Luận văn
Phát triển kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay LỜI MỞ ĐẦU
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xó hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt
Nam (tháng 12-1986) đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện
có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xó hội. Đại hội đã quyết định
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung( nền kinh tế đã kìm hãm sự phát triển
của xã hội trong một thời gian khá dài) sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.Kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa là mụ hỡnh kinh tế tổng
quỏt mà nước ta lựa chọn trong thời kỳ đổi mới. Nó vừa mang tính chất chung của
kinh tế thị trường, vừa có những đặc thù, được quyết định bởi các nguyên tắc và bản
chất của chủ nghĩa xó hội. Đây là sự vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm trong
nhiêu? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai và phân phối sản phẩm như thế nào?
Giải quyết những vấn đề này có hai kiểu tổ chức kinh tế- xã hội, đó là: Kinh tế tự
nhiên và kinh tế hàng hóa
Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài người. Kinh tế tự
nhiên là nền kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu cá
nhân của con người sản xuất trong một đơn vị kinh tế nhất định. Người sản xuất
quyết định về số lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của mình, gắn với điều
kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền. Trình độ phân công lao động, công
cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất còn rất thấp và giản đơn: sản xuất mang
tính tự cấp, tự túc, khép kín theo từng vùng từng địa phương, lãnh thổ. Trong các xã
hội nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ phong kiến chủ yếu là nền kinh tế tự nhiên.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp kinh tế tự nhiên trên cơ sở sự
phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế của những người
sản xuất. đó là hình thức kinh tế trong đó người sản xuất ra sản phẩm không phải để
thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để trao đổi, để bán trên thị trường.
Vì vậy số lượng và chủng loại sản phẩm suy cho cùng là do người mua quyết định.
Việc phân phối sản phẩm được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi ( mua- bán)
trên thị trường.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm- vào thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên
thủy và đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Hình thức đầu tiên của nó
là nền kinh tế hàng hóa giản đơn. đó là kiểu sản xuất do những người nông dân, thợ
thủ công tiến hành dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của
chính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau trên thị
trường.Quan hệ hàng –tiền tệ phát triển mạnh trong thời kì tan rã của phương thức
sản xuất phong kiến quá độ sang chủ nghĩa tư bản . Đồng thời đó cũng là quá trình
chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn lên kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Kinh tế
hàng hóa tư bản chủ nghĩa(TBCN) là hình thức sản xuất hàng hóa cao nhất, phổ
biến nhất trong lịch sử,dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động. Hay
nói cách khác, đặc điểm của nền sản xuất hàng hóa TBCN là dựa trên cơ sở chế độ
tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê.
2.Điều kiện hình thành và các bước phát triển của kinh tế thị trường. a.Những
điều kiện cơ bản để hình thành kinh tế thị trường
- Thứ nhất là phải tồn tại nền kinh tế hàng hóa. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát
triển cao của kinh tế hàng hóa nên những điều kiện để phát triển kinh tế hàng hóa
chính là điều kiện để phát triển kinh thị trường.- Thứ hai là phải dựa trên cơ sở tự
do kinh tế , tự do sản xuất xã hội kinh doanh.Trong một nền kinh tế thị trường có
nhiều người cùng sản xuất một loại sản phẩm và ngược lại.Mỗi đơn vị sản xuất và
người tiêu dùng cần nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác nhau.Vì vậy việc tự do lựa
chọn mối quan hệ bán hàng giữa các chủ thể kinh tế , tự do trao đổi mua bán là hết
sức cần thiết cho quá trình giải phóng sức sản xuất và điều hòa lợi ích giữa người
mua và người bán .Sự tự do mua bán còn thể hiện tập chung qua giá cả hình thành
trên thị trường tuân theo sự chi phối của các quy luật kinh tế trong sản xuất và lưu
3
thông hàng hóa theo giá cả thị trường – giá cả thỏa thuận giữa người mua và người
bán , là sự gặp gỡ giữa cung và cầu ,là biểu hiện tác động của quy luật giá trị .Nói
đến kinh tế thị trường thì phải nói đến sự tự do cạnh tranh hay nói đúng hơn cạnh
tranh là môi trường của kinh tế thị trường ,là quy luật của kinh tế thị trường Cạnh
tranh đòi hỏi người sản xuất phải tích cực, năng động, nhạy bén : phải thường xuyên
đổi mới kỹ thuật, công nghệ và phương pháp tổ chức sản xuất … để đạt hiệu quả
cao nhất.
