Xây dựng đạo đức kinh doanh ở nước ta hiện nay - Pdf 13

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH CÔNG SƠN
XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Đạo đức học
Mã số: 62 22 03 06
HÀ NỘI - 2014
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH CÔNG SƠN
XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Đạo đức học
Mã số: 62 22 03 06
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Nguyễn Văn Phúc
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những số liệu được sử dụng trong luận án có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Những kết luận rút ra trong luận án là kết quả tìm tòi, nghiên cứu nghiêm
túc của bản thân tác giả luận án.

59
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
74
3.1. Những thành tựu trong xây dựng đạo đức kinh doanh ở nước ta 73
3.1.1. Truyền thống xây dựng đạo đức kinh doanh trong lịch sử 73
3.1.2. Những kết quả bước đầu trong xây dựng đạo đức kinh doanh thời
gian qua
77
3.2. Những hạn chế và vấn đề đặt ra trong xây dựng đạo đức kinh doanh ở
nước ta hiện nay
90
3.2.1. Những hạn chế trong xây dựng đạo đức kinh doanh hiện nay 90
3.2.2. Những vấn đề đặt ra trong xây dựng đạo đức doanh hiện nay 104
CHƯƠNG 4: NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC KINH
DOANH
114
4.1. Những yêu cầu cơ bản trong xây dựng đạo đức kinh doanh ở nước ta
hiện nay
114
4.1.1. Xây dựng đội ngũ những người kinh doanh có đạo đức và năng lực 114
4.1.2. Gắn việc xây dựng đạo đức kinh doanh với việc xây dựng môi trường
kinh tế - xã hội trong sạch, lành mạnh
117
4.2. Một số giải pháp nhằm xây dựng đạo đức kinh doanh ở nước ta
hiện nay
118
4.2.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN với tính
cách là cơ sở của đạo đức kinh doanh

TNLĐ Tai nạn lao động
TNXH Trách nhiệm xã hội
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
TS Tiến sĩ
TW Trung ương
VS Viện sĩ
XHCN Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là vấn đề luôn lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế
giới, không phân biệt chế độ chính trị. Các công trình nghiên cứu của họ đã góp
phần làm rõ và hoàn thiện những phạm trù, những phẩm chất, nguyên tắc đạo đức
cơ bản và khẳng định vai trò của nó đối với đời sống xã hội.
Ở nước ta, đạo đức cũng là vấn đề thường xuyên được quan tâm nghiên cứu cả
trong lý luận lẫn thực tiễn. Đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc,
đạo đức trở thành nền tảng tinh thần truyền thống để tổ tiên vượt qua nhiều thử
thách và chiến thắng kẻ thù. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đạo đức cũng đóng
vai trò là nội lực để giúp chúng ta có thêm sức mạnh đương đầu với đế quốc, thực
dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế
giới – đặc biệt quan tâm đến đạo đức. Người coi đạo đức là gốc, là nền tảng của
người cách mạng, là sức mạnh của mỗi con người. Chính nhờ sức mạnh ấy, người
cách mạng mới vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tôi luyện, trưởng thành để cống
hiến nhiều hơn cho tổ quốc, cho nhân dân.
Khi cả nước hòa bình, độc lập đi lên CNXH, đã có nhiều công trình nghiên cứu
vấn đề đạo đức mới, đạo đức cách mạng, nhằm mục tiêu xây dựng con người mới –
nguồn lực chủ yếu để đảm bảo xây dựng thành công CNXH - đủ đức và tài. Sự quan
tâm càng được chú ý hơn khi chúng ta chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.
Phải nói rằng, kinh tế thị trường đã hình thành từ lâu trong sự phát triển của xã
hội loài người, nhưng nói đến “nền kinh tế thị trường điển hình” là nói đến sự gắn

nghĩa.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích luận án
Làm rõ thực chất, những chuẩn mực cơ bản và vai trò của đạo đức kinh doanh;
phân tích thực trạng xây dựng đạo đức kinh doanh, qua đó đề xuất một số giải pháp
8
nhằm nâng cao hiệu quả của việc xây dựng và phát triển đạo đức kinh doanh ở nước
ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
- Thứ nhất: Làm rõ thực chất của đạo đức kinh doanh, xây dựng đạo đức kinh
doanh, những chuẩn mực cơ bản, và sự cần thiết xây dựng đạo đức kinh doanh trong
điều kiện kinh tế thị trường.
- Thứ hai: Phân tích thực trạng xây dựng đạo đức kinh doanh trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
- Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc xây dựng
và phát triển đạo đức kinh doanh ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng của luận án là những vấn đề bản chất của xây dựng đạo đức kinh
doanh ở nước ta hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án là đạo đức kinh doanh và xây dựng đạo đức
kinh doanh ở Việt Nam từ khi chuyển sang kinh tế thị trường.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và đạo đức kinh doanh.
- Luận án sử dụng các phương pháp: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, đối
chiếu - so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa…
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm rõ khái niệm đạo đức kinh doanh, xây dựng đạo đức
kinh doanh, những chuẩn mực cơ bản của nó và sự cần thiết xây dựng đạo đức kinh
doanh ở nước ta hiện nay.

nhà nước, con người không sống “ngây thơ thuần phác” nữa, quan hệ giữa con
người với con người tự nhiên dẫn tới yêu cầu đạo đức: không được trộm cắp, phải
sòng phẳng trong giao thiệp “tiền trao cháo múc”, phải có chữ tín, biết tôn trọng các
cam kết, thỏa thuận…
Như vậy, đạo đức kinh doanh không phải xuất phát từ sự “tiên nghiệm” từ
“chân lý tuyệt đối” vĩnh cửu. Đạo đức kinh doanh ra đời cùng hoạt động kinh doanh,
phát triển theo từng hình thái kinh tế - xã hội, thay đổi theo từng vùng dân cư, lãnh
thổ, nhất là đặc điểm phương Tây và phương Đông.
Các tư tưởng triết lý đạo đức ở phương Đông
Các triết lý đạo đức ở phương Đông hầu hết đều bắt nguồn từ Trung Hoa.
Ngay từ thời cổ đại, nhiều triết gia Trung Hoa đã có những tư tưởng chi phối sự phát
triển xã hội trong một thời gian dài. Nhiều nội dung trong những tư tưởng đó trở
thành những triết lý quản lý quan trọng ở mọi phạm vi hoạt động của con người mà
đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt trong sự hình thành hệ thống các khái niệm
và chuẩn mực đạo đức kinh doanh. Điển hình và nổi bật nhất là trường phái tư tưởng
của Khổng Tử và Hàn Phi Tử.
Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên) với Tư tưởng đức trị của mình đã
11
đưa ra triết lý tư tưởng sâu sắc dựa trên văn hóa tinh thần. Chữ Nhân là nhân tố cơ
bản trong tư tưởng của ông. Nhân thể hiện biết yêu thương, giúp đỡ người khác và
lấy đó làm phương hướng rèn luyện của bản thân.
Nhân được Nho giáo coi là yếu tố quan trọng nhất, có tác dụng chi phối trong
“ngũ thường” – nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Nghĩa thể hiện phương châm của Nhân, thấy việc gì đáng làm thì làm không
mưu lợi cá nhân. Theo ông, người quân tử phải thấy điều hợp lý thì làm, và phải cố
gắng hết mình, “không thành công thì cũng thành nhân”.
Lễ là hình thức của Nhân, chủ trương “điều mình không muốn làm cho mình
thì không nên làm cho người khác”. Thiếu yếu tố Nhân, Lễ chỉ là hình thức, giả dối.
Trí là có trí tuệ, kiến thức, biết mình biết người.
Tín mang nghĩa chân thành, chân thực, là sự thống nhất giữa lời nói và việc

- 3 yêu cầu đối với chất lượng hàng hóa: 1, Hóa sắc yếu diện nghiêm; 2, Ưu biệt yếu
phân biệt; 3, Hóa vật yếu tu chỉnh.
- 3 yêu cầu đối với quản lý tiền bạc: 1, Xuất nhập yếu cẩn thận; 2, Tiền tài yếu minh
phân; 3, Trương mục yếu kiết tra.
Các phường hội thủ công thời phong kiến cũng rất quan tâm đến việc nâng
cao uy tín đạo đức trong sản xuất và mua bán hàng hóa. Trong quan hệ với đối
tác, người ta sẵn sàng chấp nhận những thiệt thòi hơn là để mất uy tín của phường
hội.
Sau hơn 2000 năm, những tư tưởng đạo đức trên vẫn có ảnh hưởng rất lớn tới
đời sống, xã hội và đến các lý thuyết quản lý và đạo đức hiện đại ngày nay, trong đó
có đạo đức kinh doanh.
Sự phát triển của tư tưởng đạo đức kinh doanh ở phương Tây
Tư tưởng đạo đức học nói chung và đạo đức kinh doanh nói riêng ở phương
Tây thường xuất phát từ những tín điều tôn giáo. Luật Tiên Tri (Law of Moses) của
Tây phương có từ lâu đời đã đưa ra những lời khuyên cho con người như: Tới mùa
thu hoạch ngoài đồng ruộng, không nên gặt hái hết mà chừa một tí hoa mầu ở bên
đường cho người nghèo khó; tới ngày nghỉ lễ hàng tuần thì cả chủ và thợ cũng được
nghỉ; sau 50 năm thì mọi món nợ sẽ được hủy bỏ.
Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristotle cũng có những quan điểm mà cho đến
nay được coi là nền móng cho đạo đức kinh doanh thời hiện đại. Ông đã nêu ra ý
tưởng rằng, nhiệm vụ chính của người thủ lĩnh không phải là gia tăng quyền lực của
mình trước cấp dưới mà là tạo ra những điều kiện để mọi người dưới quyền mình có
thể thể hiện được mọi năng lực ở mức cao nhất. Nhiều câu hỏi mà Aristotle đã lập ra
và ngày nay có thể đang khiến các nhà quản lý hiện đại phải đau đầu đi tìm câu trả
13
lời: “Tôi muốn người ta đối xử với tôi như thế nào khi tôi là thành viên của cơ
quan?”, “Những tiền đề tiềm năng nào có được để phát triển các tài năng và cả tiềm
năng của các thành viên trong cơ quan?”, “Tôi có nhận nhiều hơn công sức đóng
góp của mình vào quỹ chung hay không?”, “Liệu hệ thống phân chia lợi nhuận đang
có, ảnh hưởng như thế nào tới không khí đạo đức chung của cơ quan?”, “Các nhân

bài giảng về đạo đức cho các chương trình đào tạo về tôn giáo và nhấn mạnh các vấn
đề đạo đức trong hoạt động kinh doanh, khích lệ mọi người tiết kiệm, chăm chỉ và
nỗ lực. Những truyền thống tôn giáo như vậy đã tạo ra nền tảng cho sự phát triển
tương lai của bộ môn đạo đức kinh doanh ở phương Tây.
