hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của
Đảng ta đều thống nhất về vai trò, vị trí của nhân dân, khẳng định quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở:
“Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền
hạn đều của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân
cử ra” [29, tr.698]. Điều 2, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi:
“Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân”.
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực
của mình thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ
trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực về những
vấn đề chính yếu, cơ bản của một tập thể, một cộng đồng, một xã hội. Các cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đưa vào thực hiện
trong cuộc sống. Dân chủ đại diện là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp
từ chủ thể quyền lực mà thông qua đại diện do chủ thể bầu ra để thực hiện
quyền do chủ thể uỷ thác. Nhân dân (chủ thể quyền lực) có quyền kiểm tra,
giám sát hoạt động của các cơ quan, cá nhân đại diện cho mình để thực hiện
quyền lực nhà nước nhằm hạn chế sự tuỳ tiện, lạm dụng ở đó.
Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước và là
của nhân dân, do đó cần phải được nhân dân giám sát. Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc khoá X nêu rõ: “Phát huy vai trò của cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ
chức chính trị- xã hội và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức cơ
quan công quyền” “Công khai các quy định về thủ tục hành chính để dân biết,
thực hiện và giám sát”, khẳng định: “Hoạt động của Đảng và Nhà nước phải
chịu sự giám sát của nhân dân” [18, tr.304]. Điều 8, Hiến pháp 1992 quy
định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân
1
dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến

hành chính nhà nước và cán bộ, công chức ở đó lạm quyền, cửa quyền, sách
nhiễu nhân dân, vi phạm pháp luật diễn ra có lúc, có nơi rất nghiêm trọng gây
bức xúc trong dư luận xã hội. Thực trạng đó có nhiều nguyên nhân, trong đó
có nguyên nhân là do thiếu sự giám sát cần thiết của nhân dân. Để nhân dân
thực hiện quyền giám sát của mình với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà
nước, chống lại nguy cơ cơ quan phục vụ dân chuyển thành cơ quan đứng trên
dân, đòi hỏi phải hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ
quan hành chính nhà nước. Mặt khác về phương diện khoa học pháp lý, hoạt
động giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước cũng phải
dựa trên cơ sở pháp luật. Trong khi đó pháp luật về giám sát của nhân dân đối
với cơ quan hành chính nhà nước còn có nhiều bất cập, hạn chế khiến việc
thực hiện còn thiếu hiệu lực, hiệu quả đòi hỏi phải được tiếp tục hoàn thiện.
Từ những căn cứ và lý do trên, học viên chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật
về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước” làm luận
văn thạc sỹ Luật, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giám sát và nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát đối với cơ quan
nhà nước được đề cập nhiều trong các công trình và diễn đàn khoa học, trên
các sách, báo, tạp chí và được phổ biến khá rộng rãi trong xã hội. Có thể nêu
một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Sách chuyên khảo: Tiến sỹ Phạm Ngọc Kỳ (1996), “Về quyền giám
sát tối cao của Quốc hội”; Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát
của một số nước trên thế giới, sách tham khảo (2001) Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội; “Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước” của
Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên) (2003), Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội; PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2005) “Sự hạn chế quyền lực Nhà
nước”, PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2006), “Nhà nước và trách nhiệm của
nhà nước”
3
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ: “Vấn đề nhân dân giám sát các cơ quan

quan liêu, tham nhũng hiện nay” của Bùi Thành Phần, Tạp chí Dân vận số
01/2005; “Lênin nói về kiểm tra giám sát để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong sạch” của Lê Trọng Hanh, Tạp chí Tư tưởng văn hoá, số 4/2005
Nhìn chung các công trình, đề tài, bài viết nêu trên đều đề cập đến vấn
đề giám sát, hoạt động giám sát của các cơ quan trong hệ thống chính trị,
giám sát của cơ quan quyền lực đối với cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp;
giám sát hành chính ở trong cơ quan hành chính; giám sát của MTTQ và các
đoàn thể nhân dân đối với cơ quan dân cử, cơ quan hành chính, cơ quan tư
pháp; giám sát của cơ quan tư pháp với cơ quan hành chính Nhưng chưa có
công trình nào đề cập toàn diện, có hệ thống về giám sát của nhân dân đối với
cơ quan hành chính nhà nước cũng như hoàn thiện pháp luật về hoạt động
giám sát đó. Tiếp thu những kết quả nghiên cứu trên, luận văn này tập trung
nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với cơ quan
hành chính nhà nước.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích: Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
- Nhiệm vụ: Từ mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, vai trò pháp luật về giám sát
của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
+ Xác định các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về giám
sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
+ Phân tích quá trình phát triển và thực trạng pháp luật về giám sát của
nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
+ Đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát của
nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính
nhà nước vừa phản ánh bản chất nhà nước vừa là quyền của công dân, được ghi
5
nhận trong quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước từ 1945 đến

phục những hạn chế, bất cập trong hoạt động thực tiễn thời gian qua. Đồng
thời là nguồn tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho các công trình khoa học,
công tác nghiên cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn liên quan đến giám sát của
nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, VAI TRÒ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA
NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm về giám sát, giám sát của nhân dân, pháp luật về
giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước
1.1.1.1 Giám sát:
Cùng với kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát là một loại nhiệm vụ
trong quá trình thực thi quyền lực chính trị nhằm làm cho các đối tượng (của
chủ thể giám sát) thực hiện đúng yêu cầu, mục đích, chức năng, nhiệm vụ đặt
ra.
Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức,
cộng đồng người này với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các
lĩnh vực kinh tế-xã hội, trong thực hiện quan điểm, đường lối, nghị quyết của
Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa
vụ của công dân, tổ chức, cá nhân để kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu,
xử lý đối với tổ chức, cá nhân có hành vi sai trái.
Về thuật ngữ giám sát, hiện nay được dùng rất phổ biến trong khoa học
chính trị, pháp lý và được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng, Nhà
7
nước và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội cũng như phổ biến ở đời
sống xã hội.

- Giám sát bảo đảm cho cán bộ, công chức, đảng viên luôn kiên định về
lập trường chính trị, có trách nhiệm công vụ, phẩm chất cách mạng tốt đẹp,
ngăn ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống và trong
thực thi nhiệm vụ được giao.
- Giám sát là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi chủ thể giám sát
phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có quyết tâm cao, có kiến thức chuyên
môn và hiểu biết về luật pháp nhất định.
- Giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát có mối quan hệ pháp lý,
gắn quyền và trách nhiệm của mỗi bên. Khách thể giám sát mà các bên trong
quan hệ giám sát cùng hướng tới là trạng thái hoạt động bình thường, thông
suốt, đúng pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chủ thể giám sát phải
là “khách quan, bên ngoài” độc lập tương đối với đối tượng giám sát.
Để hiểu rõ về giám sát trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước cần
phân biệt giám sát với kiểm tra, thanh tra, kiểm sát.
- Giám sát khác với kiểm tra. Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê
chủ biên thì kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” do
đó kiểm tra là khái niệm bao hàm những thao tác có tính xác định, tính cụ thể
rõ hơn. Kiểm tra được thực hiện khi có dấu hiệu hoặc sự việc sai phạm xảy ra
là “xem xét cụ thể công việc”. Chủ thể và đối tượng kiểm tra có thể cùng hệ
thống với nhau (tự kiểm tra, cấp trên kiểm tra cấp dưới).
- Giám sát khác với thanh tra. Thanh tra theo Từ điển Tiếng Việt là
“Kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”.
Theo Luật Thanh tra (2004), đó là “việc xem xét đánh giá, xử lý của cơ quan
quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ của
cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục
được quy định” [27, tr.8]. Như vậy, thanh tra và giám sát có chỗ giống nhau
là đều có hoạt động “xem xét, đánh giá” nhưng khác nhau ở chỗ giám sát là
9
sự “chủ động theo dõi” còn thanh tra thường chỉ xem xét khi có dấu hiệu, sự
việc vi phạm xảy ra. Hậu quả pháp lý của giám sát chủ yếu thông qua hình

hội, nhà nước là một hiện tượng nảy sinh từ xã hội, thuộc về xã hội, quyền lực
nhà nước là một dạng của quyền lực xã hội; Thứ hai, hoạt động giám sát do
chủ thể Đảng, Nhà nước, nhân dân thực hiện đều có mục đích ngăn ngừa,
khắc phục những sai lệch khỏi các quy phạm mà xã hội đặt ra hoặc thừa nhận.
Theo nghĩa hẹp, giám sát xã hội được hiểu là giám sát của nhân dân bởi
chủ thể giám sát là các tổ chức, cá nhân bên ngoài nhà nước và nó là một loại
giám sát trong tổng thể cơ chế giám sát đối với quyền lực nhà nước. Trong luận
văn này đề cập đến giám sát xã hội theo nghĩa hẹp, tức là giám sát của nhân dân.
Để hiểu rõ giám sát của nhân dân cần phân biệt với giám sát của Đảng
và giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước.
- Giám sát của Đảng, là việc cấp uỷ, tổ chức đảng theo dõi, xem xét,
đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc
chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và
đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành TW. Tổ chức Đảng cấp
trên được giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; đảng viên được tham
gia giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền. Như vậy,
giám sát của Đảng là giám sát “bên ngoài nhà nước” nhưng do bản chất chính
trị và vị trí hạt nhân của Đảng trong hệ thống chính trị nên giám sát của Đảng
là giám sát của chủ thể lãnh đạo đối với Nhà nước. Hoạt động này được thông
qua cán bộ, đảng viên do đảng giới thiệu, cử lãnh đạo bộ máy nhà nước;
thông qua tổ chức cơ sở đảng được thành lập tương ứng với cơ quan nhà
nước. Giám sát của Đảng có vai trò quan trọng đối với đời sống chính trị-xã
hội của đất nước, góp phần đẩy lùi những biểu hiện thoái hoá, biến chất, tiêu
cực trong Đảng và bộ máy Nhà nước.
- Giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, đó là hoạt động chủ yếu
của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhằm giám sát quá trình tổ chức
và thực hiện quyền lực nhà nước. Đặc điểm của loại giám sát này là mang
11
tính quyền lực nhà nước rõ nét, là hệ thống các cơ quan hoạt động có tính
chuyên nghiệp, được quy định rất cụ thể, chặt chẽ trong các văn bản quy

chính nhà nước
Thuật ngữ “Hành chính”, theo nghĩa Hán Việt là thi hành những chính
sách và mệnh lệnh của Chính phủ. Hành chính (Admi nistration) còn được
giải thích là những hành vi, biện pháp để thi hành chính sách do cơ quan
chính trị thiết lập. Đó là những hoạt động thường xuyên liên tục để đáp ứng
nhu cầu chung của nhân dân.
Cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam là một bộ phận cấu thành của
bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ quan
chấp hành và điều hành của Quốc hội và HĐND các cấp, có hệ thống được tổ
chức theo thứ bậc từ trung ương đến cơ sở, có chức năng quản lý mọi mặt của
đời sống xã hội dựa trên pháp luật.
Pháp luật quy định quyền giám sát của nhân dân đối với tổ chức và
hoạt động của quyền lực nhà nước nói chung, của cơ quan hành chính nhà
nước nói riêng. Theo đó, nhân dân có quyền và trách nhiệm giám sát cơ quan,
cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều
kiện để nhân dân và các tổ chức xã hội giám sát hoạt động của mình. Điều 8,
Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn
trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân
dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết
đấu tranh chống tham nhũng lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu,
hách dịch, cửa quyền [53, tr.201].
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, phạm vi đối tượng chịu sự
giám sát là toàn thể các “cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước”
13
trong đó có cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức hoạt động
trong các cơ quan đó.
Giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước, thực chất
là giám sát hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước trong việc chấp hành,
thực hiện pháp luật trong quản lý xã hội theo mục tiêu do Đảng Cộng sản Việt

giám sát ở đây bao gồm: mọi người dân thuộc các tầng lớp, giai cấp, dân tộc,
tôn giáo khác nhau sống trên cùng lãnh thổ Việt Nam; đồng thời cũng là
những cơ quan, tổ chức được pháp luật quy định. Với tư cách là chủ thể của
quyền lực nhà nước, nhân dân thể hiện ý chí của mình thông qua hình thức
dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Với hình thức trực tiếp nhân dân là các
cá nhân, công dân; với hình thức đại diện, nhân dân là các tổ chức do mình
bầu nên như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Nhân dân còn thực hiện
quyền của mình thông qua các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội, tổ chức xã
hội, tập thể lao động do mình thừa nhận hoặc tham gia. Chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật giám sát của nhân dân rất đa dạng và có xu hướng mở rộng.
Trong đó có những cơ quan, tổ chức ở góc độ này thì là chủ thể nhưng ở góc
độ khác lại là đối tượng giám sát, đồng thời có thể trở thành hình thức trong
quan hệ giám sát, ví dụ như: cơ quan báo chí vừa là chủ thể giám sát của cơ
quan hành chính nhà nước đồng thời là đối tượng giám sát của nhân dân; khi
nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với cơ quan hành chính nhà
nước thông qua cơ quan báo chí thì cơ quan báo chí trở thành một trong các
phương thức giám sát của nhân dân. Cũng như vậy, Thanh tra nhân dân vừa là
chủ thể vừa là hình thức giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nước.
Nhà nước là cơ quan đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân,
nhận sự uỷ quyền của nhân dân, thay mặt nhân dân quản lý xã hội. Do đó, nhà
nước phải tạo điều kiện để mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
chịu sự giám sát của nhân dân. Trong luận văn này, chủ thể giám sát được đề
cập đến bao gồm: các tổ chức chính trị- xã hội (Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
15
thể nhân dân), các tổ chức xã hội, các tập thể lao động, các cơ quan báo chí và
cá nhân công dân.
(1) Các tổ chức chính trị xã hội: (MTTQ Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân)
Điều 9, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định về địa vị
chính trị pháp lý và nhiệm vụ giám sát (chức năng) của MTTQ Việt Nam và

các thành viên là cá nhân tiêu biểu.
Giám sát của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên là giám sát
mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm
sát của nhà nước, góp phần xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân, làm cho
bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo
vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lợi ích hợp pháp của công dân,
quản lý tốt mọi mặt đời sống xã hội theo pháp luật.
Các tổ chức chính trị-xã hội là thành viên của MTTQ có thể thực hiện
quyền giám sát của mình thông qua Mặt trận; hầu hết điều lệ các đoàn thể có
quy định việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội, đồng thời có quyền giám
sát độc lập, như Điều 10, Hiến pháp 1992 quy định:
Công đoàn cùng cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên
chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và
xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
tổ chức kinh tế [53, tr.202].
MTTQ còn có chức năng tổ chức và chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh
tra nhân dân ở cơ sở. Pháp luật quy định đó là hình thức giám sát của nhân
dân đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị
trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước. Tổ chức và
hoạt động của Thanh tra nhân dân được Chính phủ, sau khi trao đổi, thống
nhất với Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Đoàn Chủ
17
tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, quy định tại Nghị định số
99/2005/NĐ-CP.
Theo Nghị định số 99/2005NĐ-CP của Chính Phủ ngày 28/7/2005 thì
việc thành lập Ban Thanh tra nhân dân “để giám sát việc thực hiện chính sách
pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở, góp phần phát huy dân chủ, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [60, tr.29]. Như

lượng vô cùng lớn với hình thức hết sức đa dạng tập trung trong các doanh
nghiệp, nhà máy, hầm mỏ, đơn vị sự nghiệp, hợp tác xã Tập thể lao động
trong cơ quan hành chính nhà nước tham gia giám sát với ý nghĩa là theo dõi,
xem xét, đánh giá hoạt động của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà
nước có tác dụng quan trọng góp phần hạn chế vi phạm nguyên tắc tập trung
dân chủ, tham nhũng, lãng phí, lạm quyền trong thực hiện công vụ.
(4) Các cơ quan báo chí- với tính chất vừa là chủ thể vừa là phương
tiện giám sát của nhân dân: Chức năng giám sát của báo chí và truyền thông
đại chúng lần đầu tiên được đề cập trong Nghị quyết TW 6 (lần 2) khoá VIII
của Đảng Cộng sản Việt Nam với khẳng định: “Là một trong bốn hệ thống
giám sát xã hội”. Đó là sự xác định, đề cao quyền dân chủ của nhân dân đồng
thời trao cho nhân dân công cụ sắc bén để thực hiện quyền giám sát của mình.
Theo Luật báo chí thì có các loại hình sau:
Báo in (Báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (Đài
phát thanh), báo hình (Đài truyền hình), báo điện tử (được thực hiện trên
mạng vi tính) bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài
Với chức năng thông tin, chức năng tạo dư luận xã hội (phản biện) và
chức năng giáo dục, nâng cao dân trí, báo chí ngày càng có vai trò quan trọng
đối với đời sống chính trị-xã hội, hoạt động quản lý nhà nước và nhu cầu của
nhân dân. Do đó, báo chí được coi là chủ thể quan trọng, là công cụ, phương
tiện đắc lực của nhân dân để thực hiện chức năng giám sát đối với cơ quan
hành chính nhà nước.
19
Luật báo chí hiện hành và pháp luật nói chung đều quy định khuyến
khích báo chí đưa tin, phản ánh về những việc làm sai trái của cơ quan, cán
bộ, công chức nhà nước; lên án các hành vi tham nhũng, vi phạm pháp luật và
các hiện tượng tiêu cực xã hội khác; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật tạo diễn đàn để các tầng lớp nhân dân thực hiện quyền giám sát. Cơ quan
báo chí, phóng viên có quyền yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

cơ cấu tổ chức riêng để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình do pháp luật
quy định, đó là hoạt động trên một đơn vị lãnh thổ hành chính hay trên một
lĩnh vực nhất định.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước do
Hiến pháp, pháp luật quy định. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan hành chính nhà nước do vị trí, tính chất của nó trong hệ thống các
cơ quan nhà nước quyết định. Quyền hạn của cơ quan hành chính nhà nước là
phương tiện pháp lý cần thiết để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao.
Cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống thống nhất từ TW đến địa
phương, đứng đầu hệ thống đó là Chính phủ. Các cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền chung (Chính phủ, UBND các cấp) do các cơ quan quyền lực
nhà nước (Quốc hội, HĐND các cấp) lập ra. Do vậy, các cơ quan đó phải chịu sự
giám sát trực tiếp và báo cáo công tác trước các cơ quan quyền lực nhà nước.
Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan nhà nước, một bộ
phận cấu thành của bộ máy nhà nước do đó cơ quan hành chính nhà nước có
các đặc điểm chung của cơ quan nhà nước. Ngoài ra, cơ quan hành chính nhà
nước có những đặc điểm riêng mà qua đó ta có thể phân biệt được cơ quan
hành chính nhà nước và cơ quan khác, đó là:
Thứ nhất, cơ quan hành chính nhà nước có chức năng quản lý hành
chính nhà nước, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung
do cơ quan quyền lực cùng cấp lập ra. Các cơ quan khác trong bộ máy hành
chính nhà nước không do cơ quan hành chính lập ra nhưng về nguyên tắc vẫn
21
phải chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước, sự giám sát của nhân
dân.
Hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước là
hình thức hoạt động chủ yếu để đưa các văn bản pháp luật của cơ quan quyền
lực nhà nước vào thực tiễn đời sống xã hội và quản lý nhà nước. Trong khi
các cơ quan nhà nước khác chỉ tham gia hoạt động quản lý hành chính trong

quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng. Cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền chung gồm Chính phủ và UBND các cấp. Các cơ quan
này theo quy định của Hiến pháp có thẩm quyền giải quyết vấn đề trong các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đối với các đối tượng khác nhau như
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân. Cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền riêng bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, sở, phòng… có chức năng quản lý theo ngành hay theo chức năng, các
cơ quan này hoạt động trong một ngành hay một lĩnh vực, một số ngành hay
một số lĩnh vực nhất định và hoạt động không được vượt ngoài giới hạn phạm
vi thẩm quyền đã được pháp luật quy định.
- Căn cứ theo nguyên tắc tổ chức và giải quyết công việc (theo chế độ
lãnh đạo) cơ quan hành chính nhà nước được phân thành hai loại: Cơ quan tổ
chức và hoạt động theo chế độ lãnh đạo tập thể và cơ quan tổ chức và hoạt
động theo chế độ thủ trưởng một người.
+ Cơ quan hành chính nhà nước theo chế độ tập thể lãnh đạo là cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền chung (Chính phủ và UBND các cấp).
Các cơ quan này thường giải quyết các công việc và quyết định các vấn đề
quan trọng có liên quan đến nhiều lĩnh vực nên cần có sự đóng góp trí tuệ tập
thể trong bàn bạc và quyết định. Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001)
các cơ quan như Chính phủ, UBND các cấp hoạt động theo nguyên tắc kết
hợp giữa chế độ tập thể với chế độ thủ trưởng. Đó là cách làm việc của tập thể
Chính phủ và UBND với việc tăng cường quyền hạn, trách nhiệm của Thủ
tướng và Chủ tịch UBND. Cách thức chủ yếu là tập thể thảo luận, quyết định
theo đa số đối với các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của cơ quan, đồng
23
thời căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn của mình Thủ tướng, Chủ tịch UBND
các cấp quyết định các vấn đề thuộc phạm vi, chức trách của mình.
+ Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn tổ
chức và hoạt động theo chế độ thủ trưởng một người. Thủ trưởng cơ quan là
người đại diện cho cơ quan, ý chí của họ do sự uỷ nhiệm của pháp luật, là ý

+ Giám sát đối với các quyết định, hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước xem có hợp hiến, hợp pháp và có tính hợp lý hay không.
+ Giám sát việc tuân thủ và tổ chức thực hiện các văn bản của cơ quan
quyền lực nhà nước cùng cấp, cấp trên cũng như của cơ quan hành chính có
thẩm quyền.
+ Giám sát đối với việc bảo đảm thực hiện các quyền tự do và lợi ích
chính đáng của công dân được pháp luật bảo vệ.
+ Giám sát đối với đội ngũ cán bộ, công chức thực thi trách nhiệm công
vụ trong cơ quan hành chính nhà nước.
+ Giám sát hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước,
việc sử dụng các nguồn lực vật chất, tài chính, lao động và các nguồn lực
khác trong tổ chức lao động, sử dụng các thành tựu, công nghệ mới
Việc phân chia nội dung giám sát như trên chỉ có tính chất tương đối
bởi mỗi chủ thể trong giám sát của nhân dân có sự khác nhau về mục đích,
nhiệm vụ, tính chất và vị trí của mình. Mặt khác, cũng không phải chủ thể nào
trong đó đều thực hiện đầy đủ các nội dung giám sát nêu trên, nhưng về tổng
thể, các chủ thể giám sát bao quát toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ quan
hành chính nhà nước.
- Hình thức giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước.
Giám sát của nhân dân được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng,
phong phú tuỳ thuộc vào vị trí, tính chất, đặc điểm của chủ thể giám sát. Mỗi
loại chủ thể có những hình thức giám sát phù hợp với vị trí, tính chất và đặc
25

Trích đoạn Về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội đối với cơ quan hành chính nhà nước Về giám sát của các tổ chức xã hội đối với cơ quan hành chính nhà nước Về giám sát của các tập thể lao động đối với cơ quan hành chính nhà nước Về giám sát của cơ quan báo chí, dư luận xã hội đối với cơ quan hành chính nhà nước Về giám sát trực tiếp của công dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status