LUẬN VĂN: Hoàn thiện pháp luật hợp đồng đáp yêu cầu của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Hoàn thiện pháp luật hợp đồng đáp yêu cầu
của nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, hợp đồng đã trở thành một công cụ pháp lý để xác lập quan hệ của các chủ

việc áp dụng trong thực tế đang bộc lộ những điểm bất cập, những thiếu sót hạn chế. Thực tế
đó đã đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu làm rõ các quy định mới của Bộ luật dân sự 2005 liên
quan đến hợp đồng; đánh giá sự tác động của chúng đến thực tiễn ký kết và thực hiện hợp
đồng, phát hiện những quy định bất hợp lý và từ đó đề xuất khắc phục nhằm nâng cao hiệu
quả điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ hợp đồng, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị
trường…
Xuất phát từ lý do như vậy mà học viên đã chọn đề tài: "Hoàn thiện pháp luật
hợp đồng đáp yêu cầu của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khoa học pháp lý Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới các vấn
đề khác nhau của hợp đồng như: đề tài luận án tiến sĩ "Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế
thị trường ở giai đoạn hiện nay" của tác giả Phạm Hữu Nghị, Hà Nội, 1996; Đề tài luận
án tiến sĩ "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh
doanh ở nước ta" của tác giả Bùi Ngọc Cường, 2001; Đề tài luận văn thạc sĩ "Hợp đồng
kinh doanh vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó" của tác giả Lê Thị Bích Thọ, 2002; Công
trình nghiên cứu khoa học "Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về giao dịch dân sự vô
hiệu tại Tòa án nhân dân" của tác giả Nguyễn Văn Luật, 2003; "Hợp đồng kinh doanh vô
hiệu: Lý luận và thực tiễn", Tài liệu Hội thảo về việc xử lý hợp đồng vô hiệu, Diễn đàn
doanh nghiệp và Câu lạc bộ Luật gia Việt - Đức, Hà Nội và nhiều công trình của nhiều
tác giả khác. Các công trình nghiên cứu trước đây là nguồn tài liệu quan trọng, có giá trị
tham khảo và cung cấp những luận cứ khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Tuy nhiên, kể từ sau ngày Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực, chưa có một
công trình nào đề cập hệ thống và toàn diện về hợp đồng cũng như điều chỉnh pháp luật
đối với quan hệ hợp đồng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận văn đặt mục đích nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật đối với
quan hệ hợp đồng, đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng trong điều kiện thi hành Bộ

Thứ hai, luận văn đề xuất một số định hướng và giải pháp trong việc xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu tổng hợp lý luận ở chương một, phân tích thực trạng ở
chương hai và những giải pháp của chương ba của luận văn đã góp phần cung cấp những
luận cứ khoa học để thấy rõ vai trò của hợp đồng cũng như pháp luật về hợp đồng trong
đời sống giao lưu kinh tế và đặc biệt là các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong nền kinh tế việt nam hiện nay

1. khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của hợp đồng
1.1.1. Khái niệm và những đặc điểm của hợp đồng
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng
Cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã hình thành và phát triển
hàng nghìn năm nay. Nó tồn tại và phát triển trong xã hội phương Tây, xã hội phương
Đông hay cả chính xã hội như Bắc Mỹ, châu úc. Như vậy, để tìm hiểu thể nào là hợp
đồng, cơ sở cho sự hình thành hợp đồng cũng như sự ra đời của pháp luật về hợp đồng,
trước hết ta khái quát tóm lược những quan điểm về hợp đồng của các nước cũng như các
khu vực trên thế giới.
Khởi nguồn từ triết lý pháp luật tự nhiên, dựa trên các giá trị pháp luật hợp đồng
của La Mã và các học thuyết về quyền cá nhân, hợp đồng và pháp luật hợp đồng phương
Tây đã có hơn hai nghìn năm để phát triển các học thuyết về tính bắt buộc thực hiện của
hợp đồng, công bằng, thống nhất về ý chí và trách nhiệm đối với việc không tuân thủ

đó, tồn tại mối quan hệ khi các bên thiết lập với nhau để chuyển giao cho nhau các lợi ích
vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng và kinh doanh đóng một vai trò quan
trọng như là một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội. Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi
ích vật chất, tài sản đó không thể tự chúng tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ. Các
quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể. Mác nói
rằng: "Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn
cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như
những người mà ý chí nằm trong các vật đó".
Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia
chấp nhận cũng không thể hình thành mối quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao
tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và
thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành.
Quan hệ đó được gọi là hợp đồng. Như vậy, cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để hình
thành một hợp đồng là việc thỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng. Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật khi ý chí của các bên phù hợp
quy định của pháp luật. Các bên được tự do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự
"tự do" ấy phải được đặt trong giới hạn để không xâm hại đến lợi ích của người khác, lợi
ích chung của xã hội và trật tự công cộng.
Khi hợp đồng được giao kết hợp pháp thì hợp đồng có hiệu lực pháp luật đối với
các bên giao kết. Nghĩa là, từ lúc đó, các bên đã tự nhận về mình những nghĩa vụ pháp lý
nhất định. Sự "can thiệp" của Nhà nước không những là việc buộc các bên phải giao kết
hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực
hiện hợp đồng đúng với những cam kết mà họ đã thoả thuận. Theo nội dung đã cam kết,
dưới sự hỗ trợ của pháp luật, các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với
nhau.
Về bản chất, hợp đồng là một giao dịch mà trong đó các bên thỏa thuận với nhau
nhằm đi đến thống nhất để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định.
Trên phương diện này, hợp đồng vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở

vốn, sản xuất, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thương trường. Hợp đồng được ký
kết trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như mua bán hàng hóa, vận chuyển, xây
dựng, bảo hiểm, tín dụng, đại lý, ủy thác, liên kết kinh doanh… Hình thức của hợp đồng
có thể bằng lời nói, văn bản hoặc bằng các hành vi cụ thể.
Tóm lại, từ những nội dung cơ bản nhất của hợp đồng nói chung, hợp đồng dân
sự, hợp đồng trong hoạt động kinh doanh và cả quan điểm nước ngoài cũng như quan
điểm của các tổ chức thế giới cho thấy: Hợp đồng là thoả thuận của các bên nhằm thống
nhất các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
1.1.1.2. Những đặc điểm của hợp đồng
Trên cơ sở bản chất và khái niệm về hợp đồng đã nêu, ta thấy hợp đồng có những
đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng
Phạm vi chủ thể của hợp đồng rất rộng lớn. Tùy từng lĩnh vực và ngành nghề khác
nhau mà pháp luật giới hạn phạm vi chủ thể cho phù hợp để nhằm bảo đảm việc thực
hiện nghĩa vụ trong hợp đồng. Với các hợp đồng dân sự thông thường, chủ thể là các cá nhân, pháp nhân, hay
các tổ chức khác. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ thể của hợp đồng kinh doanh
được quy định rất cụ thể đó thường là thương nhân đáp ứng những điều kiện nhất định
theo quy định của pháp luật.
Tựa chung lại, chủ thể của hợp đồng bao gồm cá nhân có năng lực pháp luật và
năng lực hành vi dân sự, các tổ chức, doanh nghiệp, và các pháp nhân khác… được pháp
luật thừa nhận có tư cách pháp lý độc lập với nhau, hoàn toàn bình đẳng với nhau khi
tham gia quan hệ hợp đồng. Tuỳ từng loại hợp đồng mà pháp luật có thể quy định những
điều kiện ràng buộc cho các chủ thể hợp đồng phải dáp ứng, ví dụ: cá nhân phải đủ độ
tuổi, doanh nghiệp phải có ngành nghề kinh doanh phù hợp.
Thứ hai, sự tự nguyện khi thỏa thuận và ký kết hợp đồng
Cơ sở hình thành hợp đồng là sự tự nguyện từ tự do ý chí của các bên. Các điều
kiện của hợp đồng được giải thích trong các điều kiện tự do ý chí, xem xét về vấn đề tự

các bên tự mình đàm phán, trao đổi và ghi nhận quyền và nghĩa vụ đó.
Thứ tư, về hình thức của hợp đồng
Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng được ký kết dưới nhiều hình thức
khác nhau như: văn bản, lời nói hay các hành vi cụ thể; trong một số trường hợp khác
pháp luật quy định hợp đồng phải ký dưới một hình thức nhất định (như hợp đồng phải
ký bằng văn bản có công chứng, chứng thực hợp lệ) thì phải tuân thủ hình thức đó. Văn
bản là hình thức có thể thể hiện một cách hữu hình nội dung của hợp đồng mà các bên đã
thỏa thuận với nhau. Đó có thể là bản hợp đồng với đầy đủ chữ ký của các bên hoặc công
văn, tài liệu giao dịch chứa đựng những nội dung chủ yếu của hợp đồng mà các bên đã
thỏa thuận được với nhau.
1.1.2. Phân loại hợp đồng
Tùy thuộc vào nội dung, tính chất hình thức của từng quan hệ hợp đồng, người ta
phân biệt thành nhiều loại hợp đồng khác nhau:
- Căn cứ vào nội dung và tính chất cụ thể của hợp đồng mà chia thành từng loại
hợp đồng riêng như: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng xây dựng, vận chuyển, tín dụng, thuê tài sản, hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động, hợp đồng
khoa học công nghệ
- Căn cứ vào hình thức thể hiện, quan hệ hợp đồng chia thành: hợp đồng bằng văn
bản, hợp đồng bằng lời nói, hợp đồng có chứng nhận, chứng thực
+ Hợp đồng bằng văn bản
Nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung đã cam kết, các bên có thể ghi nhận
nội dung giao kết hợp đồng bằng một văn bản và cùng ký xác nhận. Khi có tranh chấp, hợp
đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với
hình thức hợp đồng được giao kết bằng lời nói. Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên
dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia. Vì vậy, đối với những hợp đồng
có giá trị lớn, tính chất phức tạp,các bên chưa thực sự tin tưởng nhau thì các bên thường chọn
hình thức này. Thông thường, hợp đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản,
coi như đã có trong tay một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình.

không có quyền gì đối với bên kia và bên kia là người có quyền nhưng không phải thực
hiện một nghĩa vụ nào.
Việc xác định quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau giữa các chủ thể trong hợp
đồng dân sự được bắt đầu từ thời điểm hợp đồng dân sự có hiệu lực.
- Căn cứ theo sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng, có thể chia
thành:
+ Hợp đồng chính
Tại khoản 3 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Hợp đồng chính là hợp
đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng khác" Như vậy, các hợp đồng chính khi
đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định thì đương nhiên phát sinh hiệu
lực và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên từ thời điểm giao kết.
+ Hợp đồng phụ
"Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc và hợp đồng chính" (khoản 4
Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005). Trước hết các hợp đồng phụ muốn có hiệu lực phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện luật định về chủ thể, về nội dung, về hình thức v.v Mặt khác,
dù rằng đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện nói trên nhưng hợp đồng vẫn không có hiệu lực
nếu hợp đồng chính (hợp đồng mà nó phụ thuộc) bị coi là không có hiệu lực.
- Căn cứ theo tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể, có thể chia thành:
+ Hợp đồng có đền bù
Là loại hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể khi đã thực hiện cho bên kia một
lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Chúng ta biết rằng, đặc điểm cơ
bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là sự trao đổi có đền bù. Tuy nhiên, không
nhất thiết cứ bên này hưởng lợi ích vật chất thì bên kia hưởng lợi ích vật chất mới được
coi là "đền bù tương ứng". Do nhu cầu đa dạng, các bên có thể thỏa thuận để giao kết
những hợp đồng mà trong đó một bên hưởng lợi ích vật chất nhưng bên kia lại hưởng
một lợi ích thuộc về tinh thần. Cần xác định rằng các hợp đồng mang tính chất đền bù đa
phần là hợp đồng song vụ cũng như đa phần các hợp đồng song vụ đều mang tính đền bù.
Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều hợp đồng dù mang tính chất đền bù nhưng lại là hợp

phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng.
- Căn cứ vào tính chất của nội dung của hợp đồng, người ta có thể hợp đồng
thành các loại hợp đồng như: hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, hợp đồng trong
hoạt động kinh doanh, hợp đồng lao động, hợp đồng khoa học công nghệ …
- Ngoài các cách phân loại hợp đồng như trên, pháp luật của nhiều nước còn có
nhiều cách phân loại hợp đồng khác
Tóm lại, việc phân chia hợp đồng dân sự thành các loại nói trên vừa dựa vào sự
quy định của pháp luật, vừa dựa trên phương diện lý luận, vừa dựa trên phương diện thực
tiễn. Qua đó, nhằm xác định được những đặc điểm chung và riêng của từng nhóm hợp
đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
1.1.3. Vai trò của hợp đồng
Xuất phát từ bản chất của hợp đồng cũng như các hình thức khác nhau của hợp
đồng đã được pháp luật ghi nhận và đã có ý nghĩa đối với đời sống xã hội. Ta thấy hợp
đồng có một số vai trò nhất định như sau: - Hợp đồng là cơ sở quan trọng để xây dựng và thực hiện kế hoạch của các bên.
Có thể khẳng định rằng trong tất cả mọi vấn đề nếu không xây dựng kế hoạch cụ thể và
chi tiết thì mọi công việc tiến hành đều rơi vào tình trạng không có phương hướng và để
bảo đảm việc xây dựng kế hoạch được bảo đảm thì một trong những cơ sở quan trọng bắt
nguồn của vấn đề chính là hợp đồng. Hợp đồng là một phương tiện để kiểm tra việc thực
hiện kế hoạch của các bên ký kết. Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các
bên, cơ sở để cho sự phân minh cũng như khẳng định tính đúng sai không thể có nội dung
nào khác quan trọng hơn đó chính là hợp đồng. Bên cạnh những nội dung chính của hợp
đồng như: tên của hợp đồng, tên chủ thể, tên mặt hàng, phương thức thanh toán nhưng
trong đó có nhiều hợp đồng quy định rất cụ thể tiến độ thực hiện các nội dung được thoả
thuận trong hợp đồng (ví dụ như các hợp đồng liên quan đến xây dựng công trình, các
loại hợp đồng BOT, BT,…) và như vậy nội dung hợp đồng sẽ trở thành tiêu chí để kiểm
tra việc thực hiện các thoả thuận của các bên. Hay nói cách khác, hợp đồng được xem
như công cụ để các bên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch.

gian của đời sống dân sự hàng ngày(trong những trường hợp này, các hợp đồng thường
chỉ là hợp đồng bằng lời nói) tới các hợp đồng có nội dung rất phức tạp bao gồm nhiều
chủ thể tham gia, nội dung lớn với nhiều bộ phận khác nhau đẻ thực hiện các nội dung
công việc đã thoả thuận trong hợp đồng (trong trường hợp này, các hợp đồng thường là
hợp đồng thương mại, hợp đồng xây dựng BTO, BOT, BT, hay các hợp đồng mua bán
hàng hoá xuất nhập khẩu). Để bảo đảm các quan hệ hợp được phát triển đúng mục đích
và yêu cầu của nhà nước cũng như quan hệ hợp đồng được ký kết và thực hiện trên
nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện của các bên, bảo đảm lợi ích cũng như nghĩa vụ cho
các bên tham gia ký kết thì quan hệ hợp đồng cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp
luật. Do tính chất đa dạng của hợp đồng là tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời
sống xã hội chính dẫn tới các quy định pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng cũng tồn tại trong nhiều ngành luật khác nhau, trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau. Bộ luật Dân sự là văn bản pháp luật chứa dựng nhiều quy
định nhất về hợp đồng, đây cũng là văn bản quy định luật chung về hợp đồng. Bên cạnh
Bộ luật Dân sự, luật Thương mại, Luật Điện lực, Bộ luật Lao động…cũng quy định về
vấn đề hợp đồng và chúng được áp dụng cho các hợp đồng chuyên ngành. Như vậy, đối
với nhiều nhóm quan hệ có tính độc lập sẽ hình thành một ngành luật riêng: ví dụ, quan
hệ lao động sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động, các quan hệ dân sự sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự… Đối với các quan hệ hợp đồng xuất hiện trong nhiều lĩnh vực
khác nhau và thể hiện ở nhiều dạng quan hệ khác nhau (quan hệ dân sự, quan hệ thương
mại…) dẫn tới pháp luật về hợp đồng cũng rất đa dạng và tồn tại trong nhiều văn bản
pháp luật khác nhau(Bộ luật Dân sự, luật Thương mại, Luật bảo hiểm, luật Điện lực…).
Từ những nội dung đã phân tích như trên, ta có bước đầu hình dung pháp luật về hợp
đồng là hệ thống các quy định do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ về hợp
đồng. ở Việt Nam, do tính chất riêng biệt của quan hệ hợp đồng tồn tại trong nhiều nhành
nghề khác nhau, nhièu lĩnh vực khác nhau mà Quốc hội của nước Việt Nam sẽ không ban
hành văn bản pháp luật quy định riêng biệt về hợp đồng. Các quy định pháp luật về hợp
đồng của nước ta tồn tại trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Ngoài các

pháp luật, bình đẳng giữa các hình thức sở hữu khi giao kết hợp đồng. Bình đẳng của các
chủ thể được thể hiện ở các điểm sau:
- Bình đẳng trong việc tham gia vào các quan hệ hợp đồng không phụ thuộc vào
giới tính và các địa vị xã hội khác;
- Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi chúng được xác lập. Các bên phải thực
hiện nghĩa vụ đối với những người có quyền;
- Bình đẳng về trách nhiệm dân sự nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực
hiện không đúng nghĩa vụ đều phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Trong quan hệ hợp đồng các bên phải hợp tác, giúp đỡ nhau để tạo lập và thực
hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận. Ngoài ra, đòi hỏi các bên phải tìm mọi biện
pháp cần thiết để khắc phục và hạn chế thiệt hại. Tuy nhiên, trong quan hệ dân sự các bên
được suy đoán là trung thực, thiện chí. Nếu một bên cho rằng bên kia không trung thực,
thiện chí phải có chứng cứ.
1.2.2.2. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng
Trách nhiệm trong hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lí nhưng trước tiên là
trách nhiệm của người vi phạm đối với người bị vi phạm. Người có nghĩa vụ phải thực
hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của họ nếu các quyền và nghĩa vụ đó phát sinh từ các căn cứ
hợp pháp. Nếu không thực hiện phải tự chịu trách nhiệm và có thể bị cưỡng chế thi hành
nghĩa vụ và phải bồi thường thiệt hại (nếu có). Mỗi chủ thể tham gia phải tự chịu trách
nhiệm về hành vi của mình (Điều 7 Bộ luật Dân sự). Quyền sở hữu và các quyền tài sản khác là những quyền quan trọng nhất của
công dân cũng như tổ chức trong giao lưu dân sự, kinh tế; là cốt lõi trong các quyền dân
sự của các chủ thể và chi phối các quyền năng khác. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng
quyền sở hữu, quyền tài sản của các chủ thể khác. Khi có hành vi xâm phạm đến tài sản
của người khác, ngoài việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế (hình sự, hành chính…) cơ
quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự với mục đích khôi phục lại
tình trạng tài sản của người bị xâm phạm, bảo đảm quyền sở hữu tài sản của các chủ thể
được thực hiện bình đẳng (Điều 9 Bộ luật Dân sự).

đầu tư, chuyển giao công nghệ, đất đai
Để đơn giản trong việc xác định cấu trúc hình thức của pháp luật hợp đồng, có
thể chia hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng thành hai nhóm:
Nhóm văn bản quy phạm pháp luật quy định các vấn đề chung về hợp đồng
Nhóm văn bản pháp luật này quy định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc
về mọi loại hợp đồng, không phân biệt lĩnh vực phát sinh quan hệ hợp đồng. Các văn bản
pháp luật chung về hợp đồng là Bộ luật Dân sự
Pháp luật chung về hợp đồng của nước ta có nhiều thay đổi qua từng thời kỳ phát
triển kinh tế - xã hội:
- Giai đoạn trước ngày 01/01/2006 (là ngày Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu
lực)
Trong giai đoạn này thì pháp luật chung về hợp đồng chủ yếu được điều chỉnh bởi
Bộ luật Dân sự năm 1995(áp dụng cho các hợp đồng dân sự) và Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế ngày 25/9/1989 (áp dụng cho các hợp đồng được coi là hợp đồng kinh doanh).
- Giai đoạn sau ngày 01/01/2006:
Kể từ ngày 01/01/2006 thì luật chung về hợp đồng chỉ là Bộ luật Dân sự năm
2005. Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 1995
và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989.
Nhóm văn bản quy phạm pháp luật quy định các nội dung về hợp đồng chuyên
ngành Bên cạnh những quy định trong các văn bản pháp luật chung về hợp đồng thì trong
từng lĩnh vực kinh tế cụ thể, Nhà nước còn ban hành các quy định riêng về từng loại hợp
đồng. Đây là nhóm văn bản pháp luật chuyên ngành về hợp đồng. Ví dụ: Luật Điện lực, Luật
Thương mại, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật
Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy
nội địa
- Pháp luật về hợp đồng chuyên ngành
Trong từng lĩnh vực kinh tế có thể có những quy định riêng về từng loại hợp