Những năm 1960 và 1970 – Đạo đức kinh doanh trở thành một lĩnh vực khoa
học
Những năm 60 của thế kỉ XX xã hội Mỹ chứng kiến tình trạng tàn phá cảnh
quan ở các khu đô thị và sự gia tăng các vấn đề sinh thái, như ô nhiễm không khí và
xả chất thải độc hại và phóng xạ ra môi trường sống. Năm 1962 tổng thống Mỹ đưa
ra Tuyên bố về Quyền của người tiêu dùng nêu rõ bốn quyền lợi mà người tiêu dùng
được bảo vệ là quyền được hưởng sự an toàn, quyền được biết, quyền được lựa chọn,
và quyền được lắng nghe. Phong trào người tiêu dùng nở rộ với việc một loạt điều
luật bảo vệ người tiêu dùng được thông qua như “Đạo luật về thực phẩm tươi sống
an toàn” (1967), “Đạo luật về kiểm soát phóng xạ an toàn” (1968), “Đạo luật về
nước sạch” (1972) và “Đạo luật về chất thải rắn độc hại” (1976).
Tới những năm 1970, đạo đức kinh doanh thực sự bắt đầu trở thành một lĩnh
vực khoa học mới. Các học giả và các nhà tư tưởng tôn giáo đều đề nghị cần áp
dụng một số nguyên tắc giáo lý nhất định đối với các hoạt động kinh doanh. Từ đó,
các trường đại học bắt đầu viết sách và giảng dạy những vấn đề liên quan đến trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Khi một loạt các vấn đề đạo đức kinh doanh như
hối lộ, quảng cáo lừa gạt, thông đồng về giá hay ô nhiễm môi trường nảy sinh thì
đạo đức kinh doanh thật sự trở thành một từ ngữ phổ biến.
Những năm 1980 – Thống nhất quan điểm về đạo đức kinh doanh
Trong thời gian này các nhà nghiên cứu và thực hành đạo đức kinh doanh nhận
thấy đây thực sự là một lĩnh vực khoa học đầy triển vọng. Ngày càng có nhiều đối
tượng khác nhau quan tâm đến lĩnh vực đạo đức kinh doanh. Môn học này được đưa
vào chương trình đào tạo của nhiều trường đại học. Đạo đức kinh doanh cũng trở
thành chủ đề được quan tâm thường xuyên ở nhiều công ty lớn, như GE, GM,
Caterpillar, Năm 1986, mười tám chủ thầu trong lĩnh vực quốc phòng đã cùng
nhau biên soạn “Sáng kiến về hành vi và đạo đức kinh doanh của ngành công nghiệp

đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ
để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực (của một tổ
chức) trong những trường hợp nhất định”. Còn Ferrels và John Fraedrich lại chú ý
đến phương diện điều chỉnh hành vi đạo đức kinh doanh đối với hành vi của chủ thể
kinh doanh. Các ông cho rằng, “Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ
bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh. Tuy nhiên, việc
16
đánh giá một hành vi cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ
được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên
quan, hệ thống pháp lý cũng như cộng đồng” [72. 108]
Đối với Việt Nam, từ khi chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường, vấn đề đạo đức kinh doanh được quan tâm chú ý nhiều hơn. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức kinh doanh được thực hiện, một số giáo
trình đạo đức kinh doanh được xuất bản và đưa vào giảng dạy ở một vài trường kinh
tế. Những công trình đó đã đề cập và giải quyết nhiều khía cạnh của đạo đức kinh
doanh.
Như trình bày ở trên, đạo đức kinh doanh với tính cách là môn khoa học thì
còn mới mẻ đối với loài người. Điều này lại càng đúng với đặc điểm Việt Nam. Vì
vậy, khi bàn về khái niệm đạo đức kinh doanh, những phẩm chất, chuẩn mực của nó
hoặc sự cần thiết của đạo đức kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường, v.v. các
nhà nghiên cứu ở nước ta đưa ra khá nhiều quan điểm khác nhau.
Trong hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh” do Viện kinh tế đối ngoại - Bộ
thương mại (nay là Bộ Công thương) phối hợp với The ST James Ethies Centre –
Australia tổ chức năm 1995, phần nhiều các bài tham luận đều bàn tới sự tác động
của kinh tế thị trường tới đạo đức và vai trò của đạo đức trong kinh doanh hay sự
cần thiết của việc kinh doanh có đạo đức. Tham luận “Một số ý kiến về giáo dục
trong kinh doanh tại Việt Nam”, PGS. TS. Tô Xuân Dân, giảng viên đại học Kinh tế
quốc dân – Hà Nội khẳng định: “Đạo đức kinh doanh hiểu một cách đơn giản, là
những qui tắc đạo đức được vận dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh, là
những chuẩn mực chi phối hành vi của các nhà doanh nghiệp, là những giá trị mà

đức trong giao tiếp kinh doanh,… Với câu hỏi đạo đức kinh doanh là gì? PGS. TS.
Nguyễn Mạnh Quân có câu trả lời trong giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa
công ty” của mình như sau: “Đạo đức kinh doanh gồm những nguyên tắc và chuẩn
mực có tác dụng hướng dẫn hành vi trong mối quan hệ kinh doanh; chúng được
những người hữu quan (như người đầu tư, khách hàng, người quản lí, người lao
động, đại diện cơ quan Pháp lí, cộng đồng dân cư, đối tác, đối thủ,…) sử dụng để
phán xét một hành động cụ thể là đúng hay sai, hợp đạo đức hay phi đạo đức”[116.
18]. Như vậy, ở định nghĩa này, đạo đức kinh doanh được hiểu: là những quy tắc,
nguyên tắc hoặc các chuẩn mực được đưa ra nhằm ngăn chặn các hành vi sai nguyên
tắc đạo đức trong quá trình kinh doanh.
Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp” của GS. TS. Bùi
Xuân Phong, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 2009, lại đưa ra định nghĩa:
“Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều
chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Đạo
18
đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động kinh
doanh”[106. 40]
Trong giáo trình “Văn hóa kinh doanh” của tác giả Dương Thị Liễu (Chủ biên),
Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2009, khái niệm đạo đức kinh doanh
được khẳng định: “… là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều
chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh
doanh”[82.25].
Ngoài viêc đưa ra định nghĩa đạo đức kinh doanh, các giáo trình trên còn đề
xuất nhiều nội dung nhằm xây dựng và hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức kinh
doanh. Điển hình, giáo trình “Văn hóa kinh doanh” của tác giả Dương Thị Liễu, các
nguyên tắc chuẩn mực đạo đức kinh doanh là: tính trung thực; tôn trọng con người;
gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội; coi trọng hiệu
quả gắn với tinh thần trách nhiệm xã hội; bí mật và trung thành với các trách nhiệm
đặc biệt. Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp” của tác giả
Phạm Quốc Toản, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, năm 2007, lại đặt yêu cầu chuẩn

chung của xã hội; bốn là, tạo được niềm tin đối với người lao động, bảo vệ các
quyền lợi hợp pháp của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Còn tham luận “Đạo
đức và lợi nhuận trong kinh doanh” của PGS. TS. Nguyễn Văn Phúc lại khẳng định:
“Uy tín đạo đức của doanh nghiệp được nâng lên và trở thành một lợi thế thật sự
trong cạnh tranh, cụ thể là trong việc gọi vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, mở
rộng thị phần”[72. 193].
Thời gian qua, còn một số công trình nghiên cứu với các cách tiếp cận khác
nhau nhưng cùng chung mục đích khẳng định và xây dựng những chuẩn mực đạo
đức cho cộng đồng doanh nhân Việt Nam hiện nay. Có thể kể tới cuốn “Doanh nhân
Việt Nam – Nụ cười và nước mắt” gồm nhiều tập do Phó tổng biên tập báo Công An
Nhân Dân, Đại tá Lưu Vinh (Chủ biên), Nhà xuất bản Giao thông vận tải ấn hành,
bắt đầu từ năm 2007, trong đó các tác giả tập trung viết rất nhiều về doanh nhân Việt
Nam, những người nặng lòng với đất nước, đã đổ quá nhiều mồ hôi, công sức và
nước mắt trong cuộc đời. Qua những bài viết này, với những con người cụ thể, các
tác giả cho thấy, chìa khóa thành công đối với mỗi doanh nhân trên thương trường
chính là tính trung thực, tôn trọng chữ tín, yêu thương người lao động – người giúp
doanh nhân thực hiện được mục đích kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, họ cũng
luôn thể hiện là những con người cần, kiệm, liêm, chính; năng động sáng tạo; dám
nghĩ dám làm; dám chịu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Có thể nói
rằng đó là những con người vừa tài vừa đức.
