VẬN DỤNG cặp PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN và kết QUẢ của PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật vào PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG nợ CÔNG của VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Tiểu luận triết học

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ
CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO PHÂN TÍCH
THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.

Nhóm 11 Lớp 1 Khóa 24 thực hiện
Nhóm trưởng : Nguyễn Quốc Tân
Thành viên 1 : Khương Thị Phương Thảo
Thành viên 2 : Võ Thị Thu Thảo
Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa

TP.Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2015


LỜI GIỚI THIỆU
Trong quá trình phát triển đất nước, bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều
có nợ công và chính phủ phải điều tiết , giải quyết sao cho tình hình nợ công của đất
nước mình nằm ở mức cho phép. Và Việt Nam cũng không ngoại lệ, tuy nhiên, nợ
công của Việt Nam hiện nay ngày càng tăng cao và có nguy cơ dẫn đến vỡ nợ.
Nguyên nhân đằng sau nó là gì và kết quả ra sao? Do đó, bằng cách “Vận dụng cặp
phạm trù nguyên nhân và kết quả của phép biện chứng duy vật để phân tích thực
trạng nợ công của Việt Nam hiện nay” sẽ giúp hiểu rõ hơn nguyên nhân và kết quả; từ
đó rút ra được những bài học và giải pháp cho tình hình nợ công của Việt Nam hiện
nay.
Bố cục bài tiểu luận gồm 2 phần chính như sau:
Chương I. Cơ sở lý luận.
1. Khái niệm cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả.

nhận thấy mối liên hệ nhân quả tồn tại ở khắp mọi nơi, trong tự nhiên, xã hội và trong
cả tư duy của con người. Không có một hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ trở
ngại ở chỗ nguyên nhân đóđãđược nhận thức hay chưa.
- Tính tất yếu: Một nguyên nhân nhất định trong hoàn cảnh nhất định chỉ có thể
gây ra kết quả nhất định. Ta biết rằng trong thiên nhiên không thể có những sự vật
hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, khái niệm nguyên nhân như nhau trong những hoàn
cảnh hoàn toàn như nhau bao giờ cũng cho kết quả y hệt nhau ở mọi nơi, mọi lúc là
một khái niệm trừu tượng, có những sự vật, hiện tượng về cơ bản là giống nhau thì
trong hoàn cảnh tương đối giống nhau sẽ gây nên những kết quả giống nhau về cơ
bản. Do đó tính tất yếu của mối liên hệ nhân - quả trên thực tế phải được hiểu như sau:


Các nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao
nhiêu thì các kết quả do chúng gây nên cũng càng ít khác nhau bấy nhiêu.

3. Mối quan hệ của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả.
a. Nguyên nhân nào kết quả ấy
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả.
Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động. Trong
thực tế, nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tác động để sinh ra nhiều kết quả khác
nhau. Tuy nhiên trong nhận thức con người thường trừu tượng hóa bỏ qua một số
nguyên nhân không cơ bản, thứ yếu…hay bỏ qua một số kết quả không quan trọng,
không cóý nghĩa với mình.
Khi các nguyên nhân tác động cùng một lúc lên sự vật thì hiệu quả tác động của
từng nguyên nhân tới sự hình thành kết quả sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào hướng tác
động của nó. Nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một
hướng thì chúng sẽ gây ra nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả.
Ngược lại, nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác
nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn thành triệt tiêu các tác dụng của nhau.


gồm ba nhóm là: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa
phương. Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài
nước, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân dân Chính phủ hoặc các
khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định
của pháp luật. Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính
phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong
nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ
do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp
tỉnh) ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ công (nợ Chính phủ hoặc nợ quốc gia)
là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa
phương đi vay nhằm bùđắp cho các khoản thâm hụt ngân sách”. Vì thế, nợ Chính phủ,
nói cách khác, là thâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình
dung quy mô của nợ Chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao
nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP).


Chương II. Vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả vào phân tích
thực trạng nợ công của Việt Nam hiện nay.

