LUẬN án TIẾN sỹ mối QUAN hệ GIỮA đổi mới KINH tế và đổi mới CHÍNH TRỊ ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 37

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại thắng Mùa xuân 1975 đã mở ra trang sử mới của dân tộc; Đất nước hoà bình, độc
lập, thống nhất và cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Dưới sự lãnh đạo của
Đảng và do sự nỗ lực của toàn dân, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn. Song, do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan, những gì
đã đạt được đó còn rất xa mới đáp ứng yêu cầu của dân tộc và thời đại. Để nâng cao chất
lượng và hiệu quả xây dựng CNXH, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản
Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ
chức bộ máy, đổi mới phương pháp lãnh đạo, đổi mới phong cách hoạt động; từ đổi mới
kinh tế đến đổi mới chính trị. Trong tổng thể chung của sự nghiệp đổi mới đó, đổi mới kinh
tế theo hướng chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xem là trọng tâm; đồng thời cũng đã từng bước
đổi mới về chính trị theo hướng từng bước hình thành và hoàn thiện nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa mà nội hàm cơ bản của nó là: Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.
Những thành tựu của quá trình đổi mới toàn diện đất nước nói chung, của quá trình giải
quyết đúng đắn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nói riêng đã đưa đất nước
ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội để bước vào giai đoạn mới - đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH). Đó là cơ sở thực tiễn để khi tổng kết chặng
đường 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII xem: "Kết hợp chặt chẽ
ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng
thời từng bước đổi mới chính trị" là một trong sáu bài học kinh nghiệm lớn được tích luỹ
qua 10 năm đó.


2

Trong khi khẳng định những thành quả to lớn trong việc nhận thức và giải quyết quan
hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cùng những biến đổi tích cực trong thực tiễn

Về mặt thực tiễn: Bên cạnh hiện tượng trì trệ trong đẩy mạnh đổi mới kinh tế hoặc đổi
mới chính trị, cũng có tình trạng ở nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc kia muốn đẩy thật
nhanh quá trình đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, làm cho hai quá trình đổi mới đó bị
tách rời nhau, gây ra hậu quả xấu cho cả đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị.
Mặt khác, trong thực tiễn đổi mới cũng xuất hiện hai cực đoan dẫn tới giải quyết không
thật đúng mối tương quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Một là, có lúc, có nơi
xuất hiện sự định hướng phiến diện của chính trị đối với kinh tế, không đánh giá đầy đủ vai
trò chỉ đạo của chính trị, của quan điểm chính trị đúng đắn đối với việc giải quyết các vấn
đề kinh tế. Không kịp thời ngăn chặn sai lầm đó sẽ làm cho các trung tâm quyền lực rơi
vào tình trạng thụ động, làm tăng những nhân tố tự phát không thể kiểm soát được trong
nền kinh tế thị trường . Hai là, có hiện tượng chính trị tách rời kinh tế; đây đó có lúc xuất
hiện thái độ coi thường các nhu cầu kinh tế, tuyệt đối hoá sức mạnh của các quyết định
chính trị, làm cho các quyết định đó mất cơ sở khách quan trên nền tảng kinh tế. Sự lệch
lạc như vậy sẽ đưa chúng ta rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
Vì vậy, hiện nay, việc tiếp tục làm rõ hơn nữa quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới
chính trị nhằm tìm ra giải pháp đúng đắn thúc đẩy sự đổi mới trên hai lĩnh vực này vẫn là
vấn đề cấp bách.