Cuốn “Văn hóa doanh nhân – lý luận và thực tiễn”, do Lê Lựu (Chủ biên), Nhà
xuất bản Hội nhà văn, năm 2008, là cuốn sách tập hợp rất nhiều bài viết về doanh
20
nhân, khái niệm doanh nhân và các doanh nhân Việt Nam trong lịch sử. Các tác giả
thể hiện sự đề cao những đóng góp to lớn của doanh nhân Việt Nam đối với sự phát
triển của đất nước và vai trò của họ trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay. Qua bài viết của mình, các tác giả ít nhiều cho thấy, kinh doanh có đạo đức
như là bí quyết thành công trong sự nghiệp làm giàu của mỗi doanh nhân.
Ngoài ra còn có cuốn “Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp” của GS.
TS. Nguyễn Thị Doan và TS. Đỗ Minh Cương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề xây dựng đạo đức mới trong nền
kinh tế thị trường,… Tuy nhiên, đạo đức kinh doanh cũng chỉ là đạo đức nói chung
đó được vận dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh, bởi vậy những vấn đề vừa nêu
cũng là vấn đề gắn liền hoặc ít nhiều liên quan với đạo đức trong kinh doanh.
Trong các công trình đó, các tác giả của nó thực sự lo lắng cho sự “xuống cấp”
của đạo đức trong nền kinh tế thị trường. Có thể thấy điều này qua các bài: “Cơ chế
thị trường và những điều cần báo động”, Tạp chí Cộng sản số 10-1990 của tác giả
Vũ Hiền; “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta
chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học số 1-1995 của tác giả Nguyễn
Trọng Chuẩn; “Một số chuẩn mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế
thị trường”, Tạp chí Triết học số 1-1995 của tác giả Nguyễn Văn Huyên; “Bàn về sự
định hướng giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học
số 1-1995 của Lê Đức Phúc; “Tệ nạn xã hội – nỗi lo không của riêng ai”, Tạp chí
Cộng sản số 2-1996 của Nguyễn Thị Hằng,… Ở những bài viết này, các tác giả đã
chỉ ra sự biến động phức tạp trong đời sống xã hội Việt Nam khi bước vào nền kinh
tế thị trường. Cụ thể là: các giá trị truyền thống đang có biến đổi đa dạng, những giá
trị mới xuất hiện và ngày càng có ảnh hưởng rõ rệt trong đời sống xã hội cùng với
những phản giá trị đang có chiều hướng gia tăng; những suy nghĩ về các chuẩn mực,
các giá trị và cả “những điều cần báo động” đang đặt ra, đòi hỏi phải có sự nhìn
nhận thấu đáo, sự đánh giá nghiêm túc…
Công trình “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội” của tác giả Trường Lưu (Chủ
biên) do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 1998, các tác giả lại tập trung
bàn về nhiều vấn đề, như: Mấy yếu tố nền tảng của văn hóa đạo đức; Mấy vấn đề cơ
bản về văn hóa đạo đức hiện nay; Văn hóa đạo đức qua một số lĩnh vực hoạt động…
Qua đó, các tác giả đã thể hiện được cách nhìn nhận về vai trò của văn hóa đạo đức
trong sự tiến bộ xã hội và đặc biệt trong nền kinh tế thị trường ở nước ta sau những
năm thực hiện công cuộc đổi mới.
GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn với bài viết “Kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức”, đăng
22

GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, GS. TS. Hoàng Chí Bảo,…) là công trình tiêu biểu
về nghiên cứu đạo đức sau 20 năm đổi mới. Trên cơ sở phân tích, mổ xẻ hiện thực
cuộc sống trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công trình
23
nghiên cứu đã phác họa một cách trung thực và khá toàn diện toàn cảnh bộ mặt đạo
đức xã hội Việt Nam hiện nay trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực với
những số liệu điều tra xã hội phong phú, thuyết phục, làm hiện rõ thực trạng đạo đức
cán bộ, đảng viên, công chức, thanh niên, đạo đức trong lao động, giao tiếp và đạo
đức trong gia đình. Từ đó, các nhà khoa học chỉ ra nguyên nhân suy thoái đạo đức
trong xã hội: “Ngoài những nguyên nhân khách quan, sâu xa, trực tiếp cần phải nhận
diện những nguyên nhân chủ quan thuộc về chúng ta, từ lãnh đạo, quản lý, giáo dục
và tổ chức đời sống xã hội. Nhóm nguyên nhân này đã và đang trực tiếp dẫn tới sự
suy thoái đạo đức xã hội”[141. 264].
Công trình nghiên cứu “Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay - vấn đề và giải
pháp” của hai tác giả Lê Quý Đức và Hoàng Chí Bảo do Nhà xuất bản Văn hóa -
Thông tin và Viện văn hóa ấn hành năm 2007, lại đề cập tới nhiều vấn đề về văn hóa
đạo đức như là những vấn đề thời sự cần được xem xét giải quyết một cách khoa
học nhằm xây dựng một môi trường xã hội thực sự văn minh đóng vai trò cơ sở cho
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về đạo đức, công trình này đưa ra những
vấn đề chung, phân tích một cách toàn diện và sâu sắc những tác động của nền kinh
tế thị trường, từ đó chỉ rõ nguyên nhân của những tiêu cực thể hiện sự “trượt dốc”
trong lĩnh vực đạo đức. Biểu hiện của sự “trượt dốc” của đạo đức trong kinh doanh
là những vụ việc các doanh nghiệp vi phạm về pháp luật, như làm hàng giả, hàng
kém chất lượng, trốn thuế, buôn lậu, lừa dối khách hàng, lừa dối người lao động, xả
thải độc hại không xử lí ra môi trường,… Đây cũng chính là thực trạng văn hóa đạo
đức của nước ta hiện nay.
Tại hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh”, tháng 12 năm 2012, do Viện Triết
học Việt Nam và Viện Triết học Trung Quốc phối hợp tổ chức, GS. TS. Nguyễn
Trọng Chuẩn với tham luận “Lợi ích và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay”, đã phân tích và cảnh báo một cách nghiêm túc về thực trạng

doanh. Có thể kể tới cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” của TS. Đỗ
Minh Cương do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2001; “Tinh thần
doanh nghiệp – giá trị định hướng của văn hóa kinh doanh Việt Nam”, tác giả Trần
Quốc Dân, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2003; Luận án tiến sĩ kinh tế (năm
2004) “Vai trò của văn hóa kinh doanh quốc tế và vấn đề được xây dựng văn hóa
kinh doanh ở Việt Nam” của Nguyễn Hoàng Ánh; “Văn hóa kinh doanh trong các
doanh nghiệp ở Hà Nội” đề tài nghiên cứu khoa học – Bộ giáo dục và đào tạo, năm
2004, do PGS. TS. Dương Thị Liễu làm chủ biên,… Những công trình này cho thấy,
đạo đức kinh doanh là một trong những yếu tố cấu thành của văn bản kinh doanh.
Các tác giả đã góp phần làm rõ những kiến thức chung về đạo đức kinh doanh; mối
quan hệ của đạo đức kinh doanh với kinh tế thị trường; vai trò của đạo đức kinh
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status