1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất kỳ lĩnh vực nào, chế độ nào nhân tố con người hết sức quan trọng, đóng vai
trò quyết định để đạt được mục tiêu. Cán bộ là vốn quý báu nhất của Đảng, là người
lãnh đạo nhân dân, phục vụ nhân dân, tạo ra mối quan hệ giữa đảng với quần chúng.
Đảng nhân dân cách mạng Lào (NDCM Lào) luôn luôn nhấn mạnh rằng: “Cán bộ có
vai trò quyết định thành công hay thất bại của việc thực hiện đường lối của Đảng”.
Như vậy, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức (CB, CC) có vai trò, vị trí đặc
biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng nhân dân cách mạng Lào nhằm
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước là yêu cầu quan trọng của công cuộc xây
dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
(CHDCND Lào) hiện nay. Xây dựng đội ngũ CB, CC nói chung, công chức hành chính
cấp tỉnh nói riêng là một chủ trương lớn của Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào
ngay từ khi giành được chính quyền đã góp phần cung cấp thế hệ CC nối tiếp nhau
gánh vác nhiệm vụ trong suốt các chặng đường cách mạng. Trong những năm đổi mới
vừa qua, Đảng NDCM Lào đã tiếp tục quan tâm lãnh đạo công tác này. Việc quản lý và
sử dụng CC ngày càng có hiệu quả, hệ thống chính sách đãi ngộ đối với CC phù hợp
hơn, đặc biệt là từ khi thực hiện Nghị định số 171/NĐ-CP, ngày 11/11/1993 của Chính
phủ quy định về điều lệ công chức nhà nước CC của CHDCND Lào. Nội dung quan
trọng của Nghị định này là quy định về quyền, nhiệm vụ, lợi ích, trách nhiệm, việc
tuyển dụng, việc tập sự việc, quản lý CC v.v… Nghị định số 172/NĐ-CP, ngày
11/11/1993 của Chính phủ quy định về ngạch, bậc của CC, cùng với các quy định khác
có liên quan đang dần được hoàn thiện, nhất là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đội ngũ
CB, CC ngày càng có chất lượng. Tuy nhiên cũng trong những năm vừa qua, do cơ chế
chính sách còn có một số bất cập cùng với một số nguyên nhân do lịch sử để lại làm
cho việc quản lý, sử dụng đội ngũ CCHC chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, dẫn đến tình
trạng thiếu hụt CC thông thạo về hành chính, pháp luật, CC hoạch định chính sách và
CC chuyên môn nghiệp vụ giỏi, nhất là ở cấp tỉnh. Bên cạnh đó những diễn biến phức
tạp của tình hình quốc tế hiện nay, nhất là trước những tác động của mặt trái nền kinh
tế thị trường (KTTT); sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đã làm cho một
tỉnh theo yêu cầu của NNPQ.
- Đề xuất các quan điểm giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh
theo yêu cầu xây dựng NNPQ ở CHDCND Lào hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
3
tiễn xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh ở CHDCND Lào.
- Phạm vi nghiên cứu: Xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu xây
dựng NNPQ ở CHDCND Lào có phạm vi rộng, với nhiều vấn đề liên quan chặt chẽ
với nhau. Về thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh ở Lào, luận án
chỉ đề cập thực trạng đội ngũ CCHC và xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh từ khi giải
phóng đất nước tức là từ năm 1975 đến nay và các giải pháp xây dựng đội ngũ CCHC
cấp tỉnh ở CHDCND Lào đến 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
mácxít nghiên cứu các nội dung của luận án trên quan điểm hệ thống, toàn diện, khách
quan, lịch sử cụ thể gắn với các quan hệ khách quan - chủ quan, nguyên nhân - kết quả.
Luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng
hợp, phương pháp thống kê, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn v.v để nghiên cứu
nội dung của từng chương trong luận án.
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong tất cả các chương của
luận án khi đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu; nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh
giá thực trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh
ở CHDCND Lào hiện nay.
Trong chương 3 khi đánh giá thực trạng đội ngũ CCHC cấp tỉnh còn thực
trạng xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh ngoài phương pháp phân tích, tổng hợp tác
giả chú ý sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tài liệu thứ cấp, tham
chiếu các tài liệu thống kê, đánh giá của các cơ quan Đảng, Nhà nước Lào.
Trong chương 4 khi nghiên cứu đề xuất các quan điểm, giải pháp xây dựng đội
ngũ CCHC cấp tỉnh theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền tác giả chú trọng
chia các công trình nghiên cứu liên quan thành 3 nhóm vấn đề: các công trình
nghiên cứu về xây dựng đội ngũ CB, CC, các công trình nghiên cứu về xây dựng đội
ngũ CCHC cấp tỉnh và các công trình nghiên cứu về xây dựng nhà nước pháp quyền.
Trên cơ sở đó, luận án cho rằng các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ
CCHC cấp tỉnh theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở CHDCND Lào còn
rất ít. Riêng ở Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu phong phú với nhiều
tác giả viết liên quan trực tiếp đến chủ đề xây dựng CCHC, xây dựng NNPQ của
dân, do dân, vì dân. Xây dựng đội ngũ CC nói chung, đội ngũ CCHC nói riêng, đặc
5
biệt là đội ngũ CCHC cấp tỉnh, có chất lượng cao, hiện đại và chuyên nghiệp, đáp
ứng yêu cầu NNPQ của dân, do dân, vì dân đang là vấn đề cấp thiết được Đảng và
Nhà nước Việt Nam quan tâm và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến
vấn đề này trên các phương diện khác nhau. Còn ở CHDCND Lào vấn đề xây dựng
đội ngũ CCHC cấp tỉnh đến nay rất ít công trình nghiên cứu đến, những năm gần
đây, có một số công trình nghiên cứu đến đội ngũ CB, CC cấp tỉnh và các công trình
nghiên cứu đến đội ngũ CB, CC nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau như sau:
- Vắt tha Na CHĂN SA VANG (2007): “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền cấp tỉnh vùng tây bắc nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào’’,
- Khăm Pha Phim Ma Sỏn (2010):“Xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà
nước về kinh tế ở Tỉnh Bo Ly Khăm Xay, CHDCND Lào”; Bun Sợt Tham Mạ Vông
(2004), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh phía Nam nước
CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay;
- Đệt Tạ Kon Phi La Phan Đệt (2004), "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt các ban, ngành ở thành phố Viêng Chăn trong giai đoạn cách mạng hiện nay".
- Bun Lư Sổm Sắc Đi (2004), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh khu
vực phía Bắc của nước CHDCND Lào trong giai đoạn cách mạng hiện nay” - Khăm
Phăn Phôm Mạ Thắt (2005), "Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý ở CHDCND Lào trong thời kỳ đổi mớ"i.
Đó là những công trình nghiên cứu nghiêm túc, công phu. Ngoài ra còn có rất
nhiều các bài viết liên quan đến vấn đề nói trên trong các tạp chí, thông tin có giá trị
trở thành người công chức cần thỏa mãn điều kiện sau:
- Là công dân của nước đó.
- Được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển.
- Giữ một công vụ thường xuyên.
- Được xếp vào ngạch, một ngành chuyên môn.
- Làm việc trong một công sở.
- Lĩnh lương từ ngân sách nhà nước.
Sau khi phân tích quan niệm của một số nước, nghiên cứu sinh đưa ra khái
niệm công chức ở CHDCND Lào như sau: “CC là công dân Lào, được tuyển dụng,
bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ hay nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan
tổ chức của Đảng, nhà nước, tổ chức quần chúng ở trung ương, địa phương, các cơ
quan thay mặt nước CHDCND Lào ở nước ngoài, được phân loại theo chức vụ
7
chuyên môn và tương ứng là trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, theo vị trí công tác,
được xếp vào một ngạch công chức, mỗi ngạch có chức danh riêng, tiêu chuẩn riêng,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
b) Khái niệm công chức hành chính cấp tỉnh ở CHDCND Lào
Theo quan niệm chung thì CCHC là người làm việc trong các cơ quan công
quyền, cơ quan quản lý HCNN, trong các bộ phận hành chính của các cơ quan, đơn
vị sự nghiệp và các tổ chức khác được xếp vào một ngạch hành chính và hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước. Như vậy, có thể hiểu CCHC là một bộ phận quan
trọng của đội ngũ CC, đảm nhận chức năng quản lý hành chính nhà nước. Họ là
người trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào một ngạch CC hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, làm việc trong
các cơ quan HCNN các cấp.
Từ quan niệm nêu trên có thể hiểu CCHC cấp tỉnh ở CHDCND Lào là công
dân Lào, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hành chính, giữ một
công vụ thường xuyên trong các cơ quan chính quyền cấp tỉnh, hưởng lương từ ngân
sách nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi công vụ phục vụ nhà nước,
phục vụ nhân dân.
2.1.2. Khái niệm xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh
Xây dựng CC hành chính cấp tỉnh là quá trình tác động nhiều mặt để đội ngũ
công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp,
kỹ năng thực hành công vụ theo những tiêu chuẩn nhất định do yêu cầu, đòi hỏi của
công việc, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của từng chức danh, công việc của CC đảm
nhận trong cơ quan hành chính cấp tỉnh.
Như vậy, xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh là toàn bộ các hoạt
động nhằm hình thành được đội ngũ công chức hành chính trung thành với Đảng,
nhà nước, với nhân dân; thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ; tận tụy và có trách
nhiệm với công vụ; bảo đảm thực thi quyền hành pháp và các nhiệm vụ quản lý nhà
nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở cấp tỉnh.
2.2. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG
CHỨC HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH THEO YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
2.2.1. Các nguyên tắc xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh
9
Trong quá trình xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh phải quán
triệt vận dụng những nguyên tắc sau đây:
Một là, Quán triệt sâu sắc quan điểm giai cấp trong công tác xây dựng công
chức trên cơ sở chính sách đoàn kết rộng rãi các loại công chức, trọng dụng cán bộ
có tài.
Hai là, Xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh phải được tiến hành
theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ba là, Xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh phải bảo đảm tính
toàn diện để có đội ngũ công chức hành chính đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu
cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, Xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo
thống nhất của Trung ương Đảng và trực tiếp quản lý, điều hành của Chính phủ,
của chính quyền địa phương, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị.
lý, trong một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng đội
ngũ CC.
Để đáp ứng nhu cầu xây dựng đội ngũ CC, đặc biệt là CCHC cấp tỉnh, quy
hoạch CC phải bao gồm những nội dung sau đây:
+ Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ CC
+ Dự báo nhu cầu và tìm nguồn CC.
+ Thực hiện các bước quy hoạch CC.
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng
+ Thực hiện quy trình điều động, luân chuyển CC theo kế hoạch, tạo điều kiện
cho CC trong quy hoạch rèn luyện thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm ở các vị trí công
tác khác nhau.
+ Đưa CC dự nguồn vào các vị trí theo yêu cầu của quy hoạch.
+ Kiểm tra, tổng kết, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch
+ Nhận xét đánh giá CC dự nguồn.
+ Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch tạo nguồn, và danh sách CC dự nguồn.
+ Điều chỉnh bổ sung kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luận chuyển CC.
+ Tiếp tục đưa công chức dự nguồn vào vị trí đã quy hoạch.
11
+ Việc thực hiện các quy trình, biện pháp quy hoạch, quy chế, chính sách CC.
2.2.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh
Đào tạo, bồi dưỡng CCHC là hoạt động nhằm trang bị và nâng cao kiến thức,
năng lực cơ bản cho đội ngũ CCHC, xây dựng một đội ngũ CC có đủ phẩm chất,
trình độ năng lực để làm tốt nhất những công việc mà họ được giao, trong đó đào tạo
là một quá trình truyền thụ kiến thức mới một cách cơ bản, để người CC lĩnh hội và
nắm vững những trí thức, kỹ năng một cách có hệ thống, người CC sẽ có văn bằng
mới hoặc cao hơn trình độ trước khi được đào tạo.
Về nội dung, đào tạo, bồi dưỡng CCHC theo quan điểm chung bao gồm: đào tạo
về lý luận chính trị; đào tạo về chuyên môn; đào tạo về năng lực quản lý hành chính và
đào tạo về phẩm chất cá nhân;
2.2.2.4. Quản lý, kiểm tra, giám sát công chức hành chính
đang phụ trách, quản lý.
+ Hai là, phải nắm vững cơ chế và tình hình hoạt động của hệ thống tổ chức
bộ máy thuộc quyền quản lý.
+ Ba là, phải có năng lực tư duy nhạy bén, có trình độ chuyên môn tốt nghiệp
đại học trở lên và trình độ lý luận cao cấp, thành thạo tiếng Anh hay tiếng nước
ngoài nào đó, biết sử dụng phương tiện tin học, có kiến thức pháp luật.
+ Bốn là, phải có năng lực lãnh đạo, quản lý Nhà nước, phối hợp với các cơ
quan hữu quan.
b) Xây dựng tiêu chí đánh giá công chức hành chính cấp tỉnh
Tiêu chí là dấu hiệu dựa vào để đánh giá; trên cơ sở tiêu chuẩn được cụ thể
hóa, đánh giá quá trình hoạt động của cá nhân và đội ngũ. Tiêu chí đánh giá CC gồm
các nội dung chủ yếu sau:
Một là, tiêu chí liên quan đến phẩm chất cá nhân;
Hai là, tiêu chí liên quan đến năng lực quản lý;
Ba là, tiêu chí liên quan đến trình độ lý luận chính trị và trình độ chuyên môn;
Bốn là, các tiêu chí liên quan đến hiệu quả công việc;
Năm là, các tiêu chí liên quan đến tính cách quan hệ với quần chúng;
Sáu là, các tiêu chí liên quan đến mức độ đáp ứng nhu cầu công việc và tính
hợp lý, đồng bộ của đội ngũ CCHC đó là: cơ cấu giới tính, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu
13
ngành nghề, cơ cấu dân tộc, mức độ đạt hiệu quả công việc và hệ thống các văn
bằng CC nhận được qua quá trình đào tạo.
Đánh giá CC là biện pháp quản lý thông qua việc kiểm tra, kiểm định các chỉ
số nói lên sự làm việc, cống hiến của công chức, đánh giá hoạt động thực thi công
việc của CC trong cơ quan là một việc cần thiết để nhằm hoàn thiện không ngừng
hoạt động của họ. Có thể đánh giá CC trên các nội dung sau đây:
- Đánh giá hiệu quả công việc của CC trong cơ quan HCNN;
- Đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CC;
- Đánh giá tiềm năng của CC;
- Đánh giá động cơ của nhân lực trong cơ quan nhà nước.
nước tổ chức, hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật, quản lý xã thôn bằng pháp luật;
quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực
hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp; tôn trọng, thực hiện, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân; do Đảng
NDCM Lào lãnh đạo; thực hiện đường lối, đối ngoại hòa bình, hữu nghị, bình đẳng và
phát triển với các nước đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các Công ước, Điều
ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.
Những đặc trưng nêu trên đặt ra các yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, hoàn thiện
pháp luật cũng như xây dựng đội ngũ CB, CC nói chung và CCHC nói riêng.
2.3.2. Những yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với công tác xây dựng
đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Trong điều kiện đất nước Lào đang thời kỳ tổ chức thực hiện Nghị quyết trung
ương Đảng lần thứ IX, yêu cầu CC nhà nước nói chung, CCHC cấp tỉnh nói riêng
phải đáp ứng được những yêu cầu cụ thể như: 1) Yêu cầu vê phẩm chất chính trị;
2) Yêu cầu về đạo đức, lối sống; 3) Yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; 3)
Yêu cầu về chuyên môn hóa, hiện đại hóa đội ngũ công chức hành chính.
2.4. KINH NGHIỆM XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
CẤP TỈNH Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CỘNG HÒA
DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
2.4.1. Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh của một
số nước
Luận án tập trung phân tích, đánh giá và kinh nghiệm xây dựng đội ngũ CC
HC ở một số nước như: Cộng hòa Pháp và Nhật Bản là những nước phát triển có
nền hành chính và kinh nghiệm xây dựng đội ngũ công chức hành chính phát triển;
15
Trung Quốc, Việt Nam là những nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tập
quán có nhiều điểm tương đồng với CHDCND Lào, nhưng có trình độ phát triển
kinh tế tương đối cao và đi trước Lào trong việc vận dụng cơ chế thị trường và xây
dựng đội ngũ công chức. Kinh nghiệm của những nước này cần được nghiên cứu,
tham khảo vận dụng phù hợp với CHDCND Lào.
phỏng vấn, đánh giá kết quả và bổ nhiệm (với tổng số điểm được quy định là 100).
Hai là; kinh nghiệm về chế độ thi kiểm tra
Trong công tác CB, CC của Trung Quốc có hai chế độ thi kiểm tra CC (thực
chất là chế độ đánh giá CC) được thực hiện theo hai hình thức định kỳ (1 năm 1 lần
vào dịp cuối năm); thường kỳ và đột xuất (do lãnh đạo, đồng nghiệp quan sát, đánh
giá) và là cơ sở cho kiểm tra định kỳ. Theo đó, chế độ thi kiểm tra CC được thực
hiện trên cơ sở 5 nội dung cơ bản là đức, năng, cần, thích, liêm - thực chất là sự tổng
hợp và cụ thể hóa của tiêu chuẩn “Đức - Tài kiêm toàn”, phương châm “bốn hóa”,
nguyên tắc chú trọng thành tích thực tế trong công tác CB, CC của Trung Quốc.
2.4.1.4. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đối với việc xây dựng đội ngũ CC cấp tỉnh qua nghiên cứu một số tài liệu,
tham khảo và học hỏi kinh nghiệm một số tỉnh tiêu biểu rút ra những bài học kinh
nghiệm như sau : 1) Kinh nghiệm.Về tuyển dụng công chức; 2) Về công tác quản lý,
đánh giá, sử dụng công chức; 3) Về chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ đối với công
chức; 4) Về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
2.4.2. Bài học kinh nghiệm của các nước vận dụng trong công tác xây dựng
đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Từ kinh nghiệm xây dựng đội ngũ CC nhà nước ở một số nước nêu trên, chúng
tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho CHDCND Lào như sau:
Một là, tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, đều nhận thức rõ
tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ CC đối với việc nâng cao
năng lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, trong việc thích ứng với một
thế giới đang chuyển đổi.
Hai là, nhà nước phải ban hành đầy đủ và đồng bộ các văn bản pháp
quy làm cơ sở pháp lý để thống nhất việc xây dựng, quản lý và sử dụng đội
ngũ CCNN.
Ba là, tỉnh ủy, và trực tiếp là đồng chí Bí thư tỉnh ủy là người có trách nhiệm
trực tiếp đối với công tác CB, CC kể từ khâu quy hoạch, kế hoạch, tuyển dụng, sử
17
dụng, bồi dưỡng, đào tạo…
Mục tiêu của chương 3 là phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ CCHC và xây
dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh ở CHDCND Lào từ năm 1975 đến nay. Qua đó chỉ ra
những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế trong xây dựng đội
ngũ CCHC cấp tỉnh tạo cơ sở đề xuất các quan điểm, giải pháp xây dựng đội ngũ
CCHC cấp tỉnh theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền.
3.1. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH Ở
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
3.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ công chức hành chính tỉnh ở
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
- Về vị trí địa lý, nước Cộng hòa dân chủ nhân Lào nằm ở bán đảo Đông
Dương (châu Á), sâu trong lục địa, thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa ở Đông Nam Á,
có diện tích 236.800 km
2
, với một đường biên giới dài 4.825 km, giáp với 5 nước:
Bắc giáp với Trung Quốc có đường biên giới dài 416 km, Tây bắc giáp với Myanma
có đường biên giới dài 230 km, phía tây giáp với Thái Lan có đường biên giới dài
1.730 km, phía Đông giáp với Việt Nam với đường biên giới dài 2.057 km và phía
nam giáp với Campuchia với đường biên giới dài 392 km.
- Về địa hình và khí hậu, do điều kiện tự nhiên, nước CHDCND Lào gồm có
17 tỉnh, thành và được chia thành 4 vùng, mỗi vùng có điều kiện địa hình, đất đai, khí
hậu, thời tiết khác nhau, có vùng 4 tháng mùa mưa, địa hình đồi núi chiếm 90% của
tổng diện tích đất nước, đường giao thông kém phát triển, đi lại gặp nhiều khó khăn,
điều đó đã được sự ảnh hưởng tác động mạnh đến đời sống, đi lại và điều kiện làm
việc, học tập của đội ngũ CB, CC cấp tỉnh, nói chung và đối với đội ngũ CCHC cấp
tỉnh nói riêng, dẫn đến chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ CCHC cấp
tỉnh, thành không cao.
- Về xã hội, cơ cấu dân cư và tộc người: theo kết quả điều tra dân số toàn
quốc lần thứ hai, công bố ngày 1/3/2005, dân số Lào có 5.609.997 người, trong đó
nữ 2.813.589 người (chiếm 50,2%), hiện bình quân 23 người/km
2
Hệ thống chính trị ở Lào hiện nay gồm Đảng NDCM Lào, Nhà nước
CHDCND Lào, Mặt trận xây dựng đất nước, và các tổ chức chính trị -xã hội khác.
Hệ thống chính trị ở Lào hiện nay được xây dựng thành bốn cấp, trung ương, tỉnh,
huyện và bản-làng; hoạt động theo nguyên tác tập trung dân chủ, bảo đảm quyền
làm chủ của nhân dân, do Đảng NDCM Lào lãnh đạo và theo cơ chế Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Do vậy, ở Lào tỉnh là mắt xích trung gian trong mối quan hệ giữa địa phương
và trung ương, nơi tổ chức thực hiện các chính sách và quyết định của nhà nước trung
ương; phối hợp hoạt động của các ngành, các cơ quan nhà nước tại địa phương. Chính
quyền cấp tỉnh là cơ quan quyền lực đại diện cho nhà nước trung ương, đồng thời
cũng là cơ quan quyền lực của địa phượng.
20
- Về văn hóa, người Lào có truyền thống lễ hội để làm phúc và được phúc. Ở
Lào quanh năm có lễ hội, các lễ hội chính năm như Tết (bunpimay), bun phạ vệt,
bun bẳng phay, bun hò khẩu sa lạc, bun hò khẩu pạ đắp đin, bun khẩu phăn sà, bun
ọc phăn sa, bun xuông hưa, bun thạt luông.v.v Văn hóa và trình độ văn hóa, văn
hóa công dân, văn hóa dân chủ, văn hóa pháp luật, văn hóa lãnh đạo, quản lý còn
rất nhiều hạn chế và ảnh hưởng tiêu cực đến công tác CB, CC.
3.1.2. Quá trình hình thành, phát triển công chức hành chính cấp tỉnh ở
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Sự ra đời và phát triển của đội ngũ CC NN nước Lào gắn liền với sự ra đời và
phát triển của nền hành chính Lào qua các thời kỳ. Bên cạnh những nét chung, đội
ngũ công chức được hình thành và phát triển do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa,
xã hội của đất nước còn mang trong mình những nét đặc trưng riêng gắn liền với quá
trình đấu tranh cách mạng giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Quá trình hình thành đội ngũ CC ở Lào có thể chia thành 3 giải đoạn gắn liền
với từng thời kỳ phát triển của đất nước.
3.1.2.1. Giai đoạn từ năm 1975-1986
Sau khi giành được độc lập (ngày 02-12-1975), nhân dân Lào đã đập tan chế
độ cai trị cũ, xóa bỏ những gì không phù hợp với đường lối phát triển của dân tộc,
Sau khi Thủ tướng-Chính phủ ban hành Nghị định 171/TTg-CP về Điều lệ
CC, Nghị quyết của Bộ chính trị số 21/BCT thì các ban, ngành đã được tiến hành
quản lý một cách tập trung, thống nhất trong cả nước, công tác CB, CC đã cơ bản
được thực hiện theo quy hoạch và thống nhất về số lượng trong toàn quốc, năm 1999
số CC cả nước gồm có 83.000 người.
3.1.2.3. Giai đoạn từ năm 2003 đến hiện nay
Để tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ, công chức, ngày 19/5/2003 Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 82/CP về Điều lệ CC nước CHDCND Lào để thay thế
Nghị định số 171/CP và Nghị định số 172/CP, Nghị định sửa đổi bổ sung này là để
quy định những nguyên tắc, Điều lệ và đơn vị tổ chức phụ trách công tác CC nước
CHDCND Lào mà không phải là CB lãnh đạo (từ Thứ trưởng trở lên và tương
đương), công an, quân đội, viên chức doanh nghiệp nhà nước và CB hợp đồng; nội
dung quan trọng trong Điều lệ này đã quy định quyền và nghiệm vụ, trách nhiệm và
lợi ích, kỷ luật, đánh giá và quản lý công chức và v.v. .
Trên cơ sở định hướng của các Nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật
của Nhà nước, từ năm 2003 đến 2012, đội ngũ CC ở Lào đã có sự biến đổi lớn về số
22
lượng, đến năm 2006 có 99.659 người, năm 2010 có 132.442 người, và năm 2012 có
142.603 người, nữ 61.760 người trong đó đội ngũ công chức nhà nước cấp tỉnh gồm
có 26.223 người, nữ 10. 489 người.
3.2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH
CẤP TỈNH Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
3.2.1. Thực trạng thực hiện các nội dung xây dựng đội ngũ công chức
hành chính cấp tỉnh
3.2.1.1. Về quy hoạch đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh
3.2.1.2. Xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá đội ngũ công chức hành
chính cấp tỉnh
- Xây dựng tiêu chuẩn đối với đội ngũ CCHC cấp tỉnh.
- Xây dựng tiêu chí đánh giá đội ngũ CCHC cấp tỉnh.
3.2.1.3. Về tuyển dụng; sử dụng; đánh giá; bố trí, đề bạt; điều động, luân
7.135 người, nữ 2.256 người; Trình độ sơ cấp: có 29.253 người, nữ 10.091 người,
công chức ở cấp tỉnh có 14.527 người, nữ 5.417 người; Trình độ tập huấn 45 ngày: ở
CHDCND Lào các công chức trẻ, làm việc tích cực, có thành tích tốt trong công
việc của mình thì sẽ được đào tạo trình độ lý luận chính trị 45 ngày. Công chức ở
cấp tỉnh được tập huấn 45 ngày có12.365 người, nữ 4,873 người.
- Về trình độ tin học và ngoại ngữ
+ Trình độ tin học: đã có 18.769 CC cấp tỉnh được cấp chứng chỉ tin học trong
đó đạt trình độ A là 5.586 người, đạt trình độ B có 7.356 người và đạt trình độ C có
5.827 người.
+ Trình độ ngoại ngữ: có 8.314 CC cấp tỉnh có các chứng chỉ ngoại ngữ chiếm
31,92% tổng số công chức cấp tỉnh, có 2.914 người đạt trình độ A, 4.284 người đạt
trình độ B và 1.116 đạt trình độ C.
3.2.1.5. Chế độ chính sách, trách nhiệm công chức hành chính cấp tỉnh
- Chế độ chính sách: Luận án tập trung nêu ra 2 chính sách cơ bản của CC đó
là chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với CC.
- Trách nhiệm đội ngũ CC: Để đảm bảo cho CC thực thi công vụ một cách thật
sự vô tư tận tụy và ngay thẳng với mục tiêu tăng cường trách nhiệm của CC đối với
các hoạt động công vụ của mình, theo đó cán bộ CC phải chịu trách nhiệm toàn diện
về các hoạt động trong thực thi công vụ, bao gồm cả trách nhiệm kỷ luật, trách
24
nhiệm dân sự, trách nhiệm vật chất và trách nhiệm hình sự, tùy theo tính chất mức
độ của hành vi khi xảy ra vi phạm.
3.2.1.6. Về tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách đối với công chức hành
chính cấp tỉnh
Việc đề ra các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nước
CHDCND Lào là một nước chậm phát triển, nền kinh tế còn lạc hậu, việc quản lý
nhà nước theo pháp luật nói chung chưa nghiêm minh, nền công vụ còn non yếu, do
vậy việc thực hiện các văn bản pháp qui, chính sách đối với CC dĩ nhiên là còn
nhiều tồn tại và bật cập, nhất là ở địa phương. Qua khảo sát thực tế ở một số tỉnh thì
Luận án đã nêu ra những bật cập và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật, các văn
+ Nguyên nhân quan trọng là cấp ủy Đảng, lãnh đạo chủ chốt của các tỉnh
có sự đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, bền vững, là truyền thống quý báu Đảng
NDCM Lào nói chung, của các tỉnh nói riêng, đây là yếu tố quyết định trong mọi
công việc.
+ Đảng NDCM Lào, đã đề ra đường lối, chiến lược, sách lược, cơ chế bồi
dưỡng, đào tạo, quản lý và thực hiện chính sách tốt đối với CC trong từng giai đoạn
+ Đội ngũ CCHC cấp tỉnh một phần đã qua thử thách trong khói lửa cách
mạng giải phóng đất nước, qua sự rèn luyện, phấn đấu trong quá trình thực hiện hai
nhiệm vụ: bảo vệ và xây dựng tổ quốc là lực lượng cốt cán trong công cuộc đổi mới
của đất nước.
3.2.3. Những hạn chế trong xây dựng đội ngũ công chức hành chính cấp
tỉnh ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và nguyên nhân
3.2.3.1. Những hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm, thành tựu, luận án cũng đã phân tích những hạn chế
trong xây dựng đội ngũ CCHC cấp tỉnh, cụ thể:
+ Về đội ngũ CCHC cấp tỉnh tuy số lượng tăng nhưng chất lượng chưa đáp
ứng được yêu cầu của nhiệm vụ hiện nay của công cuộc đổi mới đất nước.
+ Đến nay ở một số tỉnh đặc biệt ở các tỉnh miền bắc chưa có đội ngũ chuyên
gia cố vấn trong lĩnh vực hành chính và thiếu công chức quản lý hành chính giỏi,
nhân viên nhiệm vụ thông thạo, am hiểu pháp luật, có khả năng hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực.
+ Đội ngũ CCHC cấp tỉnh có tình trạng vừa thừa vừa thiếu, nhiều chuyên
viên chính và lãnh đạo chủ chốt chưa đảm bảo đủ tiêu chuẩn về chính độ chuyên
môn và lý luận của ngạch quy định, chưa đảm đương được yêu cầu chức trách của