VẤN ĐỀ DI CƯ Ở NƯỚC TA
I. DI CƯ GIỮA CÁC TỈNH VÀ CÁC VÙNG Ở VIỆT NAM TỪ GIỮA THẬP KỈ 80 ĐẾN CUỐI
THẬP KỈ 90 CỦA THẾ KỈ XX
1. Các luồng chuyển cư giữa các vùng
Tổng điều tra dân số năm 1989 cho biết trong thời kì 1984-1989 có 1429 nghìn người từ 5 tuổi trở lên
đã tham gia di chuyển giữa các tỉnh, bằng 2,6% dân số từ 5 tuổi trở lên năm 1989. Kết quả điều tra toàn diện
dân số và nhà ở năm 1999 cho biết có 2116,6 nghìn người đã di chuyển giữa các tỉnh từ 1994-1999, bằng
3,1% dân số từ 5 tuổi trở lên của năm 1999. Các kết quả tổng hợp về chuyển cư giữa các vùng vào hai thời
kì này được trình bày ở các bảng dưới đây.
Bảng 10. Sự di chuyển giữa các tỉnh gộp theo vùng 1984-1989 (người)
Nơi
thường
trú
1/4/198
9
Nơi thường trú 1/4/1984 (khác tỉnh)
MN-
TD
phía
Bắc
ĐBSH
Bắc
Trung
Bộ
Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyê
n
Đông
vùng
194376 320607 218818 126291 32057 66049 103342 1061540
Trong bảng 10 và bảng 12, ta sẽ đọc được số người di chuyển nội vùng (ô giao nhau giữa cột và hàng)
và số người di chuyển ngoại vùng. Đối với số người di chuyển ngoại vùng, theo cột dọc là số người chuyển
đi khỏi vùng, còn theo hàng ngang là số người chuyển từ vùng khác đến.
Tính toán từ Kết quả điều tra toàn diện, Tổng điều tra dân số 1989, tập 1, H 1991.
Bảng 11. Các tỉ suất di chuyển giữa các vùng 1984 - 1989 (‰)
Tỉ suất
chuyển đi
Tỉ suất
chuyển
đến
Cán cân
di chuyển
Tỉ suất di cư
tổng cộng
MN-TD phía Bắc 23.0 10.8 -12.2 33.8
Đồng bằng sông Hồng 27.2 12.6 -14.6 39.8
Bắc Trung Bộ 30.2 10.2 -20.1 40.4
Nam Trung Bộ 22.1 11.9 -10.2 34.0
Tây Nguyên 15.6 154.1 138.5 169.7
Đông Nam Bộ 9.7 46.1 36.4 55.7
Đồng bằng sông Cửu
Long
8.5 4.0 -4.5 12.5
Nguồn: Tính toán từ Kết quả điều tra toàn diện, Tổng điều tra dân số 1989, tập 1, H, 1991.
Về di chuyển giữa các vùng, có thể thấy một số xu hướng sau:
- Miền núi, Trung du phía Bắc (MNTDPB) cho tới đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX còn là địa bàn nhập cư,
cán cân di chuyển dương, thì từ giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX về sau liên tục là địa bàn xuất cư. Điều này có
liên quan khá rõ nét với tình trạng đời sống còn nhiều khó khăn của nhiều vùng cao, nhất là của các tỉnh
Nam
Bộ
ĐBSC
L
KX
Đ
Tổng số
chuyển
đến
ngoại
vùng
MNTDPB 51783 62007 7710 1087 2421 3001 650 701 77579
Đồng
bằng sông
Hồng
74421 15365
6
28086 3902 9180 11917 2412 105
0
130968
Bắc Trung
Bộ
3504 6822 23506 10189 8026 9623 1895 24 40085
DHNTB 4350 7787 25739 54141 18105 21246 4034 104 81365
Tây
Nguyên
40825 88806 95495 58734 16519 22653 9826 17 316357
Đông
Nam Bộ
30536 15018
Cán cân di
chuyển
Tỉ suất di cư
tổng cộng
MNTDPB 15.6 7.8 -7.8 23.4
Đồng bằng sông
Hồng
21.0 8.5 -12.5 29.5
Bắc Trung Bộ 34.6 4.5 -30.2 39.1
DHNTB 24.5 11.3 -13.2 35.7
Tây Nguyên 17.7 90.5 72.8 108.1
Đông Nam Bộ 11.2 72.0 60.9 83.2
ĐBSCL 16.0 3.8 -12.2 19.8
Tính toán từ số liệu gốc điều tra mẫu 3%. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.
- Đồng bằng sông Hồng vẫn là vùng xuất cư lớn nhất nước ta, mặc dù trong thời kì 1994 - 1999 thì quy
mô xuất cư từ Bắc Trung Bộ đã gần theo kịp ĐBSH. Mặt khác, là một vùng kinh tế phát triển, lại có nhiều
trung tâm công nghiệp, có Thủ đô Hà Nội, nên ĐBSH có sức hút khá lớn đối với dân cư và lao động từ các
vùng khác trong nước. Vào thời kì 1984 - 1989, ĐBSH với hơn 320 000 người chuyển đi và gần 149 000
người chuyển đến có số người tham gia di chuyển lớn nhất cả nước. Đến thời kì 1994 - 1999, số người
chuyển đi và chuyển đến có lẽ giảm chút ít so với thời kì trước đó (chú ý ở đây có sự thay đổi trong ranh
gii BSH). Di dõn t BSH vn tip ni dũng di dõn trong lch s l di dõn ng di, theo hng Bc
Nam, nhng hng ti hai a bn chớnh l Tõy Nguyờn v ụng Nam B. Trong thi kỡ 1984 - 1989, hn
118 000 ngi n Tõy Nguyờn, 76 000 ngi n NB. Cỏc tnh thu hỳt nhiu nht ngi di c t BSH
l c Lc (47,6 nghỡn ngi), ri n Lõm ng (45,6 nghỡn ngi) v Gia lai Kon Tum (25 500 ngi).
n NB, thỡ a bn quan trng nht lỳc by gi l tnh ng Nai (hn 35 000 ngi), ri n tnh Sụng
Bộ (17 600 ngi). TP H Chớ Minh cng ó cú sc hỳt tng dn i vi cỏc lung di dõn t BSH: hn 15
000 ngi ó nhp c. Nột c trng ni bt lỳc by gi l di dõn cú k hoch, cú t chc ca Nh nc v
trng tõm l di dõn i cỏc vựng kinh t mi, nhm hỡnh thnh cỏc vựng chuyờn canh cõy cụng nghip (c
phờ, cao su); cũn chuyn n TP H Chớ Minh ch yu l cỏn b c iu ng cụng tỏc.
n thi kỡ 1994 - 1999 thỡ xu hng ó thay i mt cỏch rừ rt: gn 89 000 ngi n Tõy Nguyờn v
Kết quả điều tra giàu nghèo 1993 cho thấy thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng ở Bắc Trung Bộ là 81,72 nghìn đ, thấp ngang
miền núi phía Bắc (81,67 nghìn đ) và chỉ bằng 69% trung bình cả nớc.
Tây Nguyên Đông Nam Bộ
MN-TD phía Bắc 11,04 5,39
Đồng bằng sông Hồng 6,75 16,91
Bắc Trung Bộ 14,72 9,34
Duyên hải NTB 50,31 9,44
Tây Nguyên 14,72 0,93
Đông Nam Bộ 1,84 34,65
Đồng bằng sông Cửu
Long
0,61 18,67
Nước ngoài 0 4,67
Tổng cộng 100,00 100,00
Nguồn: Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 1992 - 1993. UBKHNN, TCTK, H., 9-1994, tr.273.
