CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – VẬN DỤNG VÀO PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - Pdf 20

TRƯỜNG ĐHSP TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
(Chương trình sau đại học)
ĐỀ TÀI:
CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN - KẾT QUẢ
CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT –
VẬN DỤNG VÀO PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2014
2
MỤC LỤC
Phần mở đầu 2
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Cấu trúc đề tài 3
CHƯƠNG I – LÍ LUẬN CHUNG VỀ CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ
KẾT QUẢ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.1. Khái niệm nguyên nhân và kết quả 5
1.2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 6
1.2.1. Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả 6
1.2.2. Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau 8
1.3. Một số kết luận về mặt phương pháp luận 9
CHƯƠNG II- VẬN DỤNG PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ VÀO
PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở NUỐC TA HIỆN NAY
2.1. Hiện trạng môi trường, tình hình ô nhiễm và các nguyên nhân chính dẫn đến ô
nhiễm môi trường ở nuốc ta hiện nay 10
2.1.1. Hiện trạng môi trường nước 10
2.1.2. Hiện trạng môi trường không khí 11

nhiễm môi trường nước ta, đặc biệt nhấn mạnh về nguyên nhân và hậu quả
của ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất nên một số giải
pháp của bản thân nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta
hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài giúp tôi có thêm điều kiện củng cố thêm kiến
4
thức bản thân, tìm hiểu thêm nhiều kiến thức về chuyên ngành và Triết học
mà mình chưa rõ và chưa biết đến. Đặc biệt, mục đích của đề tài là giúp tôi
tìm hiểu được phần nào mối quan hệ giữa Triết học và Địa Lí học thông qua
nội dung kiến thức chuyên ngành Địa Lí. Đồng thời, qua tìm hiểu nội dung đề
tài rất giúp ích cho việc giảng dạy của tôi hiện tại và sau này.
Chính vì vậy nhiệm vụ của bài tiểu luận tập trung vào giải quyết các
vấn đề chính:
- Trình bày những kiến thức cơ bản về một trong những cặp phạm trù
cơ bản của phép biện chứng duy vật thuộc bộ môn Triết học- cặp phạm trù
Nguyên nhân – kết quả.
- Thông qua nội dung cặp phạm trù Nguyên nhân – kết quả, liên hệ
kiến thức thực tế của chuyên ngành để phân tích vấn đề ô nhiểm môi trường ở
nước ta hiện nay.
- Từ đó, có thể đánh giá, đề xuất, kiến nghị một vài giải pháp để nhằm
hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp biện chứng duy vật
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê
5. Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tà tiểu luận gồm có:
- Phần mở đầu

Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của
bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Dù con người
biết hay không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất
yếu gây nên biến đổi nhất định.
7
Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và
những biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo
ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình.
Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và
trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào
không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay
chưa mà thôi. Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối
liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực.
Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong
những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau. Tuy nhiên trong thực
tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn
giống nhau. Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải
được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng
ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy
nhiêu.
1.2. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
1.2.1. Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả
Tuy nhiên không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian
cũng là quan hệ nhân quả. Thí dụ, ngày kế tiếp đêm, mùa hè kế tiếp mùa
xuân, sấm kế tiếp chớp, v.v., nhưng không phải đêm là nguyên nhân của
ngày, mùa xuân là nguyên nhân của mùa hè, chớp là nguyên nhân của sấm,
v.v Cái phân biệt quan hệ nhân quả với quan hệ kế tiếp về mặt thời gian là ở
chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau. Nguyên nhân của
ngày và đêm là do sự quay của trái đất quanh trục Bắc - Nam của nó, nên ánh
sáng mặt trời chỉ chiếu sáng được phần bề mặt trái đất hướng về phía mặt trời.

9
phần kinh tế đều có điều kiện phát triển, trong đó thành phần kinh tế nhà nước
phải đủ sức giữ vai trò chủ đạo, hướng các thành phần kinh tế khác hoạt động
theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phải tăng cường vai trò quản lý của Nhà
nước đối với nền kinh tế bằng luật pháp, chính sách, v.v. thích hợp. Nếu
không như vậy, nền kinh tế sẽ trở nên hỗn loạn và năng lực sản xuất của các
thành phần kinh tế có thể triệt tiêu lẫn nhau. Do vậy phải tìm hiểu kỹ vị trí,
vai trò của từng nguyên nhân.
1.2.2. Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau
Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ
này là nguyên nhân, nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
Vì vậy, Ph.Ăngghen nhận xét rằng: Nguyên nhân và kết quả là những khái
niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một
trường hợp riêng biệt nhất định. Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường
hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì
những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua
lại một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí
cho nhau. Chuỗi nhân quả là vô cùng, không có bắt đầu và không có kết thúc.
Một hiện tượng nào đấy được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở
trong một quan hệ xác định cụ thể.
Trong những quan hệ xác định, kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng
sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân. Sự
ảnh hưởng đó có thể diễn ra theo hai hướng: Thúc đẩy sự hoạt động của
nguyên nhân (hướng tích cực), hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân
(hướng tiêu cực). Thí dụ, trình độ dân trí thấp do kinh tế kém phát triển, ít đầu
tư cho giáo dục. Nhưng dân trí thấp lại là nhân tố cản trở việc áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì vậy lại kìm hãm sản xuất phát triển. Ngược
lại, trình độ dân trí cao là kết quả của chính sách phát triển kinh tế và giáo dục
10
đúng đắn. Đến lượt nó, dân trí cao lại tác động tích cực đến sự phát triển kinh

3
/ngày. Tỷ lệ dân đô thị được cấp
nước sạch tăng từ 47% năm 1995, lên 67% năm 2005. Cung cấp nước sạch ở
nông thôn chủ yếu vẫn là do nhân dân tự giải quyết, chủ yếu vẫn là sử dụng
nước giếng khoan, ao, hồ… Nguồn cung cấp nước cho đô thị và nông thôn
chủ yếu lấy từ nước mặt khoảng 70%, nước ngầm khoảng 30% (Cục môi
trường báo cáo quan trắc 12-2005).
Nguồn nước mặt bao gồm: ao, hồ, sông, suối. đây là nguồn nước rất
phong phú, tuy nhiên do đô thị hóa và công nghiệp hóa phát triển nhanh đã
gây ô nhiễm nguồn nước này. Theo báo cáo mới nhất của Bộ Tài Nguyên và
Môi Trường thì hầu hết nguồn nước các sông, ao hồ ở đô thị cũng như ở nông
thôn đều bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là ở các đô thị.
Điều này là do các nguyên nhân:
- Trước tiên, nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường nước là nước
thải sinh hoạt. Trong nước thải sinh hoạt thường gặp các hợp chất hữu
cơ như: Cacbon, Albumin có nguồn gốc từ động vật, các chất béo, các
chất dầu… Còn các chất vô cơ phổ biến thường gặp là các muối dễ hòa
tan ở dạng ion như: Na, K, Ca, Mg, Cl…, nước thải sinh hoạt thường
xuyên chứa các loại vi khuẩn gây bệnh. Hàm lượng ô xi hòa tan (DO) ở
các sông, kênh, rạch thoát nước ở các đô thị thường rất nhỏ, hàm lượng
DO < 2mg/l.
12
- Một nguyên nhân khác cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi
trường nước là nước thải công nghiệp ở các đô thị và khu công nghiệp
với thành phần gồm nhiều chất độc hại như: chất tẩy rửa, chất dung
môi, thuốc nhuộm, các chất có chứa clo… thường không được sử lí mà
đổ trực tiếp ra các sông hồ thoát nước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối
với môi trường.
- Ngoài ra, các loại nước thải khác như nước thải y tế, nước thải nông
nghiệp… cũng góp phần lớn vào việc gây ô nhiễm môi trường.

2
, CO, NO
2
ở một số khu công nghiệp, các nút giao thông
lớn vượt quám ức độ cho phép nhiều lần. Ví dụ: Tại Hà Nội, mỗi năm phải
tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO
2
, 46.000 tấn khí CO
từ hơn 400 cơ sở sản xuất công nghiệp, đó là chưa kề khói của hơn 100 nghìn
ô tô và hơn 1 triệu xe gắn máy”.
• Ô nhiễm chì trong không khí
Việc ô nhiễm chì chủ yếu do các phương tiện giao thông chạy xăng pha
chì gây ra. Ô nhiễm chì trong không khí ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con
người.
• Ô nhiễm tiếng ồn
Do hệ thống giao thông và công nghiệp ngày càng phát triển nên ở cạnh
các khu công nghiệp hay đường giao thông đều bị ô nhiễm tiếng ồn nghiêm
trọng.
Tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng nặng là nguyên nhân chính gây ra
kết quả khiến người dân sinh sống ở Hà Nội ngày càng có nhiều người bị
bệnh về đường hô hấp. Theo kết quả khảo sát, chỉ riêng khu vực nội thành,
với dân số khoảng 1,4 triệu người, nhưng mỗi năm có 625 người chết và 1547
người bị bệnh lien quan tới đường hô hấp do nồng độ TSP trong không khí
ngoài trời vượt quá tiêu chuẩn cho phép ở nước ta.
2.1.3. Ô nhiễm môi trường đất
Đất đai là tài nguyên rất quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, yếu tố quyết
định cấu thành các hệ sinh thái. Do nhiều nguyên nhân đất chia thanh nhiều
14
loại khác nhau: sa mạc, núi rừng, đất nông nghiệp, đất đô thị… Tùy thuộc vào
mức độ đối xử của con người với đất mà có thể phát triển theo chiều hướng

