Hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơquan hành chính nhà nước ở địa phương - từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 28



1
MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương là một trong những vấn đề có tính lý
luận và thực tiễn cấp bách hiện nay, bởi vì:
- Xuất phát từ vị trí, vai trò tầm quan trọng của nền hành chính nhà
nước và yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước theo Chương trình tổng thể
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 đến 2010. Mục tiêu của Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước là: Xây dựng một nền hành chính
dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Đến năm 2010 hệ thống hành chính về cơ bản đã được cải cách phù hợp
với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ mục tiêu trên có thể thấy rõ: hoàn thiện pháp luật giám sát hành
chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương vừa là nội dung
của cải cách hành chính, vừa là một trong những biện pháp pháp lý không thể
thiếu nhằm thúc đẩy cải cách nền hành chính theo mục tiêu đã xác định.
- Giám sát hành chính (hay còn gọi là giám sát hoạt động hành chính
của các cơ quan hành chính nhà nước) bao gồm giám sát của cơ quan quyền
lực nhà nước, các cơ quan tư pháp và giám sát xã hội (giám sát của các tổ
chức chính trị - xã hội và các cơ quan báo chí v.v...). Mục đích của giám sát
hành chính là phát hiện các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật trong quá
trình hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, ngăn ngừa, uốn
nắn những sai lầm, lệch lạc, thực hiện mục tiêu quản lý hành chính nhà nước,

3
giám sát. Thực tiễn cho thấy, tăng cường hoạt động giám sát phải đi liền với
việc giao quyền giám sát cho ai, cơ quan nào là hợp lý cũng như nội dung và
hiệu lực giám sát phải gắn với việc hoàn thiện pháp luật về giám sát hành chính.
- Về phương diện khoa học pháp lý, giám sát hành chính và pháp luật
về giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương là những khái niệm đang còn nhiều cách tiếp cận khác nhau, như về
chủ thể giám sát, đối tượng giám sát và các chế tài giám sát hành chính, đòi
hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn
thiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính.
Từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật
về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở
địa phương - từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc" làm luận văn Thạc sĩ Luật học
chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Đề tài được thực hiện
sẽ góp phần phát huy vai trò của pháp luật về hoạt động giám sát hoạt hành
chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Vĩnh Phúc, giúp cho các cơ
quan này thực hiện có hiệu lực, hiệu quả quản lý, thực hiện tốt cải cách hành
chính ở địa phương.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, nghiên cứu về giám sát hành chính đối với cơ quan hành
chính nhà nước được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu sau:
- Sách chuyên khảo: "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền
lực nhà nước" do GS,TSKH Đào Trí Úc và PGS,TS Võ Khánh Vinh đồng
chủ biên; "Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án" của TS.
Nguyễn Thanh Bình; "Hành chính công" của Học viện Hành chính Quốc gia do
TS. Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên và tập thể tác giả là cán bộ nghiên cứu, giảng
dạy của Học viện Hành chính Quốc gia, phát hành năm 2003; "Thể chế dân chủ

thiện" của Nguyễn Khanh, Báo Pháp luật, số 222, ngày 16 tháng 9 năm 2005; 5
"Nâng cao hiệu quả giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân đối
với bộ máy nhà nước" của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Dân vận, số 7, 2005
v.v...
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập tới một số khía cạnh
của hoạt động giám sát quyền lực nhà nước song chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện và hệ thống về giám sát hành chính và pháp luật về
giám sát hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Do
đó, tiếp thu những kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn nghiên cứu một cách
hệ thống, toàn diện vấn đề hoàn thiện pháp luật về giám sát hành chính hoạt
động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương từ thực
tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về giám sát hoạt động hành chính
của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy phạm pháp luật trực
tiếp điều chỉnh hoạt động giám sát hoạt động hành chính của các chủ thể có
quyền giám sát hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, gồm: Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các
đoàn thể quần chúng, công dân và cơ quan báo chí. Trong đó, luận văn tập
trung vào thực tiễn giám sát hành chính ở Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về giám sát hoạt
động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và pháp luật
về giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước ở địa



7
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau:
- Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về giám sát, giám sát hành chính,
pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương.
- Đánh giá khái quát thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp
luật về giám sát hành chính hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính
nhà nước ở địa phương qua các giai đoạn hình thành và phát triển của nền
hành chính nhà nước.
- Góp phần hoàn thiện pháp luật về giám sát hành chính của các cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương bằng việc luận chứng các quan điểm,
giải pháp hoàn thiện pháp luật đó.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả của luận văn sẽ góp phần xây dựng cơ sở khoa học và
thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về giám sát hành chính hoạt động hành
chính của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Các quan điểm,
giải pháp mà luận văn luận chứng có giá trị tham khảo đối với các cơ quan có
thẩm quyền. Đồng thời, luận văn là nguồn tư liệu tham khảo tốt cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương và 7 tiết.
8
Chơng 1
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về

Xem xét hoạt động giám sát nh trên cho thấy giám sát đối với việc tổ
chức và hoạt động thực hiện quyền lực nhà nớc không chỉ là giám sát của các
cơ quan nhà nớc mà còn là giám sát của toàn bộ hệ thống chính trị, và, chỉ
khi nào giám sát đợc thực hiện trong mối liên hệ mật thiết, hữu cơ với các bộ
phận của toàn bộ hệ thống chính trị thì mới có hiệu quả. Mặt khác, giám sát của
nhà nớc và giám sát của xã hội đối với việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà
nớc có mối liên hệ biện chứng, thống nhất trong một cơ chế giám sát. Mỗi yếu
tố - mắt xích trong cơ chế đó gắn kết với nhau nhằm đạt đợc mục đích cuối
cùng là góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nớc.
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động thực hiện quyền lực nhà nớc ta có thể
xác định hoạt động giám sát việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớc nh sau:
+ Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội
đồng nhân dân);
- Giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nớc;
- Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan t pháp.
Hoạt động giám sát chỉ có thể đạt đợc hiệu quả khi đảm bảo đợc các
điều kiện nhất định về chính trị, t tởng, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tổ chức,
tâm lý, văn hóa, trong đó điều kiện về chính trị, pháp luật nói chung và pháp
luật về hoạt động giám sát nói riêng đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Để đi tới khái niệm giám sát hoạt động hành chính cần tìm hiểu khái
niệm hoạt động hành chính. ở nớc ta, hệ thống các cơ quan hành chính nhà
nớc gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan quản lý hành
chính nhà nớc ở Trung ơng; ở địa phơng có ủy ban nhân dân các cấp và
các cơ quan quản lý nhà nớc của Trung ơng đóng trên địa bàn ở địa phơng. 10
Đó là các cơ quan thực hiện hoạt động quản lý nhà nớc trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội diễn ra hàng ngày, thờng xuyên trên phạm vi cả nớc và trên
từng địa bàn đơn vị hành chính. Các cơ quan nhà nớc ở địa phơng có vị trí,

tình trạng lộng quyền, lạm quyền, vi phạm pháp luật của cơ quan hành chính
nhà nớc ở địa phơng.
Thứ ba, hoạt động hành chính nhà nớc của các cơ quan nhà nớc ở
địa phơng có tác động lớn đến đời sống xã hội ở địa phơng. Các hoạt động
này đợc đảm bảo bằng nhiều nguồn lực khác nhau nh tài chính, cơ sở vật
chất, lực lợng cán bộ, công chức, bộ máy tuyên truyền, lực lợng cảnh sát...
Đây chính là u thế của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng trong quá
trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Thứ t, hình thức hoạt động cơ bản của cơ quan hành chính nhà nớc ở
địa phơng là ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính, văn bản áp
dụng pháp luật. Với các hình thức này, cơ quan hành chính nhà nớc ở địa
phơng thực hiện quản lý hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa
phơng. So với hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì hoạt động
ban hành văn bản áp dụng pháp luật đợc đợc thực hiện nhanh và phạm vi
vấn đề giải quyết rộng và chiếm phần lớn khối lợng công việc của hoạt động
hành chính. Các văn bản này tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của các
đối tợng có liên quan, đụng chạm trực tiếp đến quyền tự do và lợi ích của cá
nhân. Do đó, trong hoạt động này, cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng
luôn đứng trớc nguy cơ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhất là ban
hành văn bản cá biệt thiếu căn cứ và cơ sở pháp lý, thậm chí trái pháp luật dẫn
đến xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Bên cạnh việc ban hành văn bản, hoạt động hành chính của các cơ
quan hành chính nhà nớc ở địa phơng còn đợc thực hiện dới hình thức là
các hành vi hành chính. Các hành vi hành chính đợc thực hiện một cách
thờng xuyên, liên tục vừa trên cơ sở của luật, của văn bản lập quy, vừa trên
cơ sở của các quyết định hành chính cá biệt hoặc hành vi quản lý của ngời có 12
thẩm quyền. Hành vi hành chính cũng luôn ẩn chứa nguy cơ vi phạm pháp

- Giám sát của cơ quan quyền lực nhà nớc đối với hoạt động hành
chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng. Đó là hoạt động giám sát
do Hội đồng nhân dân thực hiện theo chức năng và nhiệm vụ đợc quy định
trong Hiến pháp và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Quy
chế hoạt động của của Hội đồng nhân dân và các văn bản liên quan khác v.v...
- Giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện, nh giám sát
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
- Giám sát của Thanh tra nhân dân. Đây là tổ chức giám sát mang tính
nhân dân đợc tổ chức nhằm giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính
nhà nớc ở địa phơng và hành vi hành chính của các cán bộ, công chức trong
các cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng.
- Giám sát thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trực tiếp
là qua việc thực hiện thẩm quyền tài phán của Tòa hành chính đối với quyết
định hành chính và hành vi hành chính của cơ quan hành chính hoặc cá nhân
có thẩm quyền ban hành, thực hiện.
- Giám sát của các cơ quan báo chí.
- Giám sát của công dân. Hoạt động này chủ yếu đợc thực hiện thông
qua việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, thông qua việc thực
hiện quy chế dân chủ ở xã, ở cơ quan, doanh nghiệp.
Nh vậy, giám sát hành chính (giám sát hoạt động của các cơ quan
hành chính nhà nớc ở địa phơng) là hoạt động do cơ quan quyền lực nhà
nớc ở địa phơng, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên của Mặt trận, các cơ quan báo chí và công dân thực hiện
bằng những hình thức, phơng pháp quy định trong Hiến pháp và pháp luật
có nội dung là theo dõi, xem xét, đánh giá, phát hiện kịp thời các quyết định
hành chính, hành vi hành chính vi phạm Hiến pháp, pháp luật trong quá trình
hoạt động quản lý nhà nớc của các cơ quan hành chính nhà nớc ở địa 14

15
luật, kỷ cơng, tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc ra các quyết
định và thực hiện các hành vi hành chính, nâng cao trách nhiệm, bổn phận của
cán bộ, công chức trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ, tôn trọng và bảo vệ
quyền tự do, dân chủ, lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần xây dựng Nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
- Về chủ thể giám sát: Giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan
hành chính nhà nớc ở địa phơng đợc thực hiện bởi chủ thể giám sát là Hội
đồng nhân dân, các cơ quan t pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên của Mặt trận, các cơ quan báo chí của địa phơng và công
dân. Hiệu quả của hoạt động giám sát hành chính đợc đảm bảo bằng hiệu
quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân
dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp
tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các hiệu quả giám sát của các tổ chức thành viên
của Mặt trận, của các cơ quan báo chí và của công dân.
Với những chủ thể nêu trên có thể hình dung đợc tính đa dạng, phức
hợp và đan xen của hoạt động giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan
hành chính nhà nớc ở địa phơng. Đặc điểm về chủ thể giám sát hành chính này
đòi hỏi phải có sự phân định cụ thể, rõ ràng phạm vi giám sát lĩnh vực hành
chính, sao cho tránh đợc sự chồng chéo về nhiệm vụ, chức năng giám sát đối
với cùng một đối tợng bị giám sát, phát huy đợc hiệu quả giám sát nói chung.
- Về đối tợng giám sát: Đối tợng giám sát chính là hoạt động hành
chính của các cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng. Đây là một hoạt
động hết sức đa dạng, phức tạp, bởi lẽ, hoạt động hành chính của các cơ quan
hành chính nhà nớc ở địa phơng là hoạt động quản lý toàn diện các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội ở địa phơng. Đây cũng là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nớc (quyền lực công) có liên quan trực tiếp và gắn bó với
đời sống hàng ngày của nhân dân nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của nhân dân sống trong địa phơng, và do đó phải chịu sự giám sát của nhân

17
quyết. Khác với các cơ quan hành chính nhà nớc ở Trung ơng là cơ quan quản
lý trên phạm vi cả nớc và chủ yếu tập trung vào việc điều hành các lĩnh vực của
đời sống xã hội ở phạm vi chung nhất của đất nớc, hoạt động hành chính của
các cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng là những hoạt động cụ thể nhằm
giải quyết các vấn đề đặt ra ở địa phơng, cơ sở và cũng là khâu dễ phát sinh
những sai phạm, vi phạm trong tổ chức và hoạt động thực thi quyền lực nhà nớc
theo phân công, phân cấp. Chính vì vậy, các hoạt động này cần thiết phải đợc
đặt trong sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quyền lực nhà nớc, cơ quan tòa
án, giám sát xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của công dân.
- Về hình thức và phơng pháp giám sát: Với mỗi một chủ thể giám
sát có các hình thức giám sát và phơng pháp giám sát đặc thù. Do đặc điểm
về chủ thể giám sát và đối tợng giám sát nêu trên mà hình thức và phơng
pháp giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính nhà nớc ở
địa phơng cũng phải linh hoạt, trong đó có sự kết hợp giữa hình thức giám sát
mang tính quyền lực nhà nớc và hình thức giám sát không mang tính quyền
lực nhà nớc (giám sát mang tính xã hội).
Giám sát mang tính quyền lực nhà nớc là hình thức giám sát do cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền tiến hành đối với hoạt động hành chính của cơ
quan hành chính nhà nớc ở địa phơng theo nguyên tắc phân công quyền lực
nhà nớc do Hiến pháp và pháp luật quy định. Đó là hoạt động giám sát của
Hội đồng nhân dân với tính cách là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực
nhà nớc ở địa phơng đối với hoạt động hành chính của cơ quan hành chính
nhà nớc ở địa phơng, thông qua hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, đặc
biệt là thông qua thẩm quyền tài phán hành chính của Tòa án. Giám sát xã hội
là hình thức giám sát không phải do cơ quan nhà nớc thực hiện mà do Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận, cơ quan báo chí và
công dân thực hiện. Loại hình giám sát này có hình thức giám sát là theo dõi,

phơng, có nguồn là các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện. 19
Từ quan niệm trên cho thấy, thông qua việc điều chỉnh quan hệ xã hội
phát sinh từ hoạt động giám sát đối với hoạt động hành chính của các cơ quan
nhà nớc ở địa phơng, pháp luật về giám sát hoạt động này xác định rõ
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nớc trong hoạt động
giám sát. Chính từ đây, pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ
quan hành chính nhà nớc ở địa phơng có những đặc điểm sau:
- Về mục đích:
Pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ quan hành chính
nhà nớc ở địa phơng có mục đích chung là điều chỉnh hoạt động giám sát của
các chủ thể có chức năng giám sát đối với hoạt động hành chính của cơ quan
hành chính nhà nớc ở địa phơng. Các quy phạm pháp luật đợc quy định ngày
càng cụ thể hơn và hoàn thiện hơn nhằm mục đích chung là đảm bảo cho hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng sử dụng đúng đắn và có
hiệu quả các nguồn lực của địa phơng, tổ chức thực hiện tốt Hiến pháp và pháp
luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, phát huy dân chủ, góp
phần tăng cờng hiệu lực của bộ máy nhà nớc. Các quy phạm pháp luật về hoạt
động giám sát hoạt động hành chính nhà nớc của các cơ quan hành chính nhà
nớc ở địa phơng tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể giám sát thực hiện hoạt
động theo dõi, kiểm tra, đánh giá những hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nớc ở địa phơng. Thông qua hoạt động giám sát phát hiện kịp thời những sai
phạm, vi phạm trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nớc ở
địa phơng, uốn nắn kịp thời những lệch lạc trong hoạt động quản lý hành chính
nhà nớc. Vai trò của pháp luật về giám sát hoạt động hành chính của các cơ
quan hành chính nhà nớc ở địa phơng chỉ đợc bảo đảm khi mà các quy phạm
của nó cụ thể, thống nhất và đồng bộ, khắc phục đợc tình trạng vi phạm pháp

Các quy phạm quy định về chủ thể giám sát hoạt động hành chính của
cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng có nguồn trong Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các văn bản pháp luật có liên quan. 21
- Về Hội đồng nhân dân: Tại Điều 1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân
và ủy ban nhân dân năm 2003 quy định:
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt
động của Thờng trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện
các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp
luật của các cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phơng [45].
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đợc tiến hành thờng xuyên,
gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: Giám sát của Hội đồng
nhân dân tại kỳ họp; giám sát của Thờng trực Hội đồng nhân dân; giám sát của
các ban của Hội đồng nhân dân và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Nh vậy, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân đối với cơ quan
hành chính nhà nớc địa phơng thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực
nhà nớc ở địa phơng với cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nớc
ở địa phơng. Trong mối quan hệ đó cơ quan hành chính nhà nớc ở địa
phơng chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình trớc Hội đồng nhân
dân. Tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nớc địa phơng đợc
đặt dới sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân nhằm đảm bảo hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nớc một cách tốt nhất.
- Tòa án nhân dân: Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định:
Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phơng,

Tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá
nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc,
các tôn giáo và ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài. 23
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ
sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền
thống đoàn kết toàn dân, tăng cờng sự nhất trí về chính trị và tinh
thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền
nhân dân, cùng Nhà nớc chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của
nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm
chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật,giám sát hoạt động của cơ
quan nhà nớc, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nớc.
Nhà nớc tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
thành viên hoạt động có hiệu quả [42].
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay có 32 thành viên, trong đó Đảng
Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là ngời lãnh đạo Mặt trận, và có
5 thành viên là các tổ chức chính trị - xã hội, gồm Tổng Liên đoàn lao động
Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc theo quy định của pháp luật
là hoạt động giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm
tra, thanh tra của Nhà nớc, bảo đảm cho bộ máy nhà nớc trong sạch, vững
mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
nhân dân.
Hoạt động giám sát của Mặt trận đợc thực hiện theo ba hình thức:
động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát; tham gia hoạt động giám sát
với cơ quan nhà nớc và trực tiếp giám sát thông qua các hình thức hoạt động

dân (tính xã hội).
Điều 1, Luật Thanh tra năm 2004 quy định: "Ban thanh tra nhõn dõn
giỏm sỏt vic thc hin chớnh sỏch, phỏp lut, vic gii quyt khiu ni, t
cỏo, vic thc hin quy ch dõn ch c s ca c quan, t chc, cỏ nhõn cú
trỏch nhim xó, phng, th trn, c quan nh nc, n v s nghip,
doanh nghip nh nc" [46]. Ban thanh tra nhõn dõn đợc tổ chức nh sau: 25
+ Ban Thanh tra nhõn dõn c thnh lp xó, phng, th trn do ủy
ban Mt trn T quc Vit Nam xó, phng, th trn hng dn t chc, ch
o hot ng.
+ Ban Thanh tra nhõn dõn c thnh lp c quan nh nc, n v
s nghip, doanh nghip nh nc do Ban chp hnh Cụng on c s c
quan, n v, doanh nghip ú hng dn t chc, ch o hot ng.
Nh vậy, Ban thanh tra nhân dân là một chủ thể giám sát đối với hoạt
động hành chính của cơ quan hành chính nhà nớc ở địa phơng.
- Giám sát của các cơ quan báo chí: Báo chí có khả năng chuyển tải
thông tin đến với các tầng lớp nhân dân, với ba chức năng quan trọng: chức
năng thông tin, chức năng tạo d luận xã hội và chức năng nâng cao dân trí,
đáp ứng nhu cầu giải trí của các tầng lớp nhân dân. Hiện nay, báo chí đã phát
triển thành bốn loại hình khác nhau là báo in, báo nói, báo hình và báo điện
tử. Điều 3 Luật Báo chí quy định các loại hình báo chí gồm:
Bỏo in (bỏo, tp chớ, bn tin thi s, bn tin thụng tn), bỏo
núi (chng trỡnh phỏt thanh), bỏo hỡnh (chng trỡnh truyn hỡnh,
chng trỡnh nghe - nhỡn thi s c thc hin bng cỏc phng
tin k thut khỏc nhau), bỏo in t (c thc hin trờn mng
thụng tin mỏy tớnh) bng ting Vit, ting cỏc dõn tc thiu s Vit
Nam, ting nc ngoi [43].
Với tính đại chúng của báo chí, khả năng và nhiệm vụ giám sát mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status