- Thứ ba là nền kinh tế phải đạt đến một trình độ pt nhất định được thể hiện ở sự pt
các ngành kinh tế thuộc hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật cùng với hệ thống
tiền tệ phương tiện để lưu thông hàng hóa .sự tăng cường sức mạnh các lĩnh vực
công nghiệp nông nghiệp và thương nghiệp cùng các ngành sản xuất khác khẳng
định sự chiến thắng cuả kinh tế thị trường đối với sản xuất nhỏ .Dựa trên cơ sở phát
triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất ,quá trình tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra
nhanh chóng ,cơ cấu kinh tế có sự biến đổi to lớn sự phát trỉền của thị trường được
mở rộng .Lĩnh vực trao đổi không còn mức hạn hẹp trong từng vùng mà hình thành
thị trường thống nhất trên phạm vi cả nước .Hệ thống các thị trường sản phẩm tư
Từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVII ở nứơc Anh và một số nước châu Âu diễn
ra quá trình qúa độ từ chế độ phong kiến sang CNTB .Đó là thời kì tích lũy nguyên
thủỷ của CNTB châu Âu thương nghiệp và đặc biệt là ngọai thương phát triển mạnh
.Các lí thuyết kinh tế của trường phái trọng thương đã góp phần quan trọng vào quá
trình chuyển nền kinh tế hàng hóa giản đơn sang kinh tế thị trường tự do .Sau khi
tích lũy được một khối lượng tiền của lớn các nhà kinh doanh tập trung sức pt thị
trường dân tộc theo nguyên tắc tự do kinh tế .Trong thời kì này vốn được đầu tư để
pt các lĩnh vực công nghiệp nhẹ ,nông nghiệp và công nghiệp nặng nhằm tạo ra tiềm
lực của nền kinh tế thị trường .Việc tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí ,kết cấu hạ
tầng cơ sở vật chất ,tín dụng đã pt ở một trình độ nhất định các thị trường đấtđai và
thị trưòng lao động được xác lập …là chỗ dựa cho sự phát triển kinh tế thị trường
.Điều này có thể minh chứng bằng một ví dụ lịch sử theo Mac vào thế kỷ 17 Hà lan
là nước tư bản điển hình nhưng bước sang thế kỷ 18 Hà lan đã phải nhường vị trí
nền kinh tế phát triển nhất cho nước Anh.Nguyên nhân chính là ở chỗ các nhà kinh
doanh Hà lan chủ trương phát triển kinh tế bằng con đường buôn bán đầu cơ, không
chú trọng vào phát triển nền công nghiệp .Trong khi đó ở nước Anh các nhà kinh
doanh đã biết kết hợp vốn tích lũy từ ngoài nước với điều kiện tài nguyên, lao động
trong nước đầu tư vào phát triển công nghiệp nhẹ và cuối cùng là phát triển công
nghiệp nặng nhanh chóng tạo ra nền đại công nghiệp đại cơ khí. Vì vậy khi nước
Anh trở thành một cường quốc công nghiệp thì Hà lan vẫn chỉ là một nước cộng
hòa thương nghiệp.
Như vậy đặc trương cơ bản của kinh tế thị trường tự do là dựa trên cơ sở kỹ thuật
điện gắn với nền văn minh công nghiệp tồn tại những hình thức tư hữu nhỏ và tư
hữu lớn về tư liệu sản xuất; Cơ cấu kinh tế nông- công- thương nghiệp tiến tới
công- nông nghiệp- dịch vụ vận động theo cơ chế kinh tế thị trường tự điều chỉnh.
- Bước chuyển từ nền kinh tế thị trường tự do lên kinh tế thị trường hỗn hợp
Kinh tế thị trường hỗn hợp là hình thức phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa ở
đó các chức năng cơ bản của nền kinh tế sản xuất cái gì ,bằng cách nào cho ai đều
5
Thứ 1 : Giá trị thị trường.
Giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hóa trong
cùng một ngành thông qua cạnh tranh.Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn tới hình
thành một giá trị xã hội trung bình .Tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất của mỗi ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong ba trường
hợp sau:
6
(1) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản xuất ra
trong điều kiện trung bình quyết định.
(2) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản xuất ra
trong điều kiện xấu quyết định.
(3) Giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa sản xuất ra
trong điều kiện tốt quyết định.
Thứ hai, Giá trị của tiền .
Giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hóa và tỷ lệ nghịch với
giá trị ( hay sức mua của tiền ).Bởi vậy khi giá trị thị trường của hàng hóa không
đổi thì giá cả của hàng hóa vẫn có thể thay đổi do giá trị của tiền tăng lên hoặc giảm
xuống.
Thứ ba, Cung và cầu .
Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị
trường. Giữa cung và cầu tồn tại một mối quan hệ biện chứng ;sự tác động giữa
chúng hình thành nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trường .
Thư tư : cạnh tranh trên thị trường.
Trong kinh tế thị trường các chủ thể hành vi kinh tế vì lợi ích kinh tế của bản thân
mình mà tiến hành cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh giữa
các chủ thể hành vi kinh tế nhằm giành mục đích tối đa cho mình. Cạnh tranh là
yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường. Nó là hiện tượng tự nhiên, tất yếu của kinh tế
thị trường, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh.
b.Hàng hóa và dịch vụ : hàng hóa là những sản phẩm được làm ra để thỏa mãn nhu
giữa những người sản xuất hàng hóa.