của hợp đồng mà trong từng hợp đồng sẽ bao gồm nhiều hay ít các điều khoản. Pháp luật
hợp đồng điều chỉnh hợp đồng cụ thể cũng không đồng nhất với nhau. Nghĩa là, tùy từng
loại đối tượng của hợp đồng mà các quy định về hợp đồng của luật dân sự được áp dụng
hay các luật chuyên ngành được áp dụng.
1.2.4. Nguyên tắc áp dụng phối hợp quy định trong các văn bản pháp luật
- Trong quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành
+ Nếu một vấn đề cùng được quy định cả trong luật chung và luật chuyên ngành
thì ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành.
+ Nếu có vấn đề luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy định của luật
chung.
- Trong quan hệ giữa các văn bản của một nhóm luật chung và của một nhóm
luật chuyên ngành
Ưu tiên áp dụng các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn. Theo Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật thì giá trị pháp lý của các văn bản pháp luật được xác định theo
thứ tự sau: Cao nhất là Hiến pháp tới Bộ luật tới Luật, Nghị quyết của Quốc hội, tới Pháp
lệnh, tới Nghị định, tới Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tới Thông tư của liên ngành
và Thông tư của các Bộ Nếu các văn bản có cùng giá trị pháp lý thì ưu tiên áp dụng văn bản ra đời sau.
- Trong quan hệ giữa hợp đồng với pháp luật, thói quen trong hoạt động thương
mại và tập quán thương mại
+ Quan hệ giữa thoả thuận của các bên tham gia hợp đồng với pháp luật về hợp
đồng:
Nếu các bên thỏa thuận không trái pháp luật thì sẽ ưu tiên áp dụng theo sự thỏa
thuận của các bên.
Nếu các bên thỏa thuận trái pháp luật thì thỏa thuận đó không có giá trị và áp
dụng theo các quy định của pháp luật.
Nếu các bên không thỏa thuận cụ thể về một vấn đề nào đó thì áp dụng theo quy
định của pháp luật.

điều chỉnh các hoạt động của đời sống xã hội, mặt khác, để phù hợp với luật pháp quốc tế
trong bối cảnh hội nhập.
Hợp đồng là một vấn đề khó khăn và phức tạp. hoàn thiện pháp luật hợp đồng
cũng có nghĩa là giúp các bên tham gia ký kết được yên tâm, khắc phục rủi ro quyền lợi
cho các. Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hợp đồng nói riêng
là một yêu cầu mang tính thường xuyên và liên tục của nhà nước nhằm đảm bảo quyền
lợi cho các cá nhân và các doanh nghiệp hay các tổ chức.
Có nhiều tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật,
trong đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản là: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình
độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật.
1.3.1. Tính toàn diện
Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện ở hai cấp độ:
- ở cấp độ chung, đòi hỏi pháp luật phải có đủ các nghành luật theo cơ cấu nội
dung lôgíc và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương ứng.
- ở cấp độ cụ thể, đồi hỏi mỗi ngành luật phải có đầy đủ các chế định pháp luật và
các quy phạm pháp luật.

Trích đoạn Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng định hướng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng Bổ sung loại hình hợp đồng thành lập hộ Hoàn thiện các quy định về giao kết hợp đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status