BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở nước
ta hiện nay.
MỤC LỤC
A. Lời mở đầu
B. Nội dung
I. Cơ sở lý luận
1. Văn hóa là gì?
2. Văn hóa kinh doanh là gì?
3. Vai trò của văn hóa trong kinh doanh
a, Văn hoá với tư cách là tri thức, kiến thức tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh
doanh phát triển
b, Các yếu tố văn hoá với tư cách là những biểu hiện của trình độ cao trong sinh hoạt
xã hội
c, Các yếu tố văn hóa tạo sự phát triển cho kinh doanh
II. Thực trạng
1. Tại sao phải xây dựng văn hóa kinh doanh?
2.Thực trạng nền văn hóa kinh doanh ở nước ta
a, Đặc điểm nền văn hóa kinh doanh ở nước ta qua từng giai đoạn
b, Thành tựu và hạn chế
3. Chiến lược xây dựng nền văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
C. Kết luận
hiện ra như một kiểu sống( lối sống kiểu ứng sử và hành động….) riêng biệt và ổn định
của họ trong lịch sử, nó có tính dị tồn vá qua nhiều thế hệ.
Thứ ba: cốt lõi của văn hóa và có nhân tố quy định tính đặc thu của kiểu sống khác
nhau trong xã hội là bảng giá trị của họ.
Đó là một hệ thống các giá trị, gồm bà loại giá trị chân – thiện- mĩ với nội dung có
nhiều yếu tố khác nhau ở mỗi cộng đồng người.
Từ sự phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa: văn hóa là các nguồn lực nội sinh của
con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là
các giá trị chân thiện mỹ.
♣ Quan điểm của Đảng ta: Văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh
thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước.
♣ Quan điểm của đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua
tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân
tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy,
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm
vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được bổ
sung, phát triển đầy đủ và phong phú hơn trong các văn kiện của Đảng sau này. Hội nghị
lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ: "Nền văn hóa mà Đảng
ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc". Hội
nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra nghị quyết riêng về
xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: "Xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội"1.
Tháng 7-2004, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Kết luận
Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt
vậy mọi hoạt động văn hóa, dù phát triển đa dạng, phong phú như thế nào đều phải
hướng tới, phải quy tụ vào mục tiêu xây dựng, nuôi dưỡng con người.
Ngoài yếu tố văn hóa liên quan đến phát triển nhân cách và trí tuệ con người thì Báo cáo
chính trị Đại hội XII cũng đề cập những điểm rất mới đó là văn hóa trong kinh tế, văn
hóa trong chính trị, đề cập đến chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, phát triển công
nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa…
Văn hóa chính trị, văn hoá Đảng cũng là một bộ phận của văn hóa dân tộc, bộ phận tiên
tiến nhất, ưu tú nhất, bởi: “Đảng là đạo đức, là văn minh”. Văn hoá trong Đảng, văn hoá
trong chính trị càng gắn chặt, càng sâu sắc bao nhiêu, thì hiệu quả mang lại cao bấy
nhiêu, bởi trong bất kỳ thời đại nào, văn hóa, nhân cách, đạo đức, nhân phẩm không thể
tách rời con người.
Trong hội nhập văn hoá, vấn đề là phải tìm hiểu yếu tố nào là truyền thống, cốt lõi của
văn hóa Việt Nam, trên cơ sở đó ta xây dựng cốt cách của mình, đồng thời tiếp nhận có
chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc. Còn trong kinh
tế, UNESCO từng chỉ ra rằng, nền kinh tế nào mà chỉ quan tâm phát triển kinh tế, bỏ
quên yếu tố con người, yếu tố văn hóa thì sẽ dẫn đến hệ lụy là kinh tế không phát triển
được mà xã hội cũng có nhiều điều bất an. Bởi văn hoá là sư chắt lọc, là sự kết tinh, bồi
lắng: “Mưa dầm thấm lâu”, nhưng sự suy thoái của các giá trị truyền thống văn hoá
thường diễn ra rất nhanh, nếu không có những kế sách đủ mạnh, đặc biệt là những quốc
gia đang trên đường hội nhập.
Có thể thấy mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế, chính trị và văn hóa ngày càng chiếm
vị trí đặc biệt trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước, thể hiện tầm nhìn sáng
suốt của Đảng về quá trình phát triển bền vững đất nước. Đây là điểm tưởng như không
mới, song, thật sự là một việc vô cùng quan trọng trong điều kiện xã hội hiện nay, nhằm
thực hiện mục tiêu xây dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế.
Xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa,
Một là: các nhân tố văn hóa( hệ giá trị, tâm lý dân tộc, triết lý chung mà chủ thể lựa
chọn từ văn hóa dân tộc) được vận dụng từ quá trình kinh doanh tạo ra các giá trị hàng
hóa và dịnh vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng có văn hóa.
Hai là: các giá trị sản phẩm văn hóa như hệ giá trị văn hóa triết lý tập tục riêng nghệ
thuật…. mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình hoạt động và làm kinh doanh của
họ, có tác dụng cổ vũ biểu dương dối với kiểu kinh doanh có văn hóa mà họ đang theo
đuổi. gói gọn lại là đây là lối sống văn hóa của của chủ thể kinh doanh.
Nền văn hóa kinh doanh: Xét về bản chất kinh doanh không chỉ gói gọn trong khâu lưu
thông, phân phối các chiến lược, thâm nhập thị trường đối với các sản phẩm của mình mà
nó còn bao quát các khâu có quan hệ hữu cơ nhau tính từ sản suất cho tới tiêu dùng. Có
nghĩa rằng xây dựng nền văn hóa kinh doanh là một việc làm có thực tế mà mục tiêu cụ
thể là nhằm làm cho toàn bộ quá trình sản suất kinh doanh, tức yếu tố đóng vai trò rất
quyết định đối với nền sản suất của đất nước ngày càng mang tính văn hóa cao thể hiện
cả ba mặt:
- Văn hóa doanh nhân: văn hóa thể hiện ở đội ngũ con người tham gia sản xuất kinh
doanh chủ yếu thể hiện ở trinh độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và vốn tri thức tổng hợp,
ở kinh nghiệm thực tiễn và các kỹ năng, phương pháp tác nghiệp, ở năng lực tổ chức sản
suất kinh doanh và sự nhạy bén với thị trường, đạo đức làm việc và phẩm hạnh làm
người, ở ý thức công dân và sự giác ngộ về tính tị.
- Văn hóa thị trường: thể hiện trong cơ cấu tổ chức, hệ thống pháp chế, các chính sách
chế độ, trong mọi hình thức hoạt động tổ chức liên quan đến quá trình sản xuất kinh
doanh, gồm cả sự cạnh tranh tất cả nhằm tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi tốt
đẹp…
- Văn hóa doanh nghiệp: tập chung và tỏa sáng trong các thiết chế, các đơn vị tổ chức
sản xuất kinh doanh thể hiện qua các biểu chưng chung thuộc về hình thức cùng các yếu
tố tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp qua năng lực, phẩm chất, trình độ tổ chức sản
xuất kinh doanh tạo ra chất lượng sản phẩm và những thành tích, truyền thông qua phong
cách giao tiếp ứng xử cùa toàn đơn vị trong quá trình sản xuất kinh doanh…
người, mới chỉ lộ ra qua quá trình giao tiếp. Nếu quá trình giao tiếp không nắm bắt được
sự khác biệt đó sẽ dẫn đến những điều biểu hiện, hoặc xung đột về suy nghĩ và hành
động. Mỗi người trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu có trình độ am hiểu sâu sắc về
sinh hoạt xã hội sẽ tạo ra được các ấn tượng, các mối quan hệ tốt đẹp với người khác, tạo
được bầu không khí thoải mái tin tưởng lẫn nhau trong tập thể lao động, đảm bảo quan hệ
kinh doanh dễ dàng.
Các di sản văn hoá của một nền văn minh cổ xưa có vai trò tạo ra động lực tinh thần
trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân tích so sánh các quá trình phát triển và tồn tại của một nền văn minh giúp cho con
người hiện đại nhìn lại từ quá khứ, biết được khả năng của chính dân tộc mình, từ đó xem
xét hiện tượng và hướng tới tương lai.
c, Các yếu tố văn hóa tạo sự phát triển cho kinh doanh
Các yếu tố văn hoá trong kinh doanh tạo sự phát triển hài hoà, lành mạnh của mỗi quốc
gia, tạo ra sức sống của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, tạo ra sức mạnh
cộng đồng cho phát triển, tạo điều kiện cho tái sản xuất lao động, góp phần nâng cao
năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh...
Mọi nền sản xuất, suy cho cùng đều nhằm thoả mãn ngày càng cao các lợi ích vật chất
và tinh thần của con người. Đó vừa là mục tiêu, vừa là động cơ thúc đẩy hành động của
con người. Nếu quá trình kinh doanh chỉ vì lợi nhuận đơn thuần như vậy thì về mặt kinh
tế, quốc gia đó sẽ phát triển lệch lạc những ngành và lĩnh vực ít lợi nhuận sẽ không phát
triển được và do vậy không thể đáp ứng được mọi nhu cầu của con người. Về mặt xã hội,
con người sẽ mất nhân cách đạo đức xã hội xuống cấp, tội ác gia tăng.
Nói đến kinh doanh, là nói đến việc sử dụng tri thức và kiến thức. Sử dụng tri thức đó
đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa cá nhân, các cộng đồng người để khai thác hết
kho tàng tri thức đó phục vụ cho sản xuất kinh doanh, trí tuệ của mỗi người sẽ bổ sung
cho nhau tạo ra trí tuệ tập thể ở một trình độ cao và hoàn thiện hơn. Sự kết hợp đó là nét
đẹp văn hoá trong kinh doanh và chính nó tạo ra sức mạnh của tập thể, của cộng đồng.
Phục vụ đáp ứng những nhu cầu cụ thể của con người về sản phẩm hàng hoá và dịch
phong cách văn hóa trong kinh doanh,… Khi tất cả những yếu tố văn hóa đó kết tinh vào
hoạt động kinh doanh tạo thành phương thức kinh doanh có văn hóa thì đây là một nguồn
lực rất quan trọng để phát triển kinh doanh.
Nếu không có môi
trường sản xuất văn hóa trong sản xuất kinh doanh thì không thể sử dụng các tri thức,
kiến thức về kinh doanh và đương nhiên không thể tạo ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ, dẫn
tới không tạo ra hiệu quả và không thể phát triển kinh doanh được.
- Trong giao tiếp kinh doanh
Đặc biệt là trong mối quan hệ giữa mua và bán, khi giao tiếp với khách hàng, văn hóa
kinh doanh thực sự trở thành một nguồn lực vô cùng quan trọng đối với chủ thể kinh
doanh trong quá trình hoạt động. Trong thái độ với đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh
mà có văn hóa chúng ta sẽ tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo ra các cơ
hội cho sự tồn tại và phát triển lâu dài.
- Trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của chủ thể kinh doanh.
Văn hóa kinh doanh là sự gánh vác, tự nguyện những nghĩa vụ, trách nhiệm vượt lên
những trách nhiệm về kinh tế và pháp lý thỏa mãn được những mong muốn của xã hội.
Thứ hai, văn hóa kinh doanh là phương thức phát triển kinh doanh bền vững.
Trong hoạt động kinh doanh thì động cơ kiếm được nhiều lợi nhuận là động cơ quan
trọng nhất. Nhưng động cơ để các nhà kinh doanh kiếm lợi không chỉ vì nhu cầu sinh lý
mà còn vì những nhu cầu cấp cao đó là nhu cầu mong muốn được xã hội tôn trọng, mong
muốn được tự thể hiện và sáng tạo.
Kinh doanh phi văn hóa có thể khiến chủ thể kinh doanh giàu có hơn vì họ tìm mọi
cách để trốn tránh pháp luật, …Kiểu kinh doanh này không thể lâu bền,vì đó là lối kinh
doanh chụp giật, ăn xổi nên nếu bị khách hàng phát hiện sẽ bị tẩy chay, xã hội lên án.
Kinh doanh có văn hóa không thể giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả ngay vì nó
chú trọng đến việc đầu tư lâu dài, việc giữ gìn chữ tín. Khi đã bước qua giai đoạn khó
và tiểu thủ công nghiệp đều phát triển hơn trước. Thời kỳ này đã xuất hiện một tầng lớp
tư sản dân tộc, giành lại được độc quyền thương mại từ tay tư sản nước ngoài và bắt đầu
gây dựng lòng tự hào được làm nhà kinh doanh. Thương mại và ngoại thương đều phát
triển nhanh chóng. Đặc biệt, ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX Việt Nam, dưới tên là
xứ Đông Pháp, đã đứng thứ hai thế giới về về xuất khẩu gạo, chỉ sau Mianma.
- Trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam bị phân chia thành hai miền: miền Bắc được giải
phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền
Nam bị chiếm đóng, thay đổi theo chế độ thực dân mới của Mỹ. Do sự khác biệt này mà
văn hóa kinh doanh ở miền Bắc và miền Nam cũng phát triển theo những chiều hướng
khác nhau.
Văn hóa kinh doanh miền Bắc mang đặc tính của văn hóa kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, coi trọng công bằng xã hội nhưng không coi trọng hiệu quả, tiêm nhiễm bệnh chủ
quan, duy ý chí, cơ chế quản lý cồng kềnh, mang nặng tính quan liêu, coi rẻ kinh doanh
và thương nhân.
Ở miền Nam, qua giao lưu với văn hoá Mỹ, văn hóa kinh doanh nơi đây tiếp thu được
một số kiến thức, yếu tố cần thiết cho kinh tế thị trường như cơ sở hạ tầng, công nghệ,
kiến thức kinh doanh hiện đại, tác phong làm việc công nghiệp … nhưng cũng tiêm
nhiễm tâm lý vọng ngoại khá nặng nề , nhất là tôn sùng những gì của Mỹ, cùng một số
thói xấu khác như chủ nghĩa thực dụng, lối sống gấp, thích hưởng thụ, xa rời bản sắc dân
tộc…
- Sau năm 1975, đất nước thống nhất, hai miền Nam, Bắc cùng bước vào con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội, hai nền văn hóa kinh doanh dần hoà hợp với nhau, trở thành một
nền văn hóa kinh doanh thống nhất trong toàn quốc nhưng vẫn bảo tồn một số khác biệt
giữa hai miền. Nền văn hóa kinh doanh này tuy có bổ sung cho văn hóa kinh doanh cổ
truyền một số ưu điểm như: coi trọng công bằng xã hội, nâng cao vị thế cho phụ nữ, có
tinh thần vượt khó vươn lên… nhưng lại làm tăng lên một số yếu tố tiêu cực cho kinh
doanh như: tâm lý coi rẻ nghề buôn nói chung và kinh doanh nói riêng, tính chủ quan
duy ý chí, cơ chế tổ chức quan liêu, thiếu hiệu quả, tính cứng nhắc, kém năng động với
chuyển biến đáng kể so với quan niệm truyền thống "nhất sĩ, nhì nông" của Việt Nam.
Trình độ chung của doanh nhân cũng được cải thiện đáng kể. Theo kết quả điều tra của
đề tài KX.07.14 thì số giám đốc có trình độ đại học chiếm 77%. Không chỉ những người
có học hành mới bắt tay vào kinh doanh, mà ngay cả những người đang là doanh nhân
cũng mong muốn được học hỏi, nâng cao trình độ của mình. Điều này chứng tỏ doanh
nhân hiện nay đã ý thức được tầm quan trọng của kiến thức khi tiến hành kinh doanh,
nhất là trong thời buổi mở cửa và hội nhập.
Động cơ kinh doanh và nhận thức của doanh nhân đã được cải thiện đáng kể. Khi được
hỏi về động cơ kinh doanh, 41,4% số doanh nhân trả lời là "muốn làm gì có ích cho xã
hội"; 27,3% trả lời là do "muốn tự quyết định công việc của mình"; 13,5% là do "muốn
phát huy tối đa khả năng của mình"; 16,4% do "muốn tiếp tục công việc của gia đình hiện
nay"; 9,7% do "muốn kiếm nhiều tiền hơn"; 5,1% do "công việc trước đây không thích
hợp" và 1,3% do "không có việc làm". Những con số này cho thấy doanh nhân Việt Nam
có trách nhiệm và ý thức xã hội khá cao. Điều này khẳng định rằng, doanh nghiệp kinh
doanh không chỉ vì mục đích cá nhân, mặc dù động cơ này hoàn toàn là chính đáng.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần làm hoạt động kinh doanh ở Việt Nam
phát triển mạnh mẽ. Nhiều loại hình kinh doanh mới ra đời như các xí nghiệp liên doanh
với nước ngoài, các hình thức kinh doanh quốc tế. Lợi nhuận thu được từ kinh doanh
cũng tăng lên, góp phần khẳng định và nâng cao vai trò của kinh doanh nói chung và
doanh nhân nói riêng trong xã hội Việt Nam.