Lịch sử phát triển của tiền tệ là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến
cao, từ hình thái giá trị giản đơn cho đến hình thái đầy đủ nhất của tiền tệ, nó đã trải
qua những hình thức :
(-) Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên.
(-) Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.
(-) Hình thái chung của giá trị.
(-) Hình thái tiền tệ.
Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua năn chức năng sau:
(-)Thước đo giá trị.
(-)Phương tiện lưu thông.
(-)Phương tiện cất trữ.
(-)Phương tiện thanh toán.
(-)Tiền tệ thế giới.
Trong nền kinh tế hàng hóa cũng như trong nền kinh tế thị trường năm chức năng
này của tiền tệ có quan hệ mật thiết với nhau.
Sự phát triển các chức năng của tiền tệ phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu
thông hàng hóa.Nhờ có tiền tệ mà lưu thông trở nên thông suốt hơn, ,nâng cao sản
xuất kinh doanh, xúc tiến giao lưu kinh tế ,khoa học kỹ thuật với bên ngoài, góp
phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế …
4.Các quy luật của kinh tế thị trường.
8
a) Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần thiết cho lưu
thông hàng hóa ở mỗi thời kì nhất định .
Khi tiền mới chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông ,thì số lượng tiền
cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức :
M=P.Q/V
Trong đó :
9
Thứ nhất ,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị ,hàng hóa bán
chạy và lãi cao những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất ,đầu tư thêm tư
liệu sản xuất và sức lao động .Mặt khác ,những người sản xuất hàng hóa khác nhau
cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này ,do đó tư liệu sản xúât và sức lao
động ở ngành này tăng lên quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.
Thứ hai,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ vốn.Tình
hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển
sang sản xuất mặt hàng khác làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này
giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất có thể tiếp tục
sản xuất mặt hàng này.
Như vậy quy luật gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức
lao động vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy lụât giá trị thể hiện ở chỗ nó thu
hút hàng hóa từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá cả cao và do đó góp phần làm cho
hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định .
(+)Kích thích cải tiến kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất tăng năng xuất lao động hạ giá
thành sản phẩm.
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nhưng trên thị
trường thì các hàng hóa thì đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động cá
biệt khác nhau ,nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo
mức hao phí lao động xã hội cần thiết .Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có mức
hao phí lao động thấp hơn mức lao hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ đựơc
nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi .Điều đó kích thích những người sản xuất hàng
hóa cải tíên kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất ,cải tiến tổ chức quản lí ,thực hiền tiết kịêm
…nhằm tăng năng xuất lao động ,hạ chi phí sản xuất.
Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn.Nếu
người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng xuất
lao động xã hội không ngừng tăng lên ,chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm
triển.
Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh
không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp
luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình gây tổn hại đến lợi ích của tập thể
,xã hội cộng đồng như làm hàng giả ,buôn lậu ,trốn thuế ,ăn cắp bản quyền tung tin
phá hoại uy tín đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giau nghèo hoặc tổn
hại đối với môi trường sinh thái …
- Quan hệ cung cầu và gía cả hàng hóa
(+)Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu nhưng không
phải là nhu cầu bất kì mà là nhu cầu được đảm bảo bằng số lượng tiền tương ứng
gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán .Quy mô của cầu phụ thuộc vào các nhân tố
chủ yếu như :thu nhập ,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng hóa ,lãi xuất thị hiếu của
người tiêu dùng …trong đó giá cả là yếu tố có í nghĩa đặc biệt quan trọng .
11
(+)Cung là tổng số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp
cho thị trường .Cung biểu hiện kết quả sản xuất dưới hình thức hàng hóa .Như vậy
cung do sản xuất quyết định nhưng cung không phải bao giờ cũng đồng nhất với sản
xuất .Ví dụ :những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ hoặc không có khả năng đưa tới
thị trường thì không nằm trong cung .Cụ thể lượng cung phụ thuộc chủ yếu vào số
lượng ,chất lượng các yếu tố sản xuất ,chi phí sản xuất ,giá cả hàng hóa trong đó
cũng như cầu giá cả là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng .
Cung và cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau .Cầu xác định cung và ngược lại cung
xác định cầu .Cầu xác định khối lượng ,cơ cấu của cung về hàng hóa: hỉ có những
hàng hóa nào có cầu thì mới được sản xuất,cung ứng ,hàng hóa nào tiêu thụ được
nhiều ,nhanh nghĩa là có cầu lớn sẽ được cung ứng nhiều và ngựơc lại .Đến lượt
mình cung tác động đến cầu ,kích thích cầu :những hàng hóa được sản xuất cung
ứng phù hợp với nhu cầu ,thị hiếu sở thích của người tiêu dùng sẽ được ưa thích
hơn ,bán chạy hơn ,làm cho cầu về chúng tăng lên .Vì vậy người sản xuất hàng hóa
phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu ,thị hiếu ,sở thích của người tiêu dùng ,dự