Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Mục lục
Trang
Lời mở đầu 2
Chơng 1: Cơ sở lý luận về hợp đồng kinh tế 5
1.1. Những vấn đề cơ bản về chế độ pháp lý của hợp đồng kinh tế
5
1.1.1. Sự ra đời của chế định hợp đồng và hợp đồng kinh tế 5
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng kinh tế 10
1.1.3 Vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trờng 13
1.2. Ký kết hợp đồng kinh tế
16
1.2.1. Nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế 16
1.2.2. Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế 18
1.2.3. Chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế 20
1.2.4. Cách thức ký kết hợp đồng kinh tế 22
1.2.5. Những điều khoản thoả thuận khi ký kết thể hiện trong nội dung
của hợp đồng
23
1.2.6. Hợp đồng vô hiệu 31
Chơng 2 : Thực trạng việc ký kết hợp đồng kinh tế và h ớng
hoàn thiện pháp luật về ký kết hợp đồng kinh tế.
34
2.1. Thực trạng ký kết hợp đồng kinh tế
34
2.2. Kiến nghị hớng hoàn thiện pháp luật về ký kết hợp đồng kinh tế
55
3
Chơng I :
Chế độ pháp lý về hợp đồng kinh
hoạch hoá nhằm bảo đảm quyền tự chủ của các đơn vị, tăng cờng quản lý
kinh tế quản lý thị trờng.
Trong pháp luật nớc ta đang quy định gồm nhiều loại hợp
đồng tồn tại thuộc các lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau nh : hợp
đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán ngoại thơng, hợp
đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng lao
động ...
2. Khái niệm về hợp đồng kinh tế:
a. Lịch sử phát triển của hợp đồng kinh tế:
Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nền
kinh tế nớc ta còn bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Ngoài khu vực kinh tế quốc doanh, tập thể còn có kinh tế cá thể
trong nông nghiệp, thủ công nghiệp và thành phần kinh tế t bản t
doanh cha đợc cải tạo. Hoạt động kinh tế của các cơ quan Xí
nghiệp Nhà nớc của các đơn vị kinh tế tập thể tiến hành song song
với hoạt động kinh tế của t nhân. Để thu hút mọi hoạt động kinh tế
đi theo hớng có lợi cho việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, từng bớc
xây dựng quan hệ sản xuất mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày 10/4/1957,
kèm theo Nghị định này là bản Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh
doanh. Bản Điều lệ này bao gồm những quy định điều chỉnh các quan
hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế nh các đơn vị kinh tế quốc
doanh, hợp tác xã, công ty hợp doanh, t doanh, ngời Việt Nam hay
ngoại kiều kinh doanh trên đất Việt Nam.
Theo Điều lệ này, hợp đồng kinh doanh đợc thiết lập bằng
cách hai hay nhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện cam kết với nhau
5
thực hiện một một số nhiệm vụ nhất định, trong một thời gian nhất
định, nhằm phát triển kinh doanh công thơng nghiệp, góp phần thực
hiện kế họach Nhà nớc. Hợp đồng kinh doanh đợc xây dựng trên
lệ về từng chủng loại hợp đồng chính trị ở nớc ta. Hợp đồng kinh tế
đã thực sự trở thành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh
tế xã hội chủ nghĩa.
Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: xoá bỏ lối
quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh
doanh xã hội chủ nghĩa, khắc phục cách quản lý thủ công phân tán
theo lối sản xuất nhỏ, xây dựng cách tổ chức quản lý của nền công
nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đa nền kinh tế quốc dân từ sản
xuất nhỏ tiến lên sản xuất xã hội chủ nghĩa .
Ngày 10/3/1975, Nhà nớc ta đã ban hành bản Điều lệ về chế
độ hợp đồng kinh tế (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày
10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ). Điều lệ này đã quy định tơng
đối đầy đủ các vấn đề nh: Vai trò của hợp đồng kinh tế, nguyên tắc
ký kết, các nội dung ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải
quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng kinh
tế... những quy định này đã trở thành căn cứ pháp lý quan trọng đáp
ứng yêu cầu của công cuộc cải tiến quản lý kinh tế, góp phần đa các
quan hệ hợp đồng kinh tế trở thành nề nếp, ở giai đoạn này với sự
phát triển cao độ của cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hợp
đồng kinh tế đã trở thành một công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà nớc
để quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là hợp
đồng kinh tế đợc coi là một công cụ hữu hiện trong xây dựng, thực
hiện và đánh dấu việc hoàn thành hay không hoàn thành kế hoạch
Nói một cách khác, Nhà nớc ta đã đặt một cái dấu bằng giữa
hợp đồng kinh tế và kế hoạch. Ký kết hợp đồng kinh tế là xây dựng
kế hoạch, thực hiện hợp đồng kinh tế là thực hiện kế hoạch vi phạm
hợp đồng kinh tế là vi phạm hợp đồng kế hoạch... Do đó, việc ký kết
hợp đồng kinh tế đợc Nghị định 54/CP quy định là một nghĩa vụ, là kỷ
luật Nhà nớc. Nhà nớc quy định tỷ mỉ, chặt chẽ gần nh toàn bộ nội
7
đồng kinh tế trong cơ chế kinh tế mới hiện nay.
8
b. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Theo điều 1 pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/
9/1989 thì hợp đồnh kinh tế là sự thoả thuận bằng văn
bản, hay tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc
thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận
khác có mục đích kinh doanh cà thực hiện kế hoạch của
mình
c. Phân loại hợp đồng kinh tế:
*.Căn cứ vào thời gian của hợp đồng kinh tế
+Hợp đồng dài hạn: Hợp đồng này có thời hạn từ trên một nam nhằm
thực hiện kế hoạch dài hạn
+Hợp đồng ngắn hạn: Đây là những hợp đồng có thời hạn đợc thu
thực hiện từ một năm trở xuống.
Dựa vào tính chất của hợp đồng kinh tế, có thể chia hợp đồng
kinh tế thành hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh và hợp đồng
kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh.
Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là hợp đồng kinh tế
đợc ký căn cứ vào chỉ tiêu Pháp lệnh của Nhà nớc giao. Ký kết và
thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là kỷ luật của
Nhà nớc, là nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu
Pháp lệnh. Trong nền kinh tế thị trờng, số lợng hợp đồng kinh tế
thuộc loại này rất hạn chế .
Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh là loại hợp
đồng đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm xây dựng và thực
hiện kế hoạch của các chủ thể. Các chế độ ký kết, thực hiện hợp
đồng của loại hợp đồng này đợc nghiên cứu trong các mục tiếp theo
của chơng này.
các tổ chức và cá nhân nớc ngoài ở Việt Nam cũng có thể trở thành
chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ ký kết hợp đồng với một pháp
nhân.
Trên thực tế hiện nay và xu hớng trong nền kinh tế thị trờng
chủ thể chủ yếu của hợp đồng kinh tế là các doanh nghiệp. Đối với
hợp đồng dân sự, mọi pháp nhân và cá nhân có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi đều có thể là chủ thể của hợp đồng ,.
- Về hình thức, hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết bằng văn
bản. Đó là bản hợp đồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản
có chữ ký của các bên xác nhận nội dung trao đổi, thoả thuận nh
công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận...
Ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản là một quy định bắt
buộc mà các chủ thể của hợp đồng phải tuân theo. Văn bản này là sự
ghi nhận rõ ràng về quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thoả thuận với
nhau, là cơ sở pháp lý để các bên tiến hành thực hiện các điều đã
cam kết, để các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra tính hợp
pháp của mối quan hệ kinh tế và giải quyết các tranh chấp, xử lý các
vi phạm nếu hợp đồng dân sự phải ký kết bằng văn bản hoặc thoả
thuận miệng tuỳ theo nội dung của từng quan hệ hợp đồng và ý chí
của các bên ký kết.
Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ảnh mối quan
hệ giữa kế hoạch với thị trờng. Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên
định hớng kế hoạch của Nhà nớc, nhằm các việc xây dựng và thực hiện
kế hoạch của các đơn vị kinh tế. Trong đó có những hợp đồng kinh tế
mà việc ký kết và thực hiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu
kế hoạch pháp lệnh của Nhà nớc. Trong cơ chế quản lý theo phơng
pháp kế hoạch hoá tập trung thì tính kế hoạch là đặc tính số một của
hợp đồng kinh tế. Mặc dù trong giai đoạn hiện nay, Nhà nớc ta đã có
những thay đổi lớn trong công tác kế hoạch hóa, nhng tính kế hoạch
11
kinh tế của các chủ thể kinh doanh đợc Nhà nớc đảm bảo. Ký kết
hợp đồng kinh tế là quyền của các đơn vị kinh tế, quyền này phải
gắn liền với những các điều kiện nhất định, đó là :
- Không đợc phép lợi dụng ký kết hợp đồng kinh tế để hoạt
động trái pháp luật.