- Tây Nguyên trong thời kì 1984 - 1989 là vùng nhập cư lớn nhất nước ta (316,2 nghìn người). Đến thời
kì 1994 - 1999 quy mô nhập cư vẫn không giảm (316,4 nghìn người), nhưng vùng đứng vị trí thứ hai sau
ĐNB. TN có tỉ suất di cư tổng cộng lớn nhất cả nước (169,7‰ thời kì 1984 - 1989 và 108,1‰ thời kì 1994 -
1999). Sự phân bố người nhập cư theo tỉnh đến là Đắc Lắc 47,2%, Lâm Đồng 25,4%, Gia Lai 22,3% và Kon
Tum 5,2%. Như phân tích ở trên, di dân đến Tây Nguyên chủ yếu là để phát triển các vùng trồng cây công
nghiệp, nhất là trồng cà phê. Ở đây chúng tôi không đề cập đến các hậu quả về môi trường do di dân thiếu
kế hoạch và mở rộng diện tích cà phê tràn lan ở Tây Nguyên. Có thể thấy một số thay đổi rất rõ nét trong cơ
cấu dân cư, dân tộc của vùng. Bảng dưới đây chỉ đề cập đến hai vùng nhập cư lớn nhất nước ta là TN và
ĐNB. Bảng số liệu rất ấn tượng là Tây Nguyên có tới 85% dân số không sinh ra tại vùng này; 50% dân số
đang cư trú ở TN được sinh ra ở DHNTB, cho thấy vai trò của DHNTB trong việc bổ sung nguồn lao động
cho TN.
Bảng 15. 15 dân tộc đông dân nhất Tây Nguyên năm 1999 (%)
Số thứ tự Các dân tộc Tỉ trọng trong cơ cấu
dân số Tây Nguyên 1999
Tỉ trọng trong cơ cấu
nghỡn h trong ú 37 000 h ti c Lc, 14 nghỡn h n Lõm ng, 7,9 nghỡn h n Gia Lai v ch hn
100 h n Kon Tum. c bit vo quóng nm 1995, khi giỏ c phờ tng vt, 2400 USD/tn, thỡ cng l
quóng thi gian din tớch c phờ c m rng mnh v din tớch rng b chỏy, b phỏ TN lờn n cao
im
2
. Thc hin Ch th 660/TTg (17/10/1995) v gii quyt tỡnh trng di dõn t do, Nh nc ó u t 76
t ng cho TN nhm xõy dng c s h tng v h tr di dõn.
- ụng Nam B l vựng nhp c ln trong sut nhiu thp k. Trong thi kỡ 1994 - 1999, õy l vựng cú
s ngi chuyn n t vựng khỏc ln nht (666 800 ngi, bng 48,7% tng s ngi di chuyn ngoi
vựng ca c nc). Cng vi hn 103 000 ngi di chuyn i cỏc vựng khỏc, thỡ hn 770 000 ngi ó tham
gia di chuyn ngoi vựng, t sut di c tng cng l 83,2. S ngi di chuyn ngoi tnh n vựng NB chia
theo a bn nụng thụn v thnh th thi kỡ 1994 - 1999 phõn b nh sau:
2
Từ 1995 đến 1996, diện tích gieo trồng cà phê Tây Nguyên tăng 59 100 ha, còn năm sau đó tăng 69 300 ha. Năm 1995 diện
tích rừng bị cháy là 2344 ha, diện tích rừng bị phá là 12478 ha.
Bảng 16. Di chuyển ngoại tỉnh đến ĐNB phân theo hình thức di chuyển (1994 - 1999)
Di chuyển Số người tham gia
di chuyển
% tổng số
Đến thành thị
Nông thôn - Thành
thị
348422 52,2
Thành thị - Thành thị 115101 17,3
Không XĐ - Thành
thị
3706 0,6
Đến nông thôn
Thành thị - Nông
thôn
dòng di chuyển nông thôn - đô thị giữa các tỉnh chiếm tỉ trọng lớn, nhất là ở ĐNB. Ở TN và ĐNB, khoảng
4/5 số dân di cư ngoại tỉnh vào đô thị là từ vùng nông thôn.
Bảng 17. Di dân nông thôn vào đô thị 1994 – 1999 phân theo vùng
Vùng
Giữa các tỉnh và nội
tỉnh
Giữa các tỉnh
Tổng số từ
nông thôn
vào đô thị
% tổng số
dân nhập cư
vào đô thị
Tổng số từ
nông thôn
vào đô thị
% tổng số dân
nhập cư ngoại
tỉnh vào đô thị
Đồng bằng sông
Hồng
170518 39,7 93556 58,0
Đông Bắc 78085 53,4 27511 63,0
Tây Bắc 20924 57,4 5410 65,3
Bắc Trung Bộ 67131 60,9 14995 52,4
Duyên hải NTB 97999 51,6 51840 67,5
Tây Nguyên 106035 72,0 68886 78,7
Đông Nam Bộ 475409 44,9 407218 73,5
Đồng bằng sông
Cửu Long
Bắc Ninh 8349 4,24 Vĩnh Long 12166 2,80
Nguồn: Tính toán từ Kết quả toàn diện. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999.
Việc phân tích đặc trưng của những người di cư nông thôn - đô thị ngoại tỉnh trên 13 tuổi vào Hà Nội và
TP. Hồ Chí Minh cho thấy những nét khác biệt lớn về tính chọn lọc của những người nhập cư. Chẳng hạn,
về tình trạng việc làm 12 tháng qua của nhóm người này, thì tỉ lệ làm việc ở Hà Nội chỉ 36,7%, trong khi ở
TP. Hồ Chí Minh 64,3%. Ngược lại, tỉ lệ người đến học tập ở Hà Nội tới 47,5%, trong khi ở TP. Hồ Chí
Minh chỉ 16,4%, còn số người làm nội trợ ở Hà Nội là 7,6%, ở TP. Hồ Chí Minh tới 11,5%.
Về trình độ chuyên môn kĩ thuật, thì luồng chuyển cư vào Hà Nội có tỉ lệ lao động có trình độ KHKT
cao hơn. Tuy nhiên, do quy mô của các luồng chuyển cư vào TP Hồ Chí Minh lớn gấp 3,6 lần vào Hà Nội,
nên TP Hồ Chí Minh vẫn thu hút nhiều hơn số lao động có chuyên môn kĩ thuật, ngay cả từ nông thôn vào
thành phố.
Bảng 19. Một số đặc trưng của người di cư ngoại tỉnh
từ nông thôn vào đô thị, tuổi trên 13, thời kì 1994 - 1999
Vào Hà Nội Vào TP Hồ Chí Minh
Số người
Phần trăm Số người Phần trăm
1. Công việc chính trong 12 tháng qua
Làm việc 33790 36.66 213694 64.32
Nội trợ 7029 7.62 38318 11.53
Đi học 43783 47.50 54501 16.40
Mất khả năng lao động 262 0.28 2495 0.75
Thất nghiệp 4263 4.62 14711 4.43
Không có nhu cầu làm
việc
3055 3.31 8533 2.57
Tổng cộng 92182 100.00 332251 100.00
2. Trình độ chuyên môn kĩ thuật cao nhất
Số người Phần trăm Số người Phần trăm
Không có trình độ
CMKT
Thàn
h thị
Nông
thôn
Năm Cả
nước
Thành
thị
Nông
thôn
1980 1,84 2,03 1,80 1990 1,92 2,41 1,80
1981 2,22 -0,76 2,91 1991 1,86 2,70 1,65
1982 2,24 1,36 2,44 1992 1,80 2,72 1,57
1983 2,12 5,79 1,27 1993 1,74 2,75 1,50
1984 2,21 1,10 2,47 1994 1,69 3,33 1,29
1985 2,06 2,30 2,00 1995 1,65 3,55 1,17
1986 2,05 3,94 1,60 1996 1,61 3,23 1,19
1987 2,17 3,77 1,79 1997 1,57 9,18 -0,46
1988 2,02 3,14 1,75 1998 1,55 3,74 0,91
1989 1,02 0,62 1,12 1999 1,51 3,53 0,90
Nguồn: [8]; [2: tr. 27-28].
Bảng số liệu cho thấy trong thập kỉ 80 quá trình đô thị hóa diễn ra rất chậm chạp, có những năm tỉ lệ gia
tăng dân số đô thị thấp hơn cả mức gia tăng dân số chung, còn nhìn chung gia tăng dân số đô thị trong thời
kì này không cao hơn mức chung của cả nước là bao nhiêu. Chỉ từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, thì tốc
độ tăng trưởng dân số đô thị mới cao. Mức gia tăng dân số tự nhiên của thành thị luôn thấp hơn mức gia
tăng dân số tự nhiên của cả nước. Vì vậy, từ bảng 21 có thể thấy rằng từ nửa cuối của thập kỉ 90 của thế kỉ
XX, gia tăng cơ học đã chiếm hơn 1/2 mức gia tăng dân số chung của đô thị. Sự gia tăng nhanh của dân số
đô thị còn do trong những năm gần đây một số xã đã chuyển thành phường và thị trấn (điển hình là năm
1997). Dù nhìn ở góc độ nào, thì sự tăng nhanh dân số đô thị trong những năm gần đây cũng là kết quả của
quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Bảng 22. Di cư giữa 4 thành phố lớn và các tỉnh 1994 - 1999
Nơi thực tế
thường trú tại
31/03/1999
Tổng số dân
từ 5 tuổi trở
lên
Đến từ
ngoại tỉnh
(người)
Đi ngoại
tỉnh (người)
Cán cân di
chuyển
Tổng tỉ
suất di cư
5 năm (%)
Tỉ suất
nhập cư
(%)
TP Hà Nội 2477046 196930 55326 141604 10.2 7.9
TP H. Phòng 1545544 23082 36666 -13584 3.9 1.5
TP Đà Nẵng 621942 36479 26042 10437 10.0 5.9
TP HCM 4664060 433765 97399 336366 11.4 9.3
Nguồn [3]
Ở Hà Nội, địa bàn chuyển cư vào Hà Nội trong 10 năm không thay đổi Đối với TP Hồ Chí Minh, có thể
thấy các địa bàn nhập cư chủ yếu đã có những thay đổi quan trọng. Trong thời kì 1984 - 1989 (hay nói
chung là trong thập kỉ 80) chủ yếu là nhập cư từ các tỉnh Đông Nam Bộ và một số tỉnh lân cận của đồng
bằng sông Cửu Long. Từ các tỉnh cự li xa ở miền Bắc, có một phần rất lớn là những người chuyển cư do
điều động công tác. Trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX, phần lớn là những người nhập cư "tự do", di chuyển
nhập cư (hình 4). Tỉ lệ nhập cư cao hơn ở độ tuổi trẻ ở Hà Nội có liên quan đến hiện tượng nhập cư để học
tập.
3.2 Về các đặc điểm khác
Các con số rút ra từ Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999 không cho thấy sự khác biệt lớn về tình trạng
việc làm, trình độ chuyên môn kĩ thuật giữa những người nhập cư và những người không di chuyển.
Hình 4. Tháp dân số của người nhập cư ngoại tỉnh vào Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh 1994 - 1999
3.3. Về địa bàn phân bố
Ở Hà Nội 69,6% số người nhập cư ngoại tỉnh cư trú ở các quận nội thành, nhưng tập trung chủ yếu vào
bốn quận đang được đô thị hóa mạnh là Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân và Cầu Giấy. Đối với các
huyện ngoại thành, thì đáng kể là hai huyện Từ Liêm và Gia Lâm.
Ở TP Hồ Chí Minh, 87,8% người chuyển cư là đến các quận nội thành, nhưng tập trung hơn cả là ở
quận Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức và Bình Thạnh. Có thể nói sự mở rộng đô thị, hình thành các quận,
phường mới và xây dựng các khu công nghiệp ở vùng ngoại thành đã tạo ra bức tranh tương phản rõ rệt
trong phân bố người nhập cư ở TP Hồ Chí Minh theo quận, huyện và phường, xã.
Kết luận: Những phát hiện trong đặc điểm người nhập cư ngoại tỉnh vào Hà Nội, TP Hồ Chí Minh xét
từ góc độ địa lí kinh tế - xã hội đã cho thấy những khác biệt trong sức hút đối với người nhập cư, tính chọn
lọc về cơ cấu tuổi, giới tính cũng như địa bàn định cư của người nhập cư ngoại tỉnh. Điều này có liên quan
mật thiết với quá trình công nghiệp hóa, sự thay đổi của thị trường sức lao động và sự thay đổi trong cấu
trúc không gian đô thị trong quá trình đô thị hóa.
Hµ Néi
20 16 12 8 4 0 4 8 12 16 20 24 28
5-9
10-14
15-19
20-24
25-29
30-34
35-39
40-44