TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT
QUẢ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO PHÂN
TÍCH THỰC TRẠNG NỢ XẤU TRONG LĨNH VỰC NGÂN
HÀNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhóm 5 Lớp Đ1 Khóa 24
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Nhóm trưởng: Đặng Thị Thùy Dung
Thành viên 1: Bạch Phương Công
Thành viên 2: Lê Anh Duy
TP.Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2015
BÁO CÁO CỦA NHÓM TRƯỞNG
1. Sơ lược về công việc của các thành viên trong nhóm và sự phù hợp của đề
tài:
Ba thành viên của nhóm đang làm việc trong ba lĩnh vực khác nhau nên nhóm nhất
trí lựa chọn một đề tài mà hiện nay là một trong những vấn đề cấp thiết cần giải
quyết và có liên quan đến ngành nghề của các thành viên là lĩnh vực tài chính ngân hàng, nhằm giúp các thành viên có cảm hứng phân tích sâu hơn thông qua
quá trình làm việc, dưới góc nhìn và kinh nghiệm làm việc của mỗi cá nhân, hơn
nữa việc phân tích đề tài phải giúp ích được cho công việc của mình. Sau khi tìm
hiểu lý thuyết, các thành viên trong nhóm yêu thích và mong muốn tìm hiểu sâu về
nguyên nhân và kết quả vấn đề nợ xấu ngân hàng từ đó nhóm có thể đưa ra các giải
pháp . Đề tài này liên quan đến công việc của các thành viên như sau:
Đặng Thị Thùy Dung (Nhóm trưởng): Hiện đang là nhân viên kế toán. Công
Ngày 09 – 14/11: Tìm hiểu phần lý thuyết lý luận triết học Mác - Lênin về cặp
phạm trù nguyên nhân và kết quả, cá nhân tự xây dựng đề cương chi tiết.
-
Ngày 15/11: Họp nhóm, hoàn chỉnh đề cương.
Giai đoạn 2: Tìm hiểu lý thuyết: (16/11/2014 – 26/11/2014)
-
Từ ngày 16/11/2014 – 20/11/2014: Cá nhân tự tìm hiểu phần lý thuyết theo
phân công.
-
Ngày 21/11/2014: Họp nhóm, tổng hợp phần lý thuyết, phân công chỉnh sửa.
-
Ngày 22 – 25/11/2014: Cá nhân tự chỉnh sửa phần lý thuyết.
-
Ngày 26/11/2014: Hoàn chỉnh phần lý thuyết.
Giai đoạn 3: Phần ứng dụng: (27/11/2014 – 31/12/2014)
-
Ngày 27/11/2014 – 10/12/2014: Cá nhân tự làm phần ứng dụng theo phân công.
Đánh giá
100%
tổng hợp bài, theo dõi quá trình
Hoàn thành tốt nhiệm vụ,
làm bài của các thành viên
có trách nhiệm trong
Tìm hiểu phần lý thuyết lý luận
công việc, nộp bài đúng
triết học Mác - Lênin về cặp
hạn, giúp đỡ và hỗ trợ các
phạm trù nguyên nhân và kết
thành viên khác trong
quả.
nhóm, góp ý tích cực
Tìm hiểu thực trạng nợ xấu trong
Lê Anh Duy
Tìm hiểu phần lý thuyết lý luận
100%
triết học Mác - Lênin về cặp
Hoàn thành tốt nhiệm vụ,
phạm trù nguyên nhân và kết
có trách nhiệm trong
quả.
công việc, nộp bài đúng
Tìm hiểu thực trạng nợ xấu trong hạn, giúp đỡ và hỗ trợ các
lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam
thành viên khác trong
hiện nay, vận dụng cặp phạm trù nhóm, góp ý tích cực
nguyên nhân và kết quả để phân
tích nó.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QĐ
-
Quyết định
-
XLRR
-
Xử lý rủi ro
-
VAS
-
Accounting Standards (Chuẩn mực kế toán Việt Nam)
-
IAS
-
International Accounting Standard (Chuẩn mực kế toán
quốc tế)
Ngân hàng thương mại
-
GTGT
-
Gía trị gia tăng
-
VAFI
-
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ---------------------------------------------------------------------------- 1
1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ------------------------------------------------------ 1
2. Tài liệu sử dụng để thực hiện đề tài ------------------------------------------------- 2
3. Bố cục của bài tiểu luận--------------------------------------------------------------- 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ CẶP PHẠM TRÙ
NGUYÊN NHÂN – KẾT QUẢ ------------------------------------------------------- 3
1.1 Khái niệm về cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả ----------------------------- 3
1.2 Tính chất của mối quan hệ nhân quả ---------------------------------------------- 3
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả--------------------------- 4
Với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng
khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất, bao quát các lĩnh vực kinh tế, tự nhiên,
xã hội, và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản. Trong đó, mối quan hệ nguyên nhân
và kết quả là mối quan hệ cơ bản của triết học và liên quan tới mọi mặt trong đời
sống xã hội. Chính vì vậy, mối quan hệ này đã được nhận thức từ sớm và đưa vào
nhiều học thuyết thời cổ đại. Các nhà triết học Hy Lạp như Lơsip và Đêmôcrit
khẳng định: “không có sự vật nào xuất hiện nếu thiếu nguyên nhân, mọi sự vật đều
xuất hiện trên cơ sở nào đó do tính tất yếu”. Sở dĩ cặp phạm trù nguyên nhân và kết
quả được các thời đại quan tâm như vậy vì bất cứ biến cố nào cũng có nguyên nhân
của nó. Chỉ khi nào tìm đúng nguyên nhân thì ta mới có thể định ra những phương
pháp xử lí có hiệu quả. Thời gian qua, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương
mại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Vấn đề trọng tâm hiện
nay là xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, bởi nó làm tắc nghẽn dòng
tín dụng trong nền kinh tế Việt Nam. Do vậy, nợ xấu không chỉ là vấn đề của các
ngân hàng cần phải giải quyết mà cần có sự chỉ đạo chung của nhà nước. Các ngân
hàng cần phải nhận thức đúng về nợ xấu, đồng thời tìm và phân tích được nguyên
nhân để từ đó đưa ra giải pháp khắc phục phù hợp. Chính vì lẽ đó, để góp phần đáp
ứng đòi hỏi từ thực tiễn nêu trên nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Vận dụng cặp
phạm trù nguyên nhân và kết quả của phép biện chứng duy vật vào phân tích thực
trạng nợ xấu ngân hàng ở Việt Nam hiện nay”.
1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất là: Tìm hiểu rõ phần lý thuyết lý luận triết học Mác - Lênin về cặp phạm
trù nguyên nhân và kết quả của phép biện chứng duy vật và biết cách ứng dụng nó
vào thực tiễn xã hội.
Thứ hai là: Trên cơ sở phân tích sâu cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả của phép
biện chứng duy vật để vận dụng vào phân tích thực trạng nợ xấu ngân hàng ở Việt
1
tạo ra sự biến đổi nhất định kèm theo.
Trong triết học, phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi nhất định xuất hiện
do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các
sự vật, hiện tượng.
1.2 Tính chất của mối quan hệ nhân quả:
Tính khách quan: Mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không
phụ thuộc vào ý thức của con người. Dù con người biết hay không biết, thì các
sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất
định. Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và những
biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối
liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình. Quan điểm duy tâm không
thừa nhận mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan trong bản thân sự vật. Họ
cho rằng, mối liên hệ nhân quả là do Thượng đế sinh ra hoặc do cảm giác con
người quy định.
Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có
nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có nguyên
nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi.
Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả
với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực.
Tính tất yếu: Cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống
nhau sẽ gây ra kết quả như nhau. Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật
nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau. Do vậy tính
3
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: Nguyên nhân
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
Những nguyên nhân có tác động cùng hướng hoặc khác hướng sẽ tăng cường hoặc
triệt tiêu tác dụng của nhau trong quá trình sinh ra kết quả. Nếu nhiều nguyên nhân
cùng tồn tại và tác động cùng chiều trong một sự vật, hiện tượng thì chúng sẽ gây
ảnh hưởng cùng chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh
hơn. Ngược lại, nếu các nguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau
thì sẽ cản trở tác dụng của nhau hay thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau và ngăn
cản sự xuất hiện của kết quả.
1.3.3 Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân và sự chuyển hóa của
nguyên nhân-kết quả
Mối liên hệ nhân quả có tính chất tác động qua lại lẫn nhau trong đó không những
nguyên nhân sinh ra kết quả mà kết quả còn tác động trở lại đối với nguyên nhân đã
sinh ra nó, làm cho những nguyên nhân cũng biến đổi bởi vì nguyên nhân sinh ra
kết quả bao giờ cũng là một quá trình. Sự tác động trở lại của kết quả đối với
nguyên nhân chính là sự ảnh hưởng thường xuyên lẫn nhau giữa nguyên nhân và
kết quả, gây nên sự biến đổi giữa chúng. Nguyên nhân và kết quả thường xuyên
chuyển hóa lẫn nhau.Trong thế giới vô tận, nguyên nhân sinh ra kết quả, đến lượt
nó kết quả chuyển hóa thành nguyên nhân mới sinh ra kết quả mới,.. là vô tận.
Chính vì thế, trong thế giới ta không thể chỉ ra được đâu là nguyên nhân đầu tiên và
đâu là kết quả cuối cùng.
5
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây được coi là định nghĩa của
IAS đang được áp dụng phổ biến hiện hành trên thế giới.
2.2 Tình hình nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay:
Ở diễn biến chung, theo cơ quan chuyên trách của Ngân hàng Nhà nước đưa ra gần
đây, đến hết tháng 2/2014, nợ xấu của toàn hệ thống vào khoảng 122.000 tỷ đồng,
tương ứng với tỷ lệ 3.86%). Nếu tính cả các khoản nợ được cơ cấu theo Quyết định
780, nợ xấu của toàn hệ thống lên tới gần 308.000 tỷ đồng (chiếm 9.71% dư nợ).
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10/2014, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước
cho biết, việc xử lý nợ xấu thời gian qua đạt kết quả khả quan. Tính đến giữa tháng
9, nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng là 5,43% và đến cuối năm 2015, có thể đạt
được mục tiêu đưa nợ xấu về mức 3%.
Tăng trưởng tín dụng tiếp tục có những cải thiện trong những tháng gần đây, cụ thể
đến ngày 20/8 tăng 4,07%; đến ngày 22/9 tăng 6,62% và đến ngày 20/10 tăng
7,46% so với cuối năm 2013 (cùng kỳ tăng 6,43%). Theo Ngân hàng Nhà nước,
tăng trưởng tín dụng chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, khoản đầu tư vào
trái phiếu Chính phủ của các tổ chức tín dụng không tính vào số liệu tăng trưởng
tín dụng.
Như vậy, từ khi triển khai Đề án xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng từ năm
2012 đến tháng 10/2014, cả nước đã giảm tỷ lệ nợ xấu từ 17% xuống còn 5,43%;
giảm từ khoảng 460 ngàn tỷ đồng xuống còn 252 ngàn tỷ đồng (giảm 54,3%).
VAMC đến hết tháng 9 đã mua vào khoảng 125 ngàn tỷ đồng nợ xấu và phấn đấu
hết năm 2014 phấn đấu mua từ 130 đến 150 ngàn tỷ đồng nợ xấu. Hiện VAMC
cũng đã bán được 4.000 tỷ đồng nợ xấu và tiếp tục bán khi thị trường đảm bảo việc
bán nợ xấu có lợi nhất.
2.3.2 Nguyên nhân nào kết quả nấy
Kết quả nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay do nhiều nhóm nguyên
nhân gây ra như:
Thứ nhất là nhóm nguyên nhân từ sự yếu kém trong chính nội bộ của hệ
thống ngân hàng Việt Nam, có thể nói đây là một nguyên nhân chính dẫn đến
tình trạng nợ xấu nghiêm trọng như hiện nay:
-
Năng lực quản trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng còn
yếu kém. Các ngân hàng chưa chú trọng đến công tác quản trị danh mục cho
8
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
vay dẫn đến việc tập trung cho vay vào một số ít khách hàng với dư nợ lớn làm
gia tăng nguy cơ xảy ra nợ xấu. Ngoài ra một nguyên nhân không kém quan
trọng nữa là công tác dự báo thị trường còn yếu kém dẫn đến tình trạng chạy
theo lợi nhuận, tập trung cho vay vào các ngành nghề rủi ro cao như bất động
sản, chứng khoán,…
-
Các quy định về công bố thông tin chưa đầy đủ và hiệu lực thi hành thấp gây ra
sự thiếu minh bạch. Các ngân hàng lợi dụng kẽ hở này để tiến hành phân loại
nợ không đúng quy định nhằm che dấu tỷ lệ nợ xấu thực của mình, tránh sự
thanh tra kiểm tra của các cơ quan giám sát ngân hàng.
-
liệu nợ xấu có nhiều sai lệch.
-
Vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
9
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
-
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
Thị trường mua bán nợ chưa phát triển, do đó việc xử lý một số lượng nợ xấu
lớn trong một khoảng thời gian ngắn là vô cùng khó khăn.
Thứ ba là nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh và hoạt động của các
doanh nghiệp:
-
Tình hình kinh tế khó khăn đã làm một số lượng lớn các doanh nghiệp phá sản
và giải thể.
-
Nhiều doanh nghiệp có năng lực tài chính yếu kém, hoạt động chủ yếu dựa vào
vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng thích ứng với sự thay đổi
của môi trường kinh doanh kém. Do đó khi môi trường kinh doanh xấu đi,
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
hàng thì sẽ ngày càng bị ăn mòn vào lợi nhuận. Một khi nợ xấu đã đến ngưỡng báo
động, nếu cứ để các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp tự xử lý, thì số lượng
doanh nghiệp dừng hoạt động, phá sản sẽ tiếp tục gia tăng do vẫn đang có nợ xấu
tại ngân hàng, hàng hóa chậm tiêu thụ.
Khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và vô hình đối với xử
lý nợ xấu càng lớn. Về mặt hữu hình là việc các tài sản cầm cố tại ngân hàng sẽ
ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần, nếu nợ xấu
được xử lý nhanh thì các tài sản này sẽ được đem ra sử dụng nhanh chóng tạo nên
giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Về mặt vô hình khi quá trình xử lý nợ xấu
kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm của Việt Nam sẽ khó mà duy trì được mức tín
nhiệm như hiên nay, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư.
Tình trạng BĐS xuống giá như thời gian vừa qua càng làm cho nhu cầu đối với
BĐS giảm mạnh, hàng tồn kho về BĐS ngày càng tăng lên, các doanh nghiệp BĐS
bắt buộc phải hạ giá bán nhưng vẫn không thể bán được, quá trình này diễn ra liên
tục trong thời gian dài dẫn tới hiện tượng bán tháo, tuột dốc không phanh, khi đã
dẫn tới tình trạng bán tháo mà vẫn không có người mua thì số tiền mà các doanh
nghiệp BĐS bán được cũng không thể nào trả hết được nợ gốc cho ngân hàng.
Nợ xấu gia tăng gây mối nguy hại lớn cho nền kinh tế và trực tiếp ảnh hưởng đến
các doanh nghiệp. Có thể thấy kết quả nợ xấu đã thành nguyên nhân mới làm xuất
hiện các kết quả mới. Quá trình cứ như thế tiếp diễn tạo nên chuỗi nhân quả vô tận.
11
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
cao học & nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học, ĐH Kinh
Tế Tp.HCM - Lưu hành nội bộ.
2. Phạm Thị Kim Ánh, 2013. Nợ xấu ngân hàng và các vấn đề xử lý, Tạp chí
khoa học công nghệ, số 2, 2014.
3. Nguyễn Thị Thu Hằng, 2013. Nợ xấu ngân hàng Việt Nam: Một năm nhìn
lại, Tạp chí Ngân hàng, số 6, 2013.
4. Thông cáo báo chí NHNN, 2014. Ý kiến của NHNN về tỷ lệ nợ xấu của hệ
thống ngân hàng Việt Nam.
5. Đào Thị Hồ Hương, 2013. Bàn về hướng xử lý nợ xấu của hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam.
6. Nguyễn Thị Thu Hiền, 2012. Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Gia lai. Luận văn Thạc sĩ
Quản trị Kinh doanh. Trường Đại học Đà Nẵng.
7. Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam và giải pháp tháo gỡ.
< [Ngày truy
cập 30/11/2014].
8. Giải phóng mối lo nợ xấu.
< />[Ngày truy cập 6/12/2014].
9. Liệu nợ xấu đã được hóa giải bớt?
< [Ngày truy cập 10/12/2014].
13
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
PHẦN PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Số liệu nợ xấu tính đến quý 3/2014
và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Rất nhiều giải pháp
được các chuyên gia “hiến kế” để xử lý.
Tiếp sức cho hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM)
Theo TS. Nguyễn Đức Thành – GĐ Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách
(VEPR) - Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhìn vào quá trình tái cơ cấu
ngân hàng và xử lý nợ xấu ngân hàng tại Việt Nam có thể thấy các bước thực hiện
đi theo lộ trình tương đối rõ ràng: Hỗ trợ và khôi phục thanh khoản cho toàn hệ
thống ngân hàng thương mại. Sáp nhập hoặc loại bỏ các ngân hàng và tổ chức tín
dụng yếu kém trong hệ thống ngân hàng. Quá trình này được thực hiện trong các
năm 2013-2014 và vẫn đang tiếp diễn. Như kinh nghiệm của tất cả các nước cần
tái cơ cấu hệ thống NHTM, quá trình thu hẹp số lượng các tổ chức tài chính và
ngân hàng đều diễn ra trong giai đoạn này.
Song song với hàng loạt biện pháp trên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) yêu cầu
các ngân hàng phải khai báo đầy đủ và chặt chẽ các khoản nợ xấu. NHTM buộc
phải trích lập dự phòng với các mức quy định cụ thể. Quá trình xử lý nợ xấu ở Việt
Nam có một nguyên tắc là không sử dụng ngân sách, đây là điều khác biệt so với
các nước khi họ đều phải sử dụng nguồn lực từ Ngân sách hay khoản vay quốc tế.
Có thể nói trọng tâm của thời điểm xử lý nợ là NHNN đã thực hiện thông qua hai
biện pháp chính là: yêu cầu các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro để bù đắp các
khoản nợ xấu nhất và thành lập VAMC để tập trung xử lý các khoản nợ xấu trong
hệ thống.
Với mô hình VAMC: Đây là một nỗ lực của NHNN trong bối cảnh bị ràng buộc
về nguồn lực nhằm hỗ trợ hệ thống ở hai khía cạnh: giải quyết các khoản nợ xấu
theo hướng tập trung và chuyên môn hóa hơn và hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết.
Tuy nhiên, do từ nửa cuối năm 2013, thanh khoản không còn là vấn đề lớn của hệ
iii
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
cũng như duy trì các kênh liên lạc giữa ngân hàng và doanh nghiệp để có thông tin
iv
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
NHÓM 5_ĐÊM 1_K24
trao đổi kịp thời. Ngược lại, các doanh nghiệp cũng phải tiến hành trích lập dự
phòng, khi có những phát sinh khoản thu khó đòi.
Thêm vào đó, doanh nghiệp cũng có thể xử lý nợ xấu thông qua việc bán nợ cho
các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp. Việc bán nợ này cũng có thể coi là
phương án xử lý nợ xấu nhanh nhất, giúp chủ nợ thu hồi một phần vốn kinh doanh
để phục vụ cho các nhu cầu và cơ hội kinh doanh mới, nhằm cải thiện tình hình tài
chính.
Tái cấu trúc doanh nghiệp là một trong những gợi ý cụ thể của vị chuyên gia này
trong việc xử lý nợ xấu. “Việc ngân hàng yêu cầu khách hàng thực hiện tái cấu
trúc đưa lại kết quả là công ty có được hoạt động bền vững và không bị rơi vào
tình trạng phá sản”, ông Matthew Lourey nhấn mạnh..
10 giải pháp của VAFI
Hiệp hội các Nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) vừa có bản đề xuất 10 giải
pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.
Thứ nhất, các ngân hàng chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ
xấu, chấp nhận giảm lợi nhuận hoặc thua lỗ. Việc làm này, theo VAFI, sẽ giúp
ngân hàng thương mại nhanh chóng bù đắp tổn thất, giảm số thuế thu nhập doanh
nghiệp. Đồng thời, có thể giảm quỹ lương nhưng làm tăng khả năng tài chính nội
tại của ngân hàng.
Thứ hai, các ngân hàng cần có chính sách tiền lương, tiền thưởng hợp lý trong
giai đoạn khó khăn này. Cách thức này giúp giảm chi phí một cách hợp lý nhằm
hỗ trợ cho việc tăng mức trích lập dự phòng tỷ lệ nợ xấu.