- Đối với các đơn vị kinh tế có chức năng sản xuất kinh doanh
trong các thành phần kinh tế thuộc độc quyền của Nhà nớc thì không đợc
lợi dụng quyền ký kết hợp đồng kinh tế để đòi hỏi những điều kiện bất
bình đẳng, ép buộc, cửa quyền, hoặc vì không đạt đợc những đòi hỏi bất
bình đẳng đó nên đã từ chối ký kết hợp đồng kinh tế thuộc ngành nghề
độc quyền của mình.
- Quyền ký kết hợp đồng kinh tế của các đơn vị kinh tế còn đợc
thể hiện qua việc quy định các đơn vị kinh tế có quyền từ chối mọi sự áp
đặt của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc ký kết hợp đồng
kinh tế.
Nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng kinh tế đánh dấu
bớc đổi mới căn bản trong chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà nớc ta,
đợc ghi nhận trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 .
Cũng cần lu ý rằng, trớc đây cũng nh hiện nay, việc ký kết
các hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh là nghĩa vụ
bắt buộc của các đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp
lệnh, là kỷ luật Nhà nớc. Đối với việc ký kết loại hợp đồng này, tính
tự nguyện của các chủ thể bị hạn chế đáng kể do có sự ràng buộc
bởi tính kỷ luật của các chỉ tiêu kế hoạch Pháp lệnh .
13
b. Nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi:
Nội dung của nguyên tắc này là khi ký kết hợp đồng kinh tế,
các chủ thể phải đảm bảo trong nội dung của hợp đồng có sự tơng
xứng về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng lợi ích kinh tế của mỗi bên.
Tính bình đẳng này không phụ thuộc và quan hệ sở hữu và quan hệ
và nghĩa vụ của mình. Trong giai đoạn hiện nay nguyên tắc này càng cần đ-
ợc coi trọng.
2. Căn cứ để ký kết hợp đồng kinh tế
Căn cứ ký kết hợp đồng kinh tế đợc quy định tại Điều 10
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Theo quy định này, hợp đồng kinh tế
đợc ký kết trên các căn cứ sau:
a. Định hớng kế hoạch của Nhà nớc, các chính sách, chế
độ, các chuẩn mực kinh tế, kỹ thuật hiện hành.
Đối với mỗi đơn vị kinh tế, ký kết hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây
dựng kế hoạch và là cộng cụ để thực hiện kế hoạch của mình. Kế
hoạch của mỗi đơn vị kinh tế đợc xây dựng căn cứ vào định hớng kế
hoạch của Nhà nớc, do đó việc ký kết các hợp đồng kinh tế cũng
phải căn cứ vào định hớng kế hoạch của Nhà nớc. Ngoài ra, để đảm
bảo tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả trong việc xây dựng nội dung
của hợp đồng kinh tế, khi ký kết hợp đồng các chủ thể cũng phải
căn cứ vào các chính sách và chế độ quản lý kinh tế của Nhà n ớc,
các chuẩn mực kinh tế kỹ thuật hiện hành đối với từng loại sản phẩm,
ngành nghề.
15
b. Nhu cầu thị trờng, đơn đặt hàng, đơn chào hàng của
bạn hàng.
Hợp đồng kinh tế phản ánh mối quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
luôn luôn gắn liền với sự vận động của thị trờng của quan hệ cung
cầu. Vì vậy, trong việc ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể phải
luôn luôn căn cứ vào nhu cầu của thị trờng bao gồm các khả năng
cung cấp hàng hoá, dịch vụ và nhu cầu cần đáp ứng về hàng hoá
dịch vụ của mình và của bạn hàng.
Căn cứ này nhằm đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đợc ký
kết có khả năng thực hiện trên thực tế, đồng thời đảm bảo cho sản
xuất kinh doanh vừa mang lại hiệu quả cao cho các đơn vị kinh tế,
Theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế
đợc ký kết giữa các bên sau đây :
- Pháp nhân với pháp nhân
- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật.
Nh vậy, chủ thể của hợp đồng kinh tế ít nhất một bên phải là
đơn vị có t cách pháp nhân, còn bên kia có thể là pháp nhân hoặc
cá nhân có đăng ký kinh doanh .
Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện sau đây :
- Có tài khoản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập
bằng các tài sản đó.
17
- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể
trở thành nguyên đơn, bị đơn trớc toà án.
- Tồn tại độc lập và đợc pháp luật công nhận là một tổ chức
độc lập.
- Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
là ngời đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền
theo đúng thủ tục pháp luật quy định và đã đợc cấp giấy phép kinh
doanh (giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh )
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 42, Điều 43 Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế, những ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân,
hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ng dân cá thể, tổ chức và cá nhân
nớc ngoài tại Việt Nam khi ký kết hợp đồng với một pháp nhân Việt
Nam cũng đợc áp dụng các quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế.
Về chủ thể của hợp đồng kinh tế, trong khoa học pháp lý
hiện có quan điểm cho rằng, hợp đồng kinh tế là những hợp đồng có
mục đích kinh doanh. Vì vậy, nó phải đợc thiết lập giữa các chủ thể
ờng xuyên nhng phải đợc thể hiện dới hình thức văn bản. Việc uỷ
quyền thờng xuyên có thể áp dụng trong trờng hợp ngời đại diện đ-
ơng nhiên uỷ quyền cho cấp phó của mình (hoặc do ngời đứng đầu
chi nhánh trực thuộc, có t cách pháp nhân không đầy đủ) theo kỳ
hạn cần uỷ quyền. Văn bản uỷ quyền phải ghi rõ họ tên, chức vụ của
ngời uỷ quyền, ngời đợc uỷ quyền, số chứng minh th của ngời đợc uỷ
quyền; tính chất và nội dung uỷ quyền, thời hạn uỷ quyền và phải có
chữ ký xác nhận của cả hai ngời này. Ngời đợc uỷ quyền chỉ đợc
phép hành động trong phạm vi đợc uỷ quyền và không đợc uỷ quyền
lại cho ngời khác. Trong phạm vi uỷ quyền, ngời uỷ quyền phải chịu
trách nhiệm về hành vi của ngời đợc uỷ quyền nh hành vi chính của
mình.
19
Quy định trên đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó vừa giúp
cho các đơn vị kinh tế có thể linh hoạt trong việc ký kết và thực
hiện hợp đồng kinh tế lại vừa ràng buộc trách nhiệm theo nguyên tắc
chịu trách nhiệm cá nhân.
4. N ội d ung ký kết hợp đồng kinh tế:
Theo quy định tại Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì nội
dung của hợp đồng kinh tế bao gồm những điều khoản cụ thể sau:
a. Ngày tháng năm ký kết hợp đồng kinh t ế.
- Tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân hàng giao dịch của các bên.
- Họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên đăng ký kinh doanh.
b. Điều khoản đối tợng của hợp đồng:
Tức là các bên trao đổi mua bán, giao dịch về cái gì...? công việc
gì...?
Đối tợng của hợp đồng đợc tính bằng khối lợng, số lợng hoặc giá
trị quy ớc đã thoả thuận.
định của pháp luật.
Đề cập đến nội dung hợp đồng kinh tế, khi ký kết hợp đồng
do không nắm vững các quy định pháp luật nên các bên thờngmắc sai
lầm khi thoả thuận các điều khoản. Theo quy định của Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế để một hợp đồng hợp pháp thì ngoài các điều kiện chủ
thể, hình thức hợp đồng còn phải đảm bảo yếu tố nội dung hợp
đồng. Hợp đồng phải đảm bảo các điều khoản cơ bản thì mới đảm
bảo tính hiệu lực.
21
Về phơng diện khoa pháp lý, căn cứ vào tính chất vai trò của
các điều khoản, nội dung của hợp đồng kinh tế đợc xác định thành
ba loại với các điều khoản sau:
Thứ nhất : điều khoản chủ yếu là những điều khoản cơ bản,
quan trọng nhất của một hợp đồng bắt buộc phải có trong bất cứ
hợp đồng kinh tế nào, nếu không thì hợp đồng sẽ không có giá trị
Pháp lý, theo Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế các Điều khoản
chủ yếu của hợp đồng kinh tế bao gồm:
- Ngày, tháng năm ký hợp đồng, tên, địa chỉ, số tài khoản, ngân
hàng giao dịch của các bên, họ tên ngời đại diện, ngời đứng tên
đăng ký kinh doanh.
- Điều khoản đối tợng của hợp đồng kinh tế tính bằng số l-
ợng, khối lợng hoặc giá trị quy ớc đã thoả thuận .
- Điều khoản chất lợng.
- Điều khoản giá cả.
Ngoài ra hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các bên về
viềc thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên
trong hoạt động kinh doanh. Do đó nội dung của hợp đồng kinh tế
trớc hết là những điều khoản do các bên thoả thuận. Những điều
khoản mà các bên đã thoả thuận đó là phát sinh thay đổi hoặc chấm
dứt quyền và nghĩa vụ của ác bên tham gia thoả thuận.
khung phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, điều khoản về bảo hành.
Trong hợp đồng có thể các bên không thoả thuận về điều khoản
bảo hành nhng bên bán vẫn có nghĩa vụ phải bảo hành nếu có quy
định của Nhà nớc về bảo hành sản phẩm đó. Bên bán không thể viện
cớ là trong hợp đồng hai bên không thoả thuận về điều khoản bảo
hành để trốn trách nhiệm bảo hành. Qua đây chúng ta càng thấy rõ
hơn nội dung của hợp đồng kinh tế không chỉ bao gồm những điều
23
khoản mà các bên đã thỏa thuận mà còn có thể bao gồm cả những
điều khoản mà các bên không thoả thuận, nhng theo quy định của
Pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện.
Trong mối quan hệ giữa các điều khoản chủ yếu và điều khoản
thờng lệ của hợp đồng kinh tế thì sự tồn tại của hợp đồng kinh tế
không phụ thuộc vào các điều khoản thờng lệ mà chỉ phụ thuộc vào
các điều khoản chủ yếu. Hai bên không thoả thuận về những điều
khoản thờng lệ thì hợp đồng kinh tế vẫn cứ hình thành và làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Thứ ba: điều khoản tuỳ nghi là những điều khoản do các bên
tự thoả thuận với nhau khi pháp luật cho phép. Khi một quy phạm
pháp luật quy định các bên có thoả thuận về vấn đề này hay vấn đề
khác thì các bên có thể thoả thuận hoặc không thoả thuận. Nếu các
bên thoả thuận đó là nội dung của hợp đồng các bên phải có trách
nhiệm thực hiện. Còn nếu các bên không thoả thuận thì các bên
không phải thực hiện. Ví dụ: điều khoản thởngvật chất, điều khoảm
áp dụng mức phạt cụ thể khi vi phạm các điều khoản của hợp đồng
trogn khung phạt mà pháp luật đã quy định.
Theo pháp luật về hợp đồng kinh tế của nớc ta hiện nay thì
những thoả thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng (cầm cố
tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh tài sản, thoả thuận về tiền thởng
do thực hiện tốt hợp đồng) là những điều khoản tuy nghi. Những điều
thuận, miễn là những thoả thuận đó không phải trái pháp luật. Pháp
luật chỉ quy định những điều khoản tối thiểu phải có để chứng tỏ
giữa các bên có quan hệ hợp đồng. Những điều khoản tối thiểu đó là
những điều khỏan chủ yếu của hợp đồng.
25
Tuy nhiên, về từng khía cạnh cụ thể cần có những hiểu biết và
kinh nghiệm sâu sắc đặc biệt về chủ thể hợp đồng, về hình thức, về
nội dung hợp đồng nh tiêu đề trình bày.
5. Thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế.
Để xác lập một quan hệ hợp đồng kinh tế có hiệu lực pháp
lý, các bên có thể lựa chọn một trong hai cách ký kết hợp đồng kinh
tế nh sau:
a. Ký kết hợp đồng bằng phơng pháp ký trực tiếp là cách ký đơn
giản. Hợp đồng kinh tế đợc hình thành một cách nhanh chóng. Khi ký
kết bằng cách này, đại diện hợp pháp của các bên trực tiếp gặp
nhau bàn bạc, thoả thuận, thống nhất ý chí để xác định các điều
khoản của hợp đồng và cùng ký vào bản hợp đồng
b. Ký kết hợp đồng bằng phơng pháp ký gián tiếp là cách ký kết mà
trong đó các bên tiến hành gửi cho nhau các tài liệu giao dịch
( công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng ) chứa đựng nội
dung cần giao dịch. Việc ký kết hợp đồng kinh tế bằng phơng pháp
ký gián tiếp đòi hỏi phải tuân theo trình tự nhất định, thông thờng
trình tự này ít nhất cũng gồm hai bớc:
-Bớc một: Một bên lập dự thảo ( đề nghị ) hợp đồng trong đó
đa ra những yêu cầu về nội dung giao dịch ( tên hàng hoặc công
việc, số lợng, chất lợng, thời gian, địa điểm, phơng thức giao nhận,
thời hạn thanh toán... và gửi cho bên kia ).
-Bớc hai: Bên nhận đợc đề nghị hợp đồng tiến hành trả lời
cho bên đề nghị hợp đồng bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung
chấp nhận, nội dung không chấp nhận, những đề nghị bổ sung ...