LUẬN VĂN:
Hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt
động hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương - từ thực
tiễn tỉnh Vĩnh Phúc Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương là một trong những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn cấp
hành chính hết sức phức tạp, còn rất nhiều tồn tại, các quy trình và thủ tục hành chính tuy
đã được cải cách song vấn rất hạn chế, không ít thủ tục mới phiền hà. Điều này làm tiềm
ẩn nguy cơ về sự vi phạm pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức. Do đó, đòi hỏi hoạt
động hành chính nhà nước phải chịu sự giám sát chặt chẽ. Đến lượt mình, sự giám sát hành
chính đó chỉ có thể có hiệu lực, hiệu quả khi nó được tiến hành theo các quy định của pháp
luật. Đó là pháp luật về giám sát hành chính nhà nước. Pháp luật này hiện nay cũng như
pháp luật hành chính nói chung đang còn rất nhiều hạn chế, tồn tại, đòi hỏi cấp bách phải
hoàn thiện.
- Thực tiễn hoạt động hành chính ở nước ta trong những năm qua đã đạt được
những thành tựu nhất định song cũng còn không ít những vấn đề tồn tại cần phải được cải
cách về thể chế hành chính, về bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức hành chính, đặc biệt
là tình trạng cửa quyền, lạm quyền, quan liêu, mất dân chủ hay tình trạng lãng phí, tham
nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng. Tình trạng này có nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân do pháp luật giám sát hành chính chưa đồng bộ và thiếu cụ
thể, thiếu thống nhất, chưa xây dựng được cơ chế giám sát, tổ chức và hoạt động của cơ
quan giám sát, nội dung giám sát và những chế tài của hoạt động giám sát. Thực tiễn cho
thấy, tăng cường hoạt động giám sát phải đi liền với việc giao quyền giám sát cho ai, cơ
quan nào là hợp lý cũng như nội dung và hiệu lực giám sát phải gắn với việc hoàn thiện pháp
luật về giám sát hành chính.
- Về phương diện khoa học pháp lý, giám sát hành chính và pháp luật về giám sát
hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là những khái niệm đang còn nhiều cách tiếp cận khác nhau, như về chủ thể giám sát, đối tượng giám sát và
các chế tài giám sát hành chính, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc nhằm tạo cơ sở khoa
học cho việc hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính.
Từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật về giám sát
hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương - từ thực
tiễn tỉnh Vĩnh Phúc" làm luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà
nước và pháp luật. Đề tài được thực hiện sẽ góp phần phát huy vai trò của pháp luật về
của Vũ Mạnh Thông (năm 1998); "Trách nhiệm pháp lý của công chức trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ luật học của Ngô Hải
Phan; "Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong giải quyết khiếu kiện hành chính
ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Kim v.v
Bên cạnh đó còn có một số bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như:
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện giám sát đối với cán
bộ, công chức, đảng viên ở khu dân" của Đỗ Duy Thường, Tạp chí Mặt trận Tổ quốc, số
22; "Thiếu một cơ chế giám sát hoàn thiện" của Nguyễn Khanh, Báo Pháp luật, số 222,
ngày 16 tháng 9 năm 2005; "Nâng cao hiệu quả giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
nhân dân đối với bộ máy nhà nước" của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Dân vận, số 7, 2005
v.v
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập tới một số khía cạnh của hoạt động
giám sát quyền lực nhà nước song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và
hệ thống về giám sát hành chính và pháp luật về giám sát hành chính đối với cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương. Do đó, tiếp thu những kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn
nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện vấn đề hoàn thiện pháp luật về giám sát hành
chính hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương từ thực
tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng
pháp luật và thực hiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy phạm pháp luật trực tiếp điều
chỉnh hoạt động giám sát hoạt động hành chính của các chủ thể có quyền giám sát hành
chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, gồm: Hội đồng nhân dân,
Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng, công dân và cơ quan báo
chí. Trong đó, luận văn tập trung vào thực tiễn giám sát hành chính ở Vĩnh Phúc trong giai
đoạn hiện nay.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau:
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về giám sát, giám sát hành chính, pháp luật về
giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
- Đánh giá khái quát thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật về
giám sát hành chính hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương qua các giai đoạn hình thành và phát triển của nền hành chính nhà nước.
- Góp phần hoàn thiện pháp luật về giám sát hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương bằng việc luận chứng các quan điểm, giải pháp hoàn thiện
pháp luật đó.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả của luận văn sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn để
hoàn thiện pháp luật về giám sát hành chính hoạt động hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương. Các quan điểm, giải pháp mà luận văn luận chứng có giá trị
tham khảo đối với các cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, luận văn là nguồn tư liệu tham
khảo tốt cho công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật. 8. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương và 7 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về
giám sát hoạt động hành chính của các
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
1.1. Giám sát và giám sát hoạt động hành chính
là góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước ta có thể xác định
hoạt động giám sát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước như sau:
+ Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân
dân);
- Giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước;
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Hoạt động giám sát chỉ có thể đạt được hiệu quả khi đảm bảo được các điều kiện
nhất định về chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tổ chức, tâm lý, văn hóa, trong
đó điều kiện về chính trị, pháp luật nói chung và pháp luật về hoạt động giám sát nói riêng
đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Để đi tới khái niệm giám sát hoạt động hành chính cần tìm hiểu khái niệm hoạt
động hành chính. ở nước ta, hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước gồm: Chính phủ,
các bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở Trung ương; ở địa
phương có ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan quản lý nhà nước của Trung ương
đóng trên địa bàn ở địa phương. Đó là các cơ quan thực hiện hoạt động quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra hàng ngày, thường xuyên trên phạm vi cả
nước và trên từng địa bàn đơn vị hành chính. Các cơ quan nhà nước ở địa phương có vị trí,
chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được pháp luật quy định, trực tiếp thực hiện hoạt động
quản lý nhà nước ở địa phương. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan này góp phần quan trọng vào hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đến lượt mình, hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được bảo đảm bởi
nhiều yếu tố, trong đó có hoạt động giám sát chính các hoạt động của các cơ quan này.
Hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được thể
hiện ở việc ban hành các quyết định hành chính, gồm các quyết định hành chính quy
phạm, quyết định cá biệt, và bằng việc thực hiện hàng loạt các hành vi mang tính pháp lý,
hành vi hành chính khác để tổ chức phục vụ đời sống xã hội, thực hiện lợi ích công cộng ở
địa phương. Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động hành chính nhà nước
ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhất là ban hành văn bản cá biệt thiếu căn cứ và cơ
sở pháp lý, thậm chí trái pháp luật dẫn đến xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân.
Bên cạnh việc ban hành văn bản, hoạt động hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương còn được thực hiện dưới hình thức là các hành vi hành chính.
Các hành vi hành chính được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục vừa trên cơ sở của
luật, của văn bản lập quy, vừa trên cơ sở của các quyết định hành chính cá biệt hoặc hành
vi quản lý của người có thẩm quyền. Hành vi hành chính cũng luôn ẩn chứa nguy cơ vi
phạm pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ngoài ra, hoạt động
thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo do chính cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương thực hiện cũng là một hình thức đòi hỏi phải được vận dụng đúng pháp luật,
tiến hành chính xác mới không dẫn tới nguy cơ vi phạm pháp luật.
Thứ năm, phương pháp quản lý hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương được sử dụng chủ yếu là thuyết phục, cưỡng chế, các phương pháp hành chính
và kinh tế. Trong việc sử dụng phương pháp quản lý, nếu cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương sử dụng không phù hợp với quy định của pháp luật, áp dụng sai đối tượng
cũng có thể dẫn tới gây thiệt hại cho các đối tượng bị áp dụng, nhất là khi áp dụng phương
pháp hành chính và phương pháp cưỡng chế. Như vậy, với tính chất đa dạng, phức tạp trên, hoạt động hành chính của các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương tiềm ẩn nhiều nguy cơ, có thể dẫn tới vi phạm
pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân, của tổ chức và của Nhà nước, đòi
hỏi hoạt động này phải chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ cả từ phía các cơ quan nhà
nước, và cả từ phía xã hội, của từng cá nhân công dân. Chỉ khi nào hoạt động giám sát
hành chính đối với hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
được thiết lập và thực hiện thì hiệu quả từ hoạt động hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương mới được thực thi có hiệu quả, sử dụng đúng và có hiệu quả
các nguồn lực của địa phương, tổ chức thực hiện tốt Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, phát huy dân chủ, góp phần tăng cường hiệu lực của
cán bộ, công chức trong các cơ quan này, từ đó ngăn ngừa, uốn nắn, xử lý hoặc kiến nghị
xử lý, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hỗ trợ đắc lực cho hoạt
động tư pháp và công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm của giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương
Từ quan niệm về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương có thể rút ra một số đặc điểm sau:
- Về mục đích: Giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương nhằm mục đích đảm bảo cho toàn bộ hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương cũng như hoạt động của các công chức trong các cơ quan
này đúng theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn. Đây chính là
cơ sở đảm bảo cho quyền lực nhà nước được kiểm soát một cách chặt chẽ, đồng thời bổ
sung cho giám sát của Quốc hội, kiểm tra của Đảng đối với các tổ chức đảng trong các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương. Với mục đích trên, giám sát hoạt động hành
chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương góp phần thiết lập trật tự trong
quản lý, bảo vệ các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích nhà nước và lợi ích
của địa phương. Đồng thời, giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cũng nhằm chống lại sự lộng hành, lạm dụng quyền lực hành chính,
phát hiện và ngăn chặn các hành vi tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật của các cán
bộ có chức, có quyền. Giám sát hành chính nói chung và giám sát thông qua hoạt động xét
xử của Tòa hành chính nói riêng, với ưu thế của các phán quyết của tòa án được coi là hoạt
động giám sát hữu hiệu nhất đối với hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương. Hoạt động của Tòa hành chính sẽ làm cho bộ máy hành chính nhà
nước nói chung, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng nâng cao trách
nhiệm, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc ra
các quyết định và thực hiện các hành vi hành chính, nâng cao trách nhiệm, bổn phận của
cán bộ, công chức trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do,
dân chủ, lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
phải được đặt trong điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương cụ thể, không thể máy
móc, áp đặt, và phải tuân thủ đúng các quy định pháp luật về phân công, phân cấp quản lý
nhà nước để tránh tình trạng chồng chéo, lấn sân.
Thứ hai, hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
nằm trong hệ thống thống nhất các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở,
đứng đầu là Chính phủ. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thống nhất thực
hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tính thống nhất, thứ
bậc, thống suốt của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước. Chính vì vậy hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương bên cạnh việc chịu sự giám sát của các chủ thể giám sát nêu trên còn phải thường
xuyên chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan hành chính cấp trên. Kiểm tra, thanh tra của các
cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, theo hệ thống dọc khác với giám sát của Hội đồng
nhân dân, giám sát của Tòa án và giám sát xã hội, song có tác động tích cực đối với chính cơ
quan hành chính. Tuy vậy, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý không thể không có hoạt
động giám sát.
Thứ ba, hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là hoạt
động trực tiếp tổ chức đời sống xã hội, trực tiếp phục vụ nhu cầu của xã hội, của nhân dân, đặc biệt là hoạt động của chính quyền cơ sở. Đây là cấp gần dân, sát dân nhất; những yêu cầu,
nguyện vọng chính đáng của nhân dân được các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
tiếp nhận và trực tiếp giải quyết. Khác với các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương là
cơ quan quản lý trên phạm vi cả nước và chủ yếu tập trung vào việc điều hành các lĩnh vực
của đời sống xã hội ở phạm vi chung nhất của đất nước, hoạt động hành chính của các cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương là những hoạt động cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề đặt
ra ở địa phương, cơ sở và cũng là khâu dễ phát sinh những sai phạm, vi phạm trong tổ chức và
hoạt động thực thi quyền lực nhà nước theo phân công, phân cấp. Chính vì vậy, các hoạt động
này cần thiết phải được đặt trong sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ
quan tòa án, giám sát xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của công dân.
- Về hình thức và phương pháp giám sát: Với mỗi một chủ thể giám sát có các
chính). Đặc điểm này cho thấy hình thức và phương pháp giám sát hoạt động hành chính
của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương mang tính phức hợp, đòi hỏi phải được
thực hiện một cách khoa học mới đem lại hiệu quả giám sát cao.
1.2. Pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính
Nhà nước ở địa phương
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về giám sát hoạt động hành chính
của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương là toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong giám sát hoạt động hành chính của các chủ thể có thẩm quyền giám sát đối vói các
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, có nguồn là các văn bản quy phạm pháp luật
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện.
Từ quan niệm trên cho thấy, thông qua việc điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh từ
hoạt động giám sát đối với hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước ở địa phương,
pháp luật về giám sát hoạt động này xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của
từng cơ quan nhà nước trong hoạt động giám sát. Chính từ đây, pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có những đặc điểm
sau:
- Về mục đích:
Pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương có mục đích chung là điều chỉnh hoạt động giám sát của các chủ thể có chức năng
giám sát đối với hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Các
quy phạm pháp luật được quy định ngày càng cụ thể hơn và hoàn thiện hơn nhằm mục đích
chung là đảm bảo cho hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương sử dụng
đúng đắn và có hiệu quả các nguồn lực của địa phương, tổ chức thực hiện tốt Hiến pháp và
pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, phát huy dân chủ, góp phần tăng
cường hiệu lực của bộ máy nhà nước. Các quy phạm pháp luật về hoạt động giám sát hoạt
động hành chính nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tạo cơ sở pháp
Nội dung cơ bản của pháp luật giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương bao gồm những vấn đề cơ bản sau:
Một là, các quy phạm quy định về chủ thể giám sát.
Các quy phạm quy định về chủ thể giám sát hoạt động hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương có nguồn trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các văn
bản pháp luật có liên quan.
- Về Hội đồng nhân dân: Tại Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban
nhân dân năm 2003 quy định:
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của
Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng
nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương
[45]. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được tiến hành thường xuyên, gắn liền với
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: Giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ
họp; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát của các ban của Hội đồng nhân
dân và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Như vậy, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với cơ quan hành chính
nhà nước địa phương thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
với cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Trong mối quan hệ
đó cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của
mình trước Hội đồng nhân dân. Tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước
địa phương được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân nhằm đảm bảo hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước một cách tốt nhất.
- Tòa án nhân dân: Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định:
cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị
của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân,
tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi
ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ,
nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật,giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên
hoạt động có hiệu quả [42].
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay có 32 thành viên, trong đó Đảng Cộng sản
Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận, và có
5 thành viên là các tổ chức chính trị - xã hội, gồm Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân
Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc theo quy định của pháp luật là hoạt động
giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà
nước, bảo đảm cho bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu
quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Hoạt động giám sát của Mặt trận được thực hiện theo ba hình thức: động viên
nhân dân thực hiện quyền giám sát; tham gia hoạt động giám sát với cơ quan nhà nước và
trực tiếp giám sát thông qua các hình thức hoạt động như: tổng hợp ý kiến của nhân dân và
các thành viên của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, biểu dương,
khen thưởng người tốt, việc tốt, kiến nghị xem xét, giải quyết, xử lý những trường hợp vi
phạm pháp luật. Pháp luật cũng quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức
tạo điều kiện để Mặt trận thực hiện quyền giám sát. Khi nhận được kiến nghị của Mặt trận
thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xem xét, trả lời trong thời hạn theo
quy định của pháp luật.
Như vậy, Ban thanh tra nhân dân là một chủ thể giám sát đối với hoạt động hành
chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
- Giám sát của các cơ quan báo chí: Báo chí có khả năng chuyển tải thông tin đến
với các tầng lớp nhân dân, với ba chức năng quan trọng: chức năng thông tin, chức năng
tạo dư luận xã hội và chức năng nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu giải trí của các tầng lớp
nhân dân. Hiện nay, báo chí đã phát triển thành bốn loại hình khác nhau là báo in, báo nói,
báo hình và báo điện tử. Điều 3 Luật Báo chí quy định các loại hình báo chí gồm:
Báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương
trỡnh phỏt thanh), bỏo hỡnh (chương trỡnh truyền hỡnh, chương trỡnh nghe -
nhỡn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân
tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài [43].
Với tính đại chúng của báo chí, khả năng và nhiệm vụ giám sát mang tính xã hội
đối với hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là hết
sức quan trọng. Bởi lẽ, đối tượng giám sát của báo chí hướng tới phục vụ nhu cầu thông tin
cho công chúng; công chúng dễ tiếp cận với các loại hình báo chí một cách nhanh nhất, ổn
định nhất và liên tục nhất. Như vậy, báo chí là diễn đàn của nhân dân, tạo công luận,
hướng dẫn công luận, khích lệ, truyền bá một tư tưởng, phản ánh khách quan hoạt động
hành chính. Do đó, trong hoạt động giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương thì báo chí được coi là chủ thể quan trọng, là công cụ đóng
vai trò tư vấn, phản biện, giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương.
- Công dân là chủ thể giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương. Hiến pháp nước ta quy định Công dân Việt Nam là những người có
quốc tịch Việt Nam không phân biệt gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo (Điều 49). Bên
cạnh đó, Hiến pháp cũng quy định: "Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã
hội, tham gia thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ
quan nhà nước khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân" (Điều 53) [12]. ở Việt Nam, công