Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội,
quan hệ giữa con ngời với con ngời trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình cũng
bị tác động mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê của Toà án các cấp, trong cả nớc hàng
năm số lợng các vụ án kiện về hôn nhân và gia đình mà Toà án phải thụ lý giải
quyết khoảng trên 50.000 vụ việc, chủ yếu là ly hôn và tranh chấp tài sản.
Về mặt xã hội, ly hôn là hiện tợng bất bình thờng. Nếu kết hôn là mặt phải
của xã hội thì ly hôn là mặt trái của xã hội, là cái chết của một tổ ấm gia đình. Hậu
quả của việc ly hôn là làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, gây ảnh hởng xấu đến con
cái. Ly hôn là một biện pháp chấm dứt tình trạng mâu thuẫn gay gắt giữa vợ và
chồng, vợ chồng chia tay bằng một phán quyết của Toà án, và nó không chỉ gây
hậu quả đối với các thành viên trong gia đình mà còn gây ra nhiều hậu quả khác
cho xã hội. Do vậy, ly hôn không chỉ là vấn đề riêng của mỗi gia đình mà là vấn
đề của cả xã hội quan tâm.
Ngày nay ly hôn đã đợc nhìn nhận đúng với bản chất tích cực và tiến bộ của
nó. Dới góc độ pháp lý, ly hôn đợc ghi nhận là một chế định độc lập của Luật Hôn
nhân và gia đình, nó là cơ sở cho Toà án và các bên đơng sự giải quyết vấn đề ly
hