóm OH có hoá
trị
I

􀁆 Thức
ăn
bị
ôi
thiu

hiện
tượng
vật

3 􀁆 Hiện tượng chất biến đổi có tạo ra chất khác là hiện tượng vật lí.
4 􀁆 Khối lượng của hạt nhân được coi là khối lượng của nguyên tử.
Câu 7. Tìm công thức hoá học đúng ở cột B ghép với cột A sao cho hợp lí.
Cột A
Cột B
1. Cu (II) với O
a) Al2O3
2. Al (III) với O
b) Cu2O2


3. C(IV) với O
4. Na(I) với O

c) CO2
d) Al3O2
e) CuO
g) Na2O

1……; 2 ………; 3………;4………….

Hệ số thích hợp đặt vào dấu chấm hỏi trong phương trình hoá học trên lần lượt là
A. 2, 2, 2.
B. 2, 2, 3.
C. 3, 3, 2.
D. 2, 6, 3
Câu 4. Cho khối lượng mol nguyên tử của magie là 24 g. Vậy 12 g Mg có số mol là
A. 0,5 mol.
B. 1 mol.
C. 1,5 mol.
D. 2 mol.
Câu 5. Hãy chọn từ hoặc cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống trong các câu sau đây: Trong
phản ứng hoá học tổng .............. của các chất ............... bằng tổng .......... các chất ...............
phản ứng.
Câu 6. Hãy điền chữ (Đ) vào câu đúng và chữ (S) vào câu sai trong các câu sau đây:
1
􀁆 Nguyên
tố
oxi
nhẹ
hơn
nguyên
tố
hiđro.
2
􀁆 Thức
ăn
bị
ôi
thiu


Câu 9. (2 điểm) Viết công thức tính số mol chất và công thức tính thể tích chất khí
(đktc), (ghi chú rõ kí hiệu và đơn vị).
Câu 10. (2 điểm) Tính thành phần trăm theo khối lượng của các nguyên tố trong hợp
chất Al2O3. (Biết Al = 27, O = 16).
I. Trắc nghiệm khách quan (5 điểm)
Khoanh tròn vào chữ A hoặc B, C, D trước phương án chọn đúng để trả lời từ câu 1 đến câu
4.
Câu 1. Có các chất được biểu diễn bằng các công thức hoá học sau : O 2, Zn, CO2, CaCO3,
Br2, H2, CuO, Cl2. Số các đơn chất và hợp chất trong các chất trên là
A. 6 hợp chất và 2 đơn chất.
C. 3 hợp chất và 5 đơn chất.
B. 5 hợp chất và 3 đơn chất.
D. 4 hợp chất và 4 đơn chất.
Câu 2. Công thức hoá học của hợp chất gồm nguyên tố X có hoá trị III và nhóm OH có hoá
trị
I

A. X(OH)3.
B. XOH.
C. X3(OH).
D. X3(OH)2.
Câu 3. Cho phương trình hoá học sau: ?Al + 6HCl → ?AlCl3 + ?H2
Hệ số thích hợp đặt vào dấu chấm hỏi trong phương trình hoá học trên lần lượt là
A. 2, 2, 2.
B. 2, 2, 3.
C. 3, 3, 2.
D. 2, 6, 3
Câu 4. Cho khối lượng mol nguyên tử của magie là 24 g. Vậy 12 g Mg có số mol là
A. 0,5 mol.
B. 1 mol.

Cột B
a) Al2O3
1. Cu (II) với O
b) Cu2O2
2. Al (III) với O
c) CO2
3. C(IV) với O
d) Al3O2
4. Na(I) với O
e) CuO
g) Na2O
1……; 2 ………; 3………;4………….
II. Tự luận (5 điểm)
Câu 8. (1điểm) Hoàn thành các phương trình hoá học sau :
a)
P
+
O2 →
P2O5
b) CuCl2 + NaOH → NaCl + Cu(OH)2
Câu 9. (2 điểm) Viết công thức tính số mol chất và công thức tính thể tích chất khí
(đktc), (ghi chú rõ kí hiệu và đơn vị).
Câu 10. (2 điểm) Tính thành phần trăm theo khối lượng của các nguyên tố trong hợp
chất Al2O3. (Biết Al = 27, O = 16).
I. Trắc nghiệm khách quan (5 điểm)


Khoanh tròn vào chữ A hoặc B, C, D trước phương án chọn đúng để trả lời từ câu 1 đến câu
4.
Câu 1. Có các chất được biểu diễn bằng các công thức hoá học sau : O 2, Zn, CO2, CaCO3,

tố
oxi
nhẹ
hơn
nguyên
tố
hiđro.
2
􀁆 Thức
ăn
bị
ôi
thiu

hiện
tượng
vật

3 􀁆 Hiện tượng chất biến đổi có tạo ra chất khác là hiện tượng vật lí.
4 􀁆 Khối lượng của hạt nhân được coi là khối lượng của nguyên tử.
Câu 7. Tìm công thức hoá học đúng ở cột B ghép với cột A sao cho hợp lí.
Cột A
Cột B
a) Al2O3
1. Cu (II) với O
b) Cu2O2
2. Al (III) với O
c) CO2
3. C(IV) với O
d) Al3O2


A. X(OH)3.
B. XOH.
C. X3(OH).
D. X3(OH)2.
Câu 3. Cho phương trình hoá học sau: ?Al + 6HCl → ?AlCl3 + ?H2
Hệ số thích hợp đặt vào dấu chấm hỏi trong phương trình hoá học trên lần lượt là
A. 2, 2, 2.
B. 2, 2, 3.
C. 3, 3, 2.
D. 2, 6, 3
Câu 4. Cho khối lượng mol nguyên tử của magie là 24 g. Vậy 12 g Mg có số mol là
A. 0,5 mol.
B. 1 mol.
C. 1,5 mol.
D. 2 mol.
Câu 5. Hãy chọn từ hoặc cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống trong các câu sau đây: Trong
phản ứng hoá học tổng .............. của các chất ............... bằng tổng .......... các chất ...............
phản ứng.
Câu 6. Hãy điền chữ (Đ) vào câu đúng và chữ (S) vào câu sai trong các câu sau đây:
1
􀁆 Nguyên
tố
oxi
nhẹ
hơn
nguyên
tố
hiđro.
2

+
O2 →
P2O5
b) CuCl2 + NaOH → NaCl + Cu(OH)2
Câu 9. (2 điểm) Viết công thức tính số mol chất và công thức tính thể tích chất khí
(đktc), (ghi chú rõ kí hiệu và đơn vị).
Câu 10. (2 điểm) Tính thành phần trăm theo khối lượng của các nguyên tố trong hợp
chất Al2O3. (Biết Al = 27, O = 16).
I. Trắc nghiệm khách quan (5 điểm)
Khoanh tròn vào chữ A hoặc B, C, D trước phương án chọn đúng để trả lời từ câu 1 đến câu
4.
Câu 1. Có các chất được biểu diễn bằng các công thức hoá học sau : O 2, Zn, CO2, CaCO3,
Br2, H2, CuO, Cl2. Số các đơn chất và hợp chất trong các chất trên là
A. 6 hợp chất và 2 đơn chất.
C. 3 hợp chất và 5 đơn chất.
B. 5 hợp chất và 3 đơn chất.
D. 4 hợp chất và 4 đơn chất.
Câu 2. Công thức hoá học của hợp chất gồm nguyên tố X có hoá trị III và nhóm OH có hoá
trị
I

A. X(OH)3.
B. XOH.
C. X3(OH).
D. X3(OH)2.
Câu 3. Cho phương trình hoá học sau: ?Al + 6HCl → ?AlCl3 + ?H2
Hệ số thích hợp đặt vào dấu chấm hỏi trong phương trình hoá học trên lần lượt là
A. 2, 2, 2.
B. 2, 2, 3.
C. 3, 3, 2.

vật

3 􀁆 Hiện tượng chất biến đổi có tạo ra chất khác là hiện tượng vật lí.
4 􀁆 Khối lượng của hạt nhân được coi là khối lượng của nguyên tử.
Câu 7. Tìm công thức hoá học đúng ở cột B ghép với cột A sao cho hợp lí.
Cột A
Cột B
a) Al2O3
1. Cu (II) với O
b) Cu2O2
2. Al (III) với O
c) CO2
3. C(IV) với O
d) Al3O2
4. Na(I) với O
e) CuO
g) Na2O
1……; 2 ………; 3………;4………….
II. Tự luận (5 điểm)
Câu 8. (1điểm) Hoàn thành các phương trình hoá học sau :
a)
P
+
O2 →
P2O5
b) CuCl2 + NaOH → NaCl + Cu(OH)2
Câu 9. (2 điểm) Viết công thức tính số mol chất và công thức tính thể tích chất khí
(đktc), (ghi chú rõ kí hiệu và đơn vị).
Câu 10. (2 điểm) Tính thành phần trăm theo khối lượng của các nguyên tố trong hợp
chất Al2O3. (Biết Al = 27, O = 16).

phản ứng.
Câu 6. Hãy điền chữ (Đ) vào câu đúng và chữ (S) vào câu sai trong các câu sau đây:
1
􀁆 Nguyên
tố
oxi
nhẹ
hơn
nguyên
tố
hiđro.
2
􀁆 Thức
ăn
bị
ôi
thiu

hiện
tượng
vật

3 􀁆 Hiện tượng chất biến đổi có tạo ra chất khác là hiện tượng vật lí.
4 􀁆 Khối lượng của hạt nhân được coi là khối lượng của nguyên tử.


Câu 7. Tìm công thức hoá học đúng ở cột B ghép với cột A sao cho hợp lí.
Cột A
Cột B
a) Al2O3

D. 4 hợp chất và 4 đơn chất.
Câu 2. Công thức hoá học của hợp chất gồm nguyên tố X có hoá trị III và nhóm OH có hoá
trị
I

A. X(OH)3.
B. XOH.
C. X3(OH).
D. X3(OH)2.
Câu 3. Cho phương trình hoá học sau: ?Al + 6HCl → ?AlCl3 + ?H2
Hệ số thích hợp đặt vào dấu chấm hỏi trong phương trình hoá học trên lần lượt là
A. 2, 2, 2.
B. 2, 2, 3.
C. 3, 3, 2.
D. 2, 6, 3
Câu 4. Cho khối lượng mol nguyên tử của magie là 24 g. Vậy 12 g Mg có số mol là
A. 0,5 mol.
B. 1 mol.
C. 1,5 mol.
D. 2 mol.
Câu 5. Hãy chọn từ hoặc cụm từ thích hợp điền vào chỗ trống trong các câu sau đây: Trong
phản ứng hoá học tổng .............. của các chất ............... bằng tổng .......... các chất ...............
phản ứng.
Câu 6. Hãy điền chữ (Đ) vào câu đúng và chữ (S) vào câu sai trong các câu sau đây:
1
􀁆 Nguyên
tố
oxi
nhẹ
hơn

g) Na2O
1……; 2 ………; 3………;4………….
II. Tự luận (5 điểm)
Câu 8. (1điểm) Hoàn thành các phương trình hoá học sau :
a)
P
+
O2 →
P2O5
b) CuCl2 + NaOH → NaCl + Cu(OH)2
Câu 9. (2 điểm) Viết công thức tính số mol chất và công thức tính thể tích chất khí
(đktc), (ghi chú rõ kí hiệu và đơn vị).
Câu 10. (2 điểm) Tính thành phần trăm theo khối lượng của các nguyên tố trong hợp
chất Al2O3. (Biết Al = 27, O = 16).
I. Trắc nghiệm khách quan (5 điểm)
Khoanh tròn vào chữ A hoặc B, C, D trước phương án chọn đúng để trả lời từ câu 1 đến câu
4.
Câu 1. Có các chất được biểu diễn bằng các công thức hoá học sau : O 2, Zn, CO2, CaCO3,
Br2, H2, CuO, Cl2. Số các đơn chất và hợp chất trong các chất trên là
A. 6 hợp chất và 2 đơn chất.
C. 3 hợp chất và 5 đơn chất.
B. 5 hợp chất và 3 đơn chất.
D. 4 hợp chất và 4 đơn chất.
Câu 2. Công thức hoá học của hợp chất gồm nguyên tố X có hoá trị III và nhóm OH có hoá
trị
I

A. X(OH)3.
B. XOH.
C. X3(OH).



- Tế bào cơ gồm nhiều đơn vị cấu trúc nối liền với nhau nên tế bào cơ dài.
- Mỗi đơn vị cấu trúc có các tơ cơ dày và tơ cơ mảnh bố trí xen kẽ để khi tơ cơ mảnh xuyên
sâu vào vùng phân bố của tơ cơ dày sẽ làm cơ ngắn lại tạo nên sự co cơ.
Câu 6: Khái niệm mỏi cơ? Giải thích nguyên nhân của sự mỏi cơ.
Câu 7: Phân tích những đặc điểm của bộ xương người thích nghi với tư thế đứng thẳng và đi
bằng hai chân.
Cột sống cong 4 chổ (2 chữ S ) => Cân bằng trước sau, trái phải, Lồng ngực phát triển ra 2
bên và phía trước . Xương chậu, xương đùi lớn => Sức gánh lớn sự . Xương gót lớn phát
triển về phía sau,tạo sự cân bằng cho ống chân => thẳng gốc
Câu 8: Trình bày thành phần cấu tạo của máu? Nêu chức năng của huyết tương và hồng cầu
Gồm 55% là huyết tương và 45% là các tế bào máu:
- Huyết tương gồm: 90% là nước, 10% là các chất dinh dưỡng, chất cần thiết khác, chất thải
của tế bào, muối khoáng
- Các tế bào máu gồm:
+ Hồng Cầu: màu hồng, hình đĩa, lõm 2 mặt, không có nhân
+ Bạch cầu: có 5 loại: ưa kiềm, ưa axit, trung tính, limpho và môno: Trongsuốt, kích thước
khá lớn, có nhân
+ Tiểu cầu: chỉ là các mảnh chất tế bào của tế bào sinh tiểu cầu.
+Chức năng:
-Huyết tương: duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch; vận chuyển
các chất dinh dưỡng, các chất cần thiết khác và các chất thải.
- Hồng cầu cận chuyển O2 và CO2.
Câu 9: Môi trường trong của cơ thể gồm những thành phần nào ? Chúng có quan hệ với
nhau như thế nào ?
-Môi trường trong cơ thể gồm: máu, nước mô, bạch huyết.
-Một số thành phần của máu thấm qua thành mạch, tạo thành nước mô, nước mô vận
chuyển õi +chất dinh dưỡng cho tế bào, rồi nhận từ tế bào cacbonic & chất thải, vận chuyển
theo 2 đường, 1 đường theo mạch bạch huyết, 1 đường theo mạch máu cùng đổ về tim rồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status