1. Tình hình của nợ công Việt Nam hiện nay.
Theo báo cáo của Chính phủ, chỉ tiêu nợ công từ năm 2010-2013 so với GDP
phù hợp với mục tiêu nợ công và nợ nước ngoài của nước ta giai đoạn 2011 - 2020 và
trong giới hạn được Quốc hội cho phép (Nợ công đến năm 2015 không quá 65%
GDP). Nợ công cuối năm 2013 là 1.942.098 tỷ đồng, bằng 54,2% GDP.
Tổng số dư nợ của Chính phủ đến ngày 31-12-2013 là 1.515.968 tỷ đồng, bằng
42,3% GDP, vẫn nằm trong giới hạn cho phép không quá 50% GDP (giới hạn trần về
nợ Chính phủ đãđược Quốc hội cho phép đến năm 2015 không quá 50% GDP).
Cụ thể, tỷ trọng nợ trong nước tăng lên (từ 40,3% năm 2010 lên 49,7% năm

triển đất nước. Và thực tế, các nước muốn phát triển nhanh đều phải đi vay. Những
nền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ, Đức, Nhật Bản… lại cũng chính là những con
nợ lớn. Việt Nam đang trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa với mục tiêu xây
dựng Việt Nam, cơ bản là một nước công nghiệp vào năm 2020, do đóViệt Nam cần
tiền để chi ngân sách, xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ….
Tuy nhiên, chi tiêu công quá lớn và sự quản lý kém hiệu quả gây ra những bất ổn cho
nền kinh tế Việt Nam. Nhu cầu chi tiêu quá nhiều (đặc biệt cho các khoản đầu tư
công) so với nguồn thu cóđược (từ thuế, phí, lệ phí thu được) dẫn đến thâm hụt ngân
sách buộc Chính phủ phải đi vay tiền (trong và ngoài nước) để trang trải thâm hụt
ngân sách dẫn đến nợ công. Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng. Nợ
không trả sớm, để lâu thành “lãi mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm.
- Nguyên nhân thứ yếu: Việt Nam đang dần dần có sự già hóa dân số khiến cho
lực lượng lao động bị thu hẹp sẽ làm cho nguồn thu thuế của Chính phủ bị sụt giảm,
trong khi đó số người nghỉ hưu tăng lên sẽ gây áp lực cho việc tăng chi tiêu chính phủ
trong các khoản lương hưu và chăm sóc sức khỏe… dẫn đến thu không đủ chi, kết quả
là ngân sách bị thâm hụt.

b. Nguyên nhân nào kết quả nấy.
Việt Nam cần vốn để phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, an ninh quốc phòng …
mà thu không đủ chi, phải đi vay mượn; kết quả là dẫn đến nợ công. Nếu như ngân
sách của Việt Nam thặng dư, thu vượt chi thì Việt Nam không cần đi vay mượn, nợ
công của Việt Nam sẽ không xảy ra. Tuy nhiên thực tế là Việt Nam đang thâm hụt
ngân sách, cần phải đi vay mượn và kết quả nợ công Việt Nam xuất hiện đó là điều tất
nhiên, bởi vì nguyên nhân đã xảy ra sẽ theo kết quả xảy ra sau nó. Và kết quả nợ công
của Việt Nam do nhiều nguyên nhân gây ra như:
Thứ nhất, do bội chi ngân sách lớn và kéo dài khiến vay nợ trở thành nguồn lực
chính để bùđắp vào thâm hụt ngân sách.


Đây là nguyên nhân khiến tình hình nợ công ngày càng trở thành gánh nặng cho



Sự mất giá của tiền đồng Việt Nam đã tạo ra nhiều khó khăn hơn cho các doanh
nghiệp trong việc trả nợ, khiến nợ công ngày càng gia tăng.
Thứ ba, thâm hụt ngân sách đã trở thành căn bệnh kinh niên, đầu tư lại không
ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất cao khiến cho việc hoàn trả nợ công
ngày càng trở nên đắt đỏ.
Việc vay mượn để đầu tư công, giúp đất nước phát triển. Đây là một kết quả tích
cực, nhưng nó lại trở thành nguyên nhân mới sản sinh ra kết quả mới là nợ công tăng
cao, gây thâm hụt ngân sách. Kết quả thâm hụt ngân sách khi vượt mức chịu đựng
được của nền kinh tế Việt Nam, lúc này lượng đổi sẽ khiến chất đổi, làm cho nền kinh
tế Việt Nam khủng hoảng.
Thứ tư, đầu tư công cao và kém hiệu quả trong bối cảnh tiết kiệm của Việt Nam
giảm là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ công.
Chi tiêu cho đầu tư công ở Việt Nam thời gian qua liên tục gia tăng khiến nợ
công tăng mạnh, gây hiệu ứng nghịch cho hiệu suất tăng trưởng. Nợ công Việt Nam
được coi là nguy cơ tiềm ẩn của khủng hoảng và bất ổn định, tạo gánh nặng cho nền
kinh tế, làm giảm hoặc trì hoãn đầu tư tư nhân. Do đầu tư công kém hiệu quả buộc
Chính phủ phải tăng thu ngân sách (qua thuế, phí hoặc vay mới) để trả nợ, khiến nền
kinh tế rơi vào bất ổn, trì trệ hoặc lạm phát gia tăng.
Đầu tư công chưa hiệu quả là nguồn gốc lớn nhất làm tăng nợ công. Ở Việt
Nam, bên cạnh những thành công vàđóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế
không thể phủ nhận, đầu tư công còn nhiều hạn chế, nhất là về hiệu quả đầu tư. Tốc
độ tăng đầu tư giai đoạn (2001 – 2011) luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Khu
vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chiếm tỷ lệ đầu tư công cao nhất nhưng hiệu quả
đầu tư lại thấp nhất. Nguyên nhân do quản lý kém, đầu tư không hợp lý, đầu tư nhiều
vào các ngành tư nhân sẵn sàng đầu tư; thiếu đầu tư tương xứng cho những ngành có
khả năng lan tỏa, dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế vàđầu tư thiếu tập trung, không
dứt điểm cho các công trình trọng điểm… Kết quả là gây ra lãng phí và tốn kém, thậm
chí với mức độ ngày càng nặng nề, mức thất thoát lên đến 20 – 30%, không những thế

nguyên nhân tạo ra sự xuất hiện của kết quả tốt, tích cực.

2. Trong hoạt động thực tiễn.
Muốn loại bỏ hoàn toàn một hiện tượng hay kết quả nào đó phải loại bỏ nguyên
nhân tiềm ẩn sinh ra nó; nhưng nếu không thể loại bỏ được nguyên nhân tiềm ẩn sinh
ra nó thì không tạo ra nguyên cớ hay điều kiện thuận lợi cho nguyên nhân tiềm ẩn
biến thành nguyên nhân thực sự. Ngược lại, muốn một hiện tượng nào đó xuất hiện
nhanh và nhiều cần tạo ra nguyên nhân tác động cùng chiều, tạo ra nguyên cớ hay
điều kiện cần thiết. Có như vậy tình hình nợ công của Việt Nam sẽ phát triển theo
chiều hướng tốt, bớt đi những chiều hướng xấu, mang lại lợi ích cho đất nước ta, góp
phần phát triển Việt Nam ngày một “giàu đẹp, văn minh, hiện đại”.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
 Bùi Văn Mưa, Trần Nguyên Ký, Bùi Bá Linh, Bùi Xuân Thanh, 2014. “Triết
học (Tài liệu tham khảo cho học viên cao học & nghiên cứu sinh không thuộc chuyên
ngành triết học)”. Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.

 Cổng thông tin điện tử Bộ Tài Chính, 2013 “Bản tin nợ công – số 03”
< [Ngày truy cập : 25
tháng 11 năm 2014].

 Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,2009.
“Luật

quản



nợ


 Trang thông tin Kiểm toán nhà nước, 2011. “Bàn về vấn đề nợ công ở Việt
Nam”. < .
[Ngày truy cập: 23 tháng 11 năm 2014]

MỤC LỤC


BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ CÔNG VIỆC
Thời gian

Tuần 4 – 5

Công việc

Chọn đề tài thực hiện, xác
định nội dung sơ bộ của tiểu
luận, phân chia công việc tìm
tài liệu viết bài

Nội dung cụ thể
Nguyễn Quốc Tân:
Soạn Lời giới thiệu, phần 2
của Chương II.
Võ Thị Thu Thảo:
Soạn chương I và phần 2 của
chương II.
Khương Thị Phương Thảo:
Soạn phần 1 và 2 của chương
II.

bộ nội dung trong bài tiểu
luận, kiểm tra lỗi chính tả,
Võ Thị Thu Thảo &
đóng góp thêm ý kiến để giúp
Khương Thị Phương Thảo:
bài tiểu luận hoàn chỉnh hơn.
Đóng góp ý kiến về nội dung
bài và chỉnh sửa lỗi chính tả.

Chỉnh sửa và hoàn thiện bài
tiểu luận.

Nguyễn Quốc Tân:
Gửi bài cho Lớp trưởng


BẢNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THAM GIA CỦA CÁC THÀNH VIÊN
Mức độ tham gia trong từng
giai đoạn
Họ tên

Đánh giá
chung
(%)

4-5

6-7

8-9


X

X

X

100

Ký tên




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status