4

Từ suy nghĩ đó, tôi chọn vấn đề :" Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay" làm đối tượng nghiên cứu trong luận án của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới, vấn đề quân đội giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý luận, do vậy, đã có
nhiều công trình có liên quan tới đề tài này được công bố. Chẳng hạn, "Kinh tế thị trường
và định hướng XHCN" của GS Bùi Ngọc Chưởng (Tạp chí Cộng sản, 12/1994); "NEP Một cách tiếp cận mới mang tính nguyên tắc của V. I. Lênin về CNXH" của PTS Nguyễn
Thế Nghĩa (Tạp chí Triết Học, 2/1995); "Đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế" của
PTS Đỗ Hoài Nam (Nxb CTQG, Hà Nội, 1993); "Bài học kinh nghiệm về việc xử lý mối

kinh tế và đổi mới chính trị, do đó, chúng tôi tập trung chú ý vào vấn đề quan hệ giữa đổi
mới quan hệ lợi ích kinh tế và đổi mới quan hệ quyền lực chính trị.
5. Cái mới về mặt khoa học của luận án
- Góp phần làm sáng tỏ sự biểu hiện có tính đặc thù của luận điểm về quan hệ giữa kinh
tế và chính trị do chủ nghĩa Mác-Lênin nêu ra trong sự vận dụng cụ thể vào việc xem xét
quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay.


7

- Đề xuất được một số phương hướng và giải pháp có giá trị nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả vận dụng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta trong
những năm trước mắt.
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, luận án còn
kế thừa một cách chọn lọc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài
nước ở thời kỳ đổi mới, cải cách và cải tổ ở các nước XHCN hay vốn là XHCN. Đặc biệt,
người làm luận án coi trọng việc kết hợp giữa lý luận đổi mới và thực tiễn đang đổi mới
hiện nay để rút ra những vấn đề cần thiết.
6.2. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp các
quan điểm phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, đặc biệt là phương pháp luận về
mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị. Các phương pháp lôgíc và lịch sử, phân
tích và tổng hợp, trừu tượng hoá và khái quát hoá, phương pháp thống kê… được đặc biệt
chú ý khi giải quyết các vấn đề của luận án.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án đã góp phần làm rõ hơn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị;
những kinh nghiệm thành công cũng như những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện cùng những
phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực tiễn giải
quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Ngày nay, khái niệm kinh tế được hiểu với hai nghĩa cơ bản:
- Tổng thể các quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử phù hợp với mỗi trình độ
phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.
- Toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân hay một bộ phận của nền kinh tế quốc dân.
Nó bao gồm các hình thức sản xuất theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế và vùng kinh tế
(tức cơ cấu kinh tế) và cơ chế quản lý kinh tế.
Trong "kinh tế", nhân tố có vai trò to lớn nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất;
ngoài ra, còn phải kể đến quan hệ giữa người với người trong quá trình tổ chức, quản lý
sản xuất và tái sản xuất, trong phân phối và tiêu dùng sản phẩn được làm ra trên cơ sở tính
chất của chế độ sở hữu đó.
Những ý niệm sơ khai liên quan tới vấn đề vừa nêu đã được manh nha ở châu Âu từ
thời cổ đại và trung cổ, đặc biệt từ khi xuất hiện môn kinh tế chính trị. Thuật ngữ "kinh tế
chính trị" lần đầu tiên được nhà kinh tế học người Pháp là môngcrèxchiên
(M……..hrestien) sử dụng vào năm 1615 [70,tr.54]. Các quan điểm trên, ở mức này hay


10

mức khác, được Petti (W.Petty), D.Ricácđô (D.Ricardo) ở Anh và Boagmbe (Boisguibert),
Xixmônđi (Sismondi) ở Pháp phát triển.
Kế thừa có chọn lọc thành quả của những người đi trước, dựa trên những cứ liệu
được rút ra từ thực tiễn lịch sử nói chung, thực tiễn của chủ nghĩa tư bản đương thời nói
riêng, từ những năm 40 của thế kỷ XIX, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã vạch ra
những bí mật của các quá trình kinh tế, giải thích bản chất và động lực phát triển của kinh
tế một cách khoa học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Trong Hệ tư tưởng Đức, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xác định rằng, tiền đề đầu
tiên của mọi sự tồn tại của con người, do đó, cũng là của lịch sử, là người ta phải sống đã
rồi mới có thể làm ra lịch sử. Nhưng, như C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ ra, muốn sống
được, trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác. Muốn
có những thứ đó, người ta phải tiến hành sản xuất. Đời sống sẽ chấm dứt, xã hội sẽ tiêu tan,

là; Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Ngoài ba yếu tố cơ bản
đó, còn có các yếu tố khác như: Quan hệ gia đình, dân tộc, … Các yếu tố này có quan hệ
biện chứng với nhau tạo thành những quy luật nhất định của lịch sử, như quy luật quan hệ
sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật
cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng… Chính sự tác động của các quy luật đó
làm cho sự phát triển xã hội nói chung, sự thay thế của các hình thái kinh tế- xã hội nói
riêng diễn ra như là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Khi xã hội phân chia ra thành các giai cấp, có đấu tranh giai cấp và Nhà nước xuất
hiện, chính trị ra đời.
Trong tác phẩm "chính trị", Platon xem chính trị là nghệ thuật cung đình liên kết
trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng và sự thông minh: sự liên kết cuộc sống của
họ được thực hiện bằng sự thống nhất tư tưởng và tinh thần hữu ái.
Mác Vây be xem chính trị là khát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến
sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia, giữa các tập đoàn người
trong một quốc gia.
Trong giới chính trị học tư sản cũng có thời lan truyền quan niệm xem chính trị là
một "nhà hát". Trong đó, có nhà hát, nghệ sĩ, diễn viên và người xem, sự bài trí sân khâu,
nhà phê bình.
Trong các tác phẩm của mình, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xem chính trị là một hiện
tượng đặc biệt của đời sống xã hội có liên quan tới các đảng phái và Nhà nước; các ông đã
vạch ra bản chất chính trị của các giai cấp cầm quyền trong xã hội bóc lột, tính định hướng
của chính trị thuộc giai cấp bóc lột vào của cải và sự tuỳ tiện. Khi vạch ra tính chất phản
động của chính trị tư sản đương thời, các ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giai


12

cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam soạn thảo ra một đường lối chính trị độc lập.
Chính trị như thế, theo các ông, cần phải góp phần củng cố hoà bình và hữu nghị giữa các
dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân và lấy việc giải phóng con người làm


chất nhất của đời sống kinh tế, cái cơ bản nhất, cái mang tính chi phối trong đời sống kinh
tế. Chính loại yếu tố đó quy định nội dung căn bản nhất của chính trị thuộc chủ thể cầm
quyền. Cho nên, không phải kinh tế có kết cấu đa dạng như thế nào thì chính trị cũng có sự
đa dạng tương ứng như thế. Chẳng hạn, nền kinh tế trong xã hội đang ở bước chuyển từ xã
hội phong kiến sang xã hội TBCN mang trong mình cả những yếu tố kinh tế phong kiến gia trưởng thậm chí cả một số yếu tố của nền kinh tế tiền phong kiến, bên cạnh đó là những
yếu tố của nền kinh tế mới - kinh tế TBCN. Chính trị của giai cấp cầm quyền đương thời
(giai cấp tư sản) trước hết là sự phản ánh những yêu cầu bức xúc của các nhân tố kinh tế
TBCN, làm cho kinh tế này từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, chi phối mọi yếu tố
kinh tế khác. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cũng đang tồn
tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Chính trị của chúng ta hiện nay là sự biểu hiện tập
trung của nền kinh tế đó, trong đó, việc làm cho kinh tế Nhà nước từng bước vươn lên nắm
được vai trò chủ đạo được xem là một nội dung vô cùng quan trọng của nó.
"Chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế" (V. I. Lênin) là luận
điểm nói lên vai trò năng động, tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của chính trị
đối với kinh tế. Quan điểm đó có tiền đề phương pháp luận xuất phát của mình từ tính năng
động của ý thức đối với vật chất, của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội (khi xét chính trị
từ phương diện "ý thức chính trị", bao gồm cả quan điểm chính trị, đường lối chính trị, tâm
lý và tình cảm chính trị, chủ trương, chính sách…), của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở
hạ tầng (khi xét chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng). Thực tiễn chứng minh
rằng, một quan điểm hay một thiết chế chính trị sai lầm có tác động rất tiêu cực đối với sự
phát triển của kinh tế, của sản xuất; nó có tác động kìm hãm vô cùng to lớn đối với sự phát
triển của kinh tế. Nhận thức chính trị sai lầm về cơ cấu thành phần kinh tế ngay khi bước
vào thời kỳ quá độ lên CNXH từ một nước nghèo nàn, lạc hậu lại bỏ qua chế độ TBCN đã
có hậu quả tiêu cực như thế nào trong thời kỳ trước đổi mới ở nước ta, mọi người đã rõ.
Tác động kìm hãm sự phát triển kinh tế ở thời kỳ đó còn tăng lên do tình trạng quan liêu
của các thiết chế chính trị. Từ khủng hoảng về kinh tế lan sang khủng hoảng về xã hội tạo
ra cái mà chúng ta vẫn nói là "khủng hoảng kinh tế- xã hội" xuất hiện vào đầu những năm
80 của thế kỷ XX ở nước ta là biểu hiện tập trung nhất của tác động kìm hãm, tác động tiêu
cực của một số yếu tố chính trị sai lầm đối với kinh tế. Ngược lại, sự phát triển mạnh mẽ

thực tiễn, hoạt động vật chất của con người là con đường cơ bản nhất, có hiệu quả nhất.
Thực tế những năm đổi mới vừa qua cho thấy, cùng một chủ trương, một chính sách kinh
tế (những cái thuộc về chính trị) như vậy, nhưng kinh tế ở ngành này, ở địa phương này
phát triển nhanh, mạnh; ở ngành kia, địa phương kia lại phát triển rất yếu, thậm chí không
phát triển. Điều đó không chỉ hoàn cảnh, điều kiện khách quan không như nhau, mà còn
do, và chủ yếu là do, ở các ngành đó, địa phương đó, tính năng động, sự sáng tạo của các


15

cấp lãnh đạo và quản lý có hạn. Cho nên, cần khẳng định rằng tác động trở lại của chính trị
đối với kinh tế sẽ như thế nào (thúc dẩy nhay kìm hãm, mạnh hay yếu, hiệu quả cao hay
thấp…) - điều đó phụ thuộc vào tính đúng, sai của chính trị và mức độ của tính đúng, sai
đó; tuỳ thuộc vào khả năng thâm nhập của chính trị vào quần chúng, vào năng lực tổ chức
thực tiễn của đội ngũ lãnh đạo và quản lý các quá trình chính trị và kinh tế tương ứng.
Sự tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị (trước hết giữa các quy luật kinh tế và
quy luật chính trị) đóng vai trò to lớn đối với sự vận động của cả cơ sở hạ tầng lẫn kiến
trúc thượng tầng, của xã hội nói chung. Quan hệ giữa kinh tế và chính trị quyết định diện
mạo và bản chất của các chế độ xã hội có giai cấp, nó cũng có tác động to lớn tới vị thế của
mỗi người.
1.1.2. Quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị
Nếu hiểu lợi ích kinh tế là giá trị vật chất - kinh tế thoả mãn nhu cầu vật chất - kinh
tế của chủ thể nhu cầu và được hình thành, được xác định trong mối quan hệ giữa người
với người đối với giá trị vật chất- kinh tế đó thì lợi ích kinh tế là một vấn đề trung tâm của
kinh tế.
Thật vậy, như đã trình bày trên đây, đặt trong mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế,
"kinh tế" trước hết và chủ yếu được hiểu là quan hệ giữa người với tự nhiên và giữa người
với người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Xét từ quan hệ thứ hai vừa nêu, kinh
tế bao gồm quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất; trong tổ chức,
quản lý quá trình sản xuất; trong phân phối và tiêu dùng các sản phẩm được sản xuất ra.

hỏi phải khẳng định vị trí ưu trội, vai trò chi phối của lợi ích vật chất - kinh tế so với các
loại lợi ích khác. Thực tế lịch sử loài người từ khi phân chia thành giai cấp đến nay mang
lại nhiều bằng chứng để khẳng định rằng, giai cấp nào nắm được hầu hết tư liệu sản xuất
trong tay thì đó cũng là giai cấp nắm vị trí chi phối trong việc tổ chức xã hội về lao động,
chiếm hầu hết sản phẩm do xã hội làm ra - tức là lợi ích kinh tế cơ bản của giai cấp đó
được thực hiện. Nhờ vậy, nó cũng là giai cấp chi phối quyền lực chính trị, chi phối đời
sống tinh thần. Tư tưởng thống trị trong mọi xã hội có giai cấp là tư tưởng của giai cấp chi
phối tư liệu sản xuất vật chất. Quan điểm duy vật lịch sử đó của chủ nghĩa Mác-Lênin là sự
tổng kết, là sự khái quát trung thực từ toàn bộ lịch sử xã hội có giai cấp và được chứng
minh bởi toàn bộ thực tiễn lịch sử đó. Hiện thực của chủ nghĩa tư bản hiện đại mang lại
cho chúng ta bằng chứng sống động cho phép khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của
quan điểm mác - xít nêu trên. Theo tờ Diễn đàn thông tin quốc tế ngày 4-7-2000, hiện nay
tài sản của ba người giàu nhất thế giới lớn hơn tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của 48
nước kém phát triển nhất với trên 600 triệu dân; năm 1997, các nước giàu nhất chiếm 20%


17

dân số thế giới lại nắm 86% GDP, 82% xuất khẩu hàng hoá, 93% người sử dụng Internet;
trong khi đó, các nước nghèo nhất với 20% dân số thế giới thì chỉ nắm có 1%GNP và 0,2%
Internet. Trên quy mô quốc tế, do tình hình trên, quốc tế hoá hiện nay đang đặt dưới sự chi
phối của chủ nghĩa tư bản, làm gia tăng quyền lực của tư bản quốc tế… Đó là cơ sở để
khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên minh hiệp quốc diễn ra ở Giơ-ne-vơ cuối tháng 62000 rút ra kết luận rằng sự nghèo đói, sự phát triển không đồng đều, tình trạng mất an
ninh đã tăng lên trên thế giới kể từ khi toàn cầu hoá được phát triển. Nắm trong tay nguồn
lực kinh tế, khoa học- công nghệ khổng lồ, các nước phát triển đang khuynh đảo thế giới,
liên tiếp gây sức ép toàn diện đối với các nước đang phát triển.
Đó là xét mối tương quan giữa kinh tế và chính trị trên quy mô quốc tế. Còn xét
mối tương quan này trên quy mô quốc gia, chúng ta cũng thấy rằng ngay ở Mĩ, nơi được
giới học giả phương Tây ca ngợi là dân chủ nhất, thì 20% dân số thuộc những người giầu
có cũng kiểm soát trên 80% GDP, 20% dân số gồm có những người nghèo nhất chiếm

giai cấp tư sản được đưa lên thành luật mà thôi, nó nhằm bảo vệ lợi ích đó [51, tr.619].
Như vậy, lợi ích kinh tế có tác dụng rất quan trọng, thậm chí mang tính quyết định
đối với quyền lực chính trị, đối với việc phát huy vai trò của Nhà nước, pháp luật và toàn
bộ hệ thống chính trị với tư cách là những thể chế và thiết chế thực hiện quyền lực chính
trị. Ngược lại, một khi quyền lực chính trị và các thiết chế chính trị được củng cố, được
hoàn thiện sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ, tăng cường sức mạnh lợi ích kinh
tế của chủ thể quyền lực chính trị tương ứng. Đây là những nội dung quan trọng của quan
hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị.
Xem xét sâu sắc hơn nữa quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị, chúng
ta còn thấy rằng, khi quan hệ sở hữu được thể hiện về mặt luật pháp thì quyền sở hữu được
xác lập.
Nhưng "quyền sở hữu" là gì? Hiện nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề
này.Trong rất nhiều quan niệm khác nhau đó, có một quan niệm nhấn mạnh sự gắn kết chặt
chẽ vấn đề sở hữu với lợi ích. Đó là quan niệm coi quyền sở hữu gồm 4 quyền năng: quyền
chiếm giữ (mà không phải là quyền chiếm hữu- cái được xem là tương đương với quyền sở
hữu), quyền sử dụng, quyền định đoạt đối tượng sở hữu và quyền hưởng lợi (tức là lợi ích)
[12, tr.25]. Sở hữu gắn với lợi ích, đó là tất yếu khách quan. Lợi ích là cái thúc đẩy sự
chiếm giữ, đến lượt mình, nó lại đặt ra nhu cầu và yêu cầu hưởng lợi ở những con người
hiện thực.


19

Toàn bộ hoạt động của các thiết chế chính trị với tư cách là công cụ, phương thức,
phương tiện thực hiện quyền lực chính trị đều được định hướng vào việc thúc đẩy sự vận
động của chu trình trên đây theo hướng có lợi nhất cho chủ thể quyền lực. Do đó, theo C.
Mác và Ph. Ăngghen, mấu chốt của vấn đề là những lợi ích kinh tế mà quyền lực chính trị
phải phục vụ với tư cách là phương tiên. Chính vì vậy, Ph. Ăngghen cho rằng cần phải
giải thích mọi hành vi của con người (trong đó có hành vi chính trị) từ nhu cầu và lợi ích
mà họ theo đuổi. Theo C. Mác, tất cả những gì mà con người đấu tranh để giành lấy đều

tế và quyền lực chính trị khác nhau. Trong xã hội có giai cấp, theo C. Mác và Ph. Ăngghen
cần tìm nguồn gốc của các nhu cầu và lợi ích xã hội ở trong những quan hệ sản xuất và
phải quy những hiện tượng ấy vào lợi ích của những giai cấp nhất định; cần tìm lời giải
thích cho các quá trình kinh tế trong lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau. Đấu tranh giai
cấp, suy cho cùng, cũng nhằm thoả mãn lợi ích giai cấp và lợi ích của mỗi thành viên giai
cấp nhất định nào đó. V. I. Lênin cũng đã cảnh tỉnh là: Chừng nào người ta chưa phân biệt
được lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác qua những câu nói, những lời hứa hẹn cho
tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ cũng là kẻ ngốc
nghếch, bị người khác lừa bịp mình về chính trị.
Các nhà kinh điển mác - xít cũng đã dự báo sự chuyển hoá từ tính giai cấp nhỏ hẹp
của lợi ích sang tính chung, giá trị phổ biến của nó. Theo c. Mác, sự phụ thuộc của những
cá nhân vào những giai cấp nhất định sẽ bị xoá bỏ, khi hình thành một giai cấp không phải
bảo vệ một lợi ích giai cấp riêng biệt chống lại giai cấp thống trị. Sự ra đời của giai cấp vô
sản cầm quyền sẽ tạo ra điều kiện cho sự chuyển hoá đó. Bởi vì, để giải phóng mình và
toàn xã hội nói chung, sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, nó phải biểu hiện lợi ích của
bản thân mình như là lợi ích phổ biến. Trong quá trình đi đến thủ tiêu Nhà nước, thủ tiêu
giai cấp và, cùng với nó, là lợi ích giai cấp, thì lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị luôn
mang dấu ấn giai cấp, luôn in đậm nét quan hệ giữa các giai cấp trên cơ sở các quan hệ sản
xuất cụ thể và kiến trúc thượng tầng tương ứng.
Thứ ba, quan hệ đó mang tính chất lịch sử - xã hội. Đây là hệ quả của hai tính chất
trên. Tình chất này được xác định bởi chỗ, mức độ thoả mãn và đáp ứng đối với lợi ích
kinh tế và quyền lực chính trị không thể cao hơn khả năng mà hiện thực có được. Tính lịch
sử - cụ thể của lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị quy định tính lịch sử- cụ thể trong tính
chất và trình độ của thể chế kinh tế và thể chế chính trị cũng như quan hệ qua lại giữa
chúng. Mỗi chế độ xã hội trong nấc thang phát triển cụ thể của nó có hệ thống nhu cầu
riêng, cho nên cũng làm nảy sinh một hệ thống lợi ích kinh tế và chính trị tương ứng.
Chính do tính quy định lịch sử- xã hội này mà sự phát triển, tiến hoá và tính chất người của


21

hệ lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị. Trong xã hội này chỉ có thể ra đời và tồn tại quan


22

hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực xã hội phi chính trị. Ở đây, lợi ích kinh tế thể hiện ở sở
hữu chung đối với tư liệu sản xuất và tiêu dùng chung đối với sản phẩm mà công xã làm ra.
Phù hợp với phân công lao động còn rất hạn chế, cơ cấu xã hội chỉ giới hạn ở sự mở rộng
của đại gia đình thị tộc. Nhiều thị tộc hợp thành bộ lạc. Bộ lạc có cơ cấu: Dưới tù trưởng là
những thành viên bộ lạc và cuối cùng là những người lao động. Thoạt đầu, đứng đầu thị
tộc là phữn (nên gọi thị tộc mẫu hệ), về sau, gần cuối chế độ cộng sản nguyên thuỷ, do
trồng trọt và chăn nuôi phát triển, người đàn ông dần dần đóng vai trò chủ đạo trong hoạt
động kinh tế và , do đó, giữ địa vị chi phối thị tộc.
Về mặt tổ chức quyền lực xã hội: Mỗi thị tốc có hội nghị toàn thị tộc do tộc trưởng
xếp đặt. Các thị tộc bầu ra tộc trưởng đứng đầu thị tộc và tham gia vào hội đồng bộ lạc.
Khi có chiến tranh, bộ lạc bầu ra thủ lĩnh quân sự. Tù trưởng và thủ lĩnh quân sự không
được ưu đãi về vật chất hơn những người khác. Quyền uy của những người có cương vị
trong công xã chỉ nặng về tinh thần và họ có thể bị hội nghị toàn thị tộc bãi miễn. Ở đây
mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực xã hội phi chính trị, nhìn chung, là hài hoà và
thống nhất.
Cuối chế độ cộng sản nguyên thuỷ, sự thống nhất này bị phá vỡ từng bước và xuất
hiện mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế của người lao động và bộ phận nắm giữ hệ thống quyền
lực xã hội. Mâu thuẫn đó xuất hiện là do sự phát triển của công cụ sản xuất nói riêng, của
lực lượng sản xuất nói chung đã góp phần tăng cường sự phân công lao động xã hội và gia
tăng năng suất lao động. Lao động thặng dư và sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều. Bằng
lao động hết sức mình, người lao động có thể tạo ra một lượng sản phẩm sau khi tiêu dùng
ở mức tối thiểu cần thiết, còn có một lượng dư thừa. Lòng ham muốn chiếm hữu chúng nảy
sinh ở người nắm bộ máy quyền lực của công xã hội. Mặt khác, sự phát triển của lực lượng
sản xuất cũng cho phép người ta có thể tiến hành sản xuất một cách riêng rẽ và mang lại
hiệu quả cao hơn là sản xuất chung trên cơ sở sở hữu chung đối với tư liệu sản xuất. Chế

của quyền lực chính trị; ngược lại, nô lệ, về cơ bản, không có lợi ích kinh tế nên cũng
không có lợi ích chính trị và quyền lực chính trị nói chung.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, lợi ích kinh tế lớn nhất của chủ nô là quyền chiếm
hữu cả về tư liệu sản xuất và nô lệ. Lợi ích kinh tế lớn nhất mà người nô lệ đấu tranh để
thoát khỏi tình trạng nô lệ của mình là trở thành chủ nhân của một mảnh ruộng nhỏ bé hay
đàn gia súc. Mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị thể hiện ở việc chiếm
hữu và đấu tranh thoát khỏi nạn chiếm hữu nô lệ, ruộng đất; ở việc tăng cường Nhà nước
quân sự chủ nô hay chống lại nó.
Nhìn nhận vấn đề từ sự tiến bộ lịch sử, sự tác động qua lại giữa lợi ích kinh tế và
quyền lực chính trị khi ra đời chế độ chiếm hữu nô lệ đã mang lại những tiến bộ nhất định.
Chẳng hạn, Nhà nước chủ nô tập trung số lượng lớn tư liệu sản xuất và nô lệ (bằng những


24

biện pháp cưỡng bức, bóc lột tàn bạo) để tổ chức việc hiệp tác lao động giản đơn trên quy
mô lớn và lẻ tẻ có sự phân công trong nội bộ từng ngành sản xuất, tức là, ở mức độ nhất
định, có chuyên môn hoá thành những nghề khác nhau. Thật vậy, trong nông nghiệp, bên
cạnh trồng lúa, dần dần có nghề vườn, chăn nuôi súc vật, chế biến sản phẩm nông
nghiệp.v.v. Trong thủ công nghiệp và công nghiệp, có khai khoáng, luyện kim, rèn mộc,
làm đồ trang sức, dệt vải… "Nhờ đó tạo ra được khối lượng lớn sản phẩm thặng dư và các
công trình xây dựng (kiến trúc, thuỷ lợi) to lớn từ sự tập trung số lượng lớn lao động nô lệ"
[79, tr. 54-58].
Sự áp bức, bóc lột dã man của chủ nô đã đưa đến hậu quả chính trị là tăng cường
cuộc đấu tranh giai cấp giữa nô lệ và chủ nô. Quyền lực chính trị tàn bạo của chủ nô đã
mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho giai cấp chủ nô trong điều kiện trình độ lực lượng sản
xuất còn rất thấp kém, hơn nữa, quyền lực chính trị đó đã được tổ chức thành bộ máy chà
đạp người lao động và dùng chiến tranh để duy trì, mở rộng quyền lực chính trị.
Dưới chế độ phong kiến, lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị của giai cấp cầm
quyền (giai cấp địa chủ, phong kiến) được nhằm vào việc chiếm hữu ruộng đất, cống nạp

Động cơ chủ yếu của lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị thuộc giai cấp tư sản là bóc lột
giá trị thặng dư, tư do mua bán hàng hoá (đặc biệt là hàng hoá sức lao động), cạnh tranh và
thao túng bộ máy Nhà nước vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch. Trái lại, lợi ích
kinh tế cơ bản và yêu cầu quyền lực chính trị tương ứng của giai cấp công nhân, của nhân
dân lao động là xoá bỏ tình trạng lao động trở thành hàng hoá, họ phải trở thành chủ thể
thực sự của mọi tư liệu sản xuất, loại bỏ tình trạng bóc lột giá trị thặng dư- mang lại những
tiến bộ nhất định. Chẳng hạn, Nhà nước chủ nô tập trung số lượng lớn tư liệu sản xuất và
nô lệ (bằng những biện pháp cưỡng bức, bóc lột tàn bạo) để tổ chức việc hiệp tác lao động
giản đơn trên quy mô lớn và lẻ tẻ có sự phân công trong nội bộ từng ngành sản xuất, tức là,
ở mức độ nhất định, có chuyên môn hoá thành những nghề khác nhau. Thật vậy, trong
nông nghiệp, bên cạnh trồng lúa, dần dần có nghề vườn, chăn nuôi súc vật, chế biến sản
phẩm nông nghiệp, v.v. Trong thủ công nghiệp và công nghiệp, có khai hoang, luyện kim,
rèn, mộc, làm đồ trang sức, dệt vải, … "Nhờ đó tạo ra được khối lượng lớn sản phẩm thặng
dư và các công trình xây dựng (kiến trúc, thủy lợi) to lớn từ sự tập trung số lượng lớn lao
động nô lệ"[79, tr. 54-58].
Sự áp bức, bóc lột dã man của chủ nô đã đưa đến hậu quả chính trị là tăng cường
cuộc đấu tranh giai cấp giữa nô lệ và chủ nô. Quyền lực chính trị tàn bạo của chủ nô đã
mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho giai cấp chủ nô trong điều kiện trình độ lực lượng sản
xuất còn rất thấp kém, hơn nữa, quyền lực chính trị đó đã được tổ chức thành bộ máy chà
đạp người lao động và dùng chiến tranh để duy trì, mở rộng quyền lực chính trị.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status