Tiến trình hội nhập đã mở cửa cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập cùng nền kinh tế thế
giới, môi trường kinh doanh được mở rộng, sôi động, đã tạo điều kiện cho các doanh
nhân Việt Nam có cơ hội phát huy hết khả năng của mình, nâng cao trình độ kinh doanh
phù hợp với yêu cầu của thị trường. Các doanh nhân Việt Nam được tiếp xúc với các kỹ
năng hoàn toàn mới như marketing, xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ… làm phong phú thêm cho kho tàng kiến thức về kinh doanh của người Việt Nam.
Quá trình cọ xát với thị trường quốc tế đã khơi dậy lòng tự hào dân tộc của người Việt
Nam, giúp các doanh nhân Việt Nam xích lại gần nhau, khiến họ kinh doanh không chỉ vì
lâu dài sẽ ảnh hưởng nguy hiểm đến nền tảng đạo đức xã hội và hình ảnh của đất nước
Việt Nam trên trường quốc tế.
Các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, văn hoá Việt Nam khá ôn hoà. Chúng ta không quá
khắt khe về tôn giáo như người Trung Đông, không có kỷ luật để khép mình vào tập thể
như người Nhật Bản, không quá lệ thuộc vào gia đình, dòng họ như người Italia, không
tự hào về chủng tộc như người Hoa… Tính chất này giúp con người Việt Nam có tính
khoan dung, mềm dẻo, dễ hoà đồng, nhưng cũng làm chúng ta dễ chao đảo, không có
điểm tựa vững chắc về tinh thần. Số liệu điều tra cho thấy, phần lớn doanh nhân Việt
Nam kinh doanh không bắt nguồn từ truyền thống gia đình, lại xuất thân từ những gia
đình nghèo, không được đào tạo cơ bản, nên có nhiều hạn chế về kiến thức và trình độ.
Thực tế này cộng với nền tảng tinh thần không ổn định đã làm nhiều doanh nhân có tham
vọng không giới hạn trong việc làm giàu và tích luỹ tư bản.
Ví dụ như những vụ án kinh tế gần đây như Lã Thị Kim Oanh, Nguyễn Thị Bé Tư, vụ
công ty Đông Nam …, đã cho thấy khi quyền lực, cơ hội được đặt vào tay những con
người hạn chế về trình độ và tư cách đạo đức, thì có thể làm nảy sinh những tham vọng
tội lỗi vô hạn đến như thế nào. Đành rằng, trong kinh doanh, lợi nhuận là mục đích chính,
nhưng việc mưu cầu lợi nhuận đến mức bất chấp đạo lý, luật pháp, quá táo tợn như vậy
quả là một tiếng chuông cảnh báo về tình trạng văn hóa kinh doanh của Việt Nam.
Xuất thân từ nền kinh tế tiểu nông, con người Việt Nam thường có tầm nhìn thấp, ngắn
hạn, hay thay đổi và muốn đi đường tắt, thay vì kiên nhẫn chờ đợi kết quả lâu dài. Vì vậy,
theo nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, bối cảnh và môi trường kinh tế Việt Nam thuộc
loại "xã hội thiếu chữ tín". Trong bối cảnh kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ được
mở rộng, điểm yếu này càng có nguy cơ bộc lộ rõ ràng, thể hiện ở tầm vĩ mô là việc các
chính sách của Chính phủ thường hay thay đổi, và khi thay đổi lại không cần tính đến
quyền lợi của những người có liên quan. Còn ở tầm vi mô, theo nhiều nhà kinh doanh
nước ngoài, các nhà kinh doanh Việt Nam không coi trọng chữ tín, hay viện dẫn các lý do
khách quan để khước từ việc thực hiện cam kết, gây nhiều phiền toái trong quan hệ với
Nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam mới chỉ bắt
đầu, văn hóa kinh doanh Việt Nam đang đứng trước những thuận lợi cũng như thử thách
to lớn trên bước đường phát triển sắp tới. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần nhận thức rõ
những mặt mạnh và yếu trong văn hóa kinh doanh Việt Nam, từ đó phát huy những mặt
tích cực và hạn chế những yếu tố tiêu cực do tác động của cơ chế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế với văn hoá Việt Nam nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng để có
thể tích cực, chủ động trong hội nhập, đảm bảo xây dựng một nền văn hóa kinh doanh
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền
vững của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỷ XXI
b, Thành tựu và hạn chế
* Thành tựu
Sau 15 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta có nhiều khởi sắc, các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh dần dần xoá đi cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và đã vươn lên phát huy
mạnh mẽ các tiềm lực của mình.