2.2.1. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và ô nhiễm môi trường
Mâu thuẫn chủ yếu là về mặt lợi ích kinh tế vì đối với đa số các doanh
nghiệp việc bỏ ra một số tiền lớn để xây dựng một cơ sở xử lý chất thải công
nghiệp đạt tiêu chuẩn an toàn để tránh làm hại môi trường là rất khó khăn chỉ
có một số ít chất thải được xử lý còn lại hầu hết đều được đổ trức tiếp ra các
hệ thống thoát nước và kênh mương. Hiện nay chỉ có 5/31 bệnh viện ở Hà
Nội là có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện,
36/400 cơ sở chưa có hệ thống xử lý nước thải. Tại Tp. Hồ Chí Minh, chỉ có
24/142 cơ sở y tế lớn có xử lý nước thải, còn khoảng 3000 cơ sở sản xuất gây
ô nhiễm thuộc diện phải di dời.
2.2.2. Mâu thuẫn trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường
Nước ta cò ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường còn rất thấp, một
số nước ASEAN đầu tư cho bảo vệ môi trường 1% GDP, số cán bộ quản lý
môi trường trung bình là 70 người /1 triệu dân, trong khi đó ở Việt Nam mới
chỉ đạt 0,1% và số cán bộ quản lý môi trường là 3 người/1 triệu dân.
Hệ thống văn bản pháp luật về môi trường còn chưa đây đủ và thiếu
đồng bộ một số văn bản đã lạc hậu không phù hợp nhưng chưa được thay thế,
sửa đổi kịp thời. Việc thực thi luật lệ ban hành chưa nghiêm nên hậu quả là
vẫn có rất nhiều cá nhân, tổ chức vi phạm luật bảo vệ môi trường làm cho môi
trường ngày càng ô nhiễm.
“ Theo Sở Tài Nguyên và Môi Trường, vướng mắc chủ yếu hiện nay là
cơ chế chính sách chưa rõ rang, nhất là phần xác định quyền lợi, trách nhiệm
của cơ sở gây ô nhiễm, để các doanh nghiệp yên tâm cần tạo điều kiện để các
16
doanh nghiệp trong diện phải di dời có đủ kinh phí để ổn định phát triển sản
xuất tại nơi ở mới.” (trích dẫn đề xuất của Sở TNMT Nam Định).
2.2.3. Công tác vận động tuyên truyền bảo vệ môi trường còn kém
Việc tuyên truyền vận động bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay còn
rất kém, chưa có một hệ thống tuyên truyền, giáo dục đúng cách mà hầu như
chỉ là cá nhân, nhỏ lẻ nên kết quả thu được là không cao, trong khi đó có rất

tượng trong tự nhiên và cuộc sống của chúng tác đều có mối liên hệ, tác động
qua lại với nhau. Chúng tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau, khi tác động tới một
nhân tố này thì chúng ta cần phải xem xét toàn diện ảnh hưởng của tác động
đó lên các nhân tố còn lại, từ đó chúng ta sẽ biết trước phần nào ảnh hưởng
tốt, xấu khi tác động vào một sự vật.
Bài tiểu luận sử dụng kiến thức thức triết học, đặc biệt là cặp phạm trù
nguyên nhân – kết quả của phép biện chứng duy vật, giúp cho vấn đề ô nhiễm
môi trường ở nước ta được thể hiện rõ ràng hơn. Trước những tình hình thực
tế về ô nhiễm môi trường, và những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở
nước ta. Đảng, Nhà Nước và nhân dân phải cùng đồng lòng thực hiện các biện
pháp nhằm hạn chế và cải tạo hình hình môi trường hiện nay ở nước ta, từ đó
nâng cao chất lượng môi trường, cần phải có sự quan tâm và tham gia của tất
cả mọi người. Chính vì vậy cần có các chính sách khuyến khích các cá nhân
và tổ chức thực hiện hóa chủ trương của Đảng : Bảo vệ môi trường là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân” để làm tốt nhiệm vụ phát triển bền vững môi
trường đất nước thế kỉ 21, bảo vệ môi trường hôm nay và xây dựng một môi
trường tốt đẹp cho mai sau.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Nguyễn Ngọc Khá, TS Nguyễn Chương Nhiếp (năm 2011), Hỏi đáp
Triết học Mac – Lê Nin, NXB trẻ.
2. GS – TS Nguyễn Ngọc Long, GS – TS Nguyễn Hữu Vui, PGS Vũ Ngọc
Phan (năm 2001), Triết học Tập 3, NXB Chính trị quốc gia.
3. GS – TS. Nguyễn Ngọc Long, GS – TS Nguyễn Hữu Vui (năm 2005),
Giáo Trình Triết Học Mac – Lê Nin, NXB Chính Trị Quốc Gia.
4. PGS – TS. Đoàn Quang Thọ (Năm 2008.), Giáo Trình Triết học Dùng cho
học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học,
NXBChính Trị - Hành Chính Hà Nội.
5. TS. Trương Văn Phước (năm 1998), Hướng dẫn ôn thi triết học Mac-
LêNin,NXB Chính trị quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status