- Về mặt nông nghiệp, nước ta đạt được nhiều thành tựu nổi bất với các thời kỳ trước.
Sản lượng lương thực phát triển tốt bảo đảm giữ vững an ninh lương thực quốc gia, tạo
nguồn xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới...
- Về công nghiệp, nhìn chung các sản phẩm quan trọng có tác động đến các ngành kinh tế
đều tăng khá như điện, sắt thép, phân bón...chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giành
được sự tín nhiệm của người tiêu dùng, gần 100 mặt hàng được bình chọn là hàng Việt
Nam chất lượng cao, có chỗ đứng trên thị trường. Có thể nói hàng Việt Nam chất lượng
cao đã đáp ứng được phần nào nhu cầu, thị hiếu và sở thích của người tiêu dùng ở hai
khía cạnh: sản phẩm tiêu dùng và vật phẩm văn hoá.
- Trong lĩnh vực dịch vụ, ngành thương mại đã đạt có sự tăng trưởng vượt bậc. Xuất khẩu
tăng đều qua các năm.
=> Qua đó, thấy được nét văn hoá trong kinh doanh được thể hiện rõ ở các điểm: kinh
doanh đạt năng suất cao, giá thành hạ, tạo ra nhiều sản phẩm (giá trị) và giá trị thặng dư
cho xã hội, sản phẩm đạt chất lượng cao, được xã hội và người tiêu dùng trong và ngoài
số các doanh nhân khi lập doanh nghiệp chỉ nghĩ đến việc xây dựng một công ty hàng
đầu Việt Nam, ít khi nghĩ xa hơn tới việc xây dựng các thương hiệu toàn cầu, tham gia
vào giải quyết các bài toán tiêu dùng cho toàn thế giới. Vì thiếu tầm nhìn nên doanh
nghiệp không đầu tư vào những vấn đề cốt lõi, lâu dài và lao theo xu hướng “ăn xổi”, đầu
tư vào những lĩnh vực không thuộc chuyên môn của mình. Trong khi các doanh nghiệp
nước ngoài nỗ lực tìm kiếm cơ hội đầu tư và lợi ích kinh doanh dài hạn ở Việt Nam thì
nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang tìm kiếm lợi nhuận từ các khoản đầu tư mang
tính đầu cơ như kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán mà quên đi các lĩnh
vực kinh doanh cốt lõi.
- Nặng về “quan hệ”, “chạy chọt” , dựa dẫm. Ở nước ta đặc tính coi trọng quan hệ cá
nhân, xu hướng cá nhân hóa các mối quan hệ kinh doanh, ỷ lại vào bảo hộ của nhà nước
vẫn tồn tại khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp tập trung thời gian và tiền bạc cho một
hoặc một số nhân vật quan trọng của đối tác, cho các mối quan hệ cá nhân giữa người
kinh doanh mà cụ thể hơn là người bán hoặc người mua với người có thẩm quyền quyết
định của bên đối tác mua hoặc bán một số lại câu kết với những người xấu trong bộ máy
nhà nước. Nhiều doanh nghiệp thành công nhờ vào mối quan hệ rộng hơn là nhờ vào
năng lực. Xu hướng dựa vào quan hệ rộng như là một chủ bài, mạnh hơn là cả năng lực,
và xu hướng nhờ vả, chạy chọt hiện đang tồn tại ở mức đáng kể. Lợi ích quá nhiều từ
quan hệ cá nhân, tranh giành đất đai, dùng quan hệ để thắng thầu bất chính, thậm chí
dùng cả quyền lực chính sách để bóp méo lực lượng thị trường… chính là những hiện
tượng phổ biến, gây bức xúc trong toàn xã hội.
3. Chiến lược xây dựng nền văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa kinh doanh là chúng ta xây dựng một nền kinh tế trong đó phải
biết ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, đổi mới nền kinh doanh bằng cách mở
rộng giao lưu, tiếp thu những điều hay của nền kinh tế thế giới mà trước hết là tập trung
lấy phát triển văn hóa doanh nghiệp làm điểm tựa đầu tiên.
Một số giải pháp cho chiến lược xây dựng nền văn hóa kinh doanh ở Việt Nam:
Thứ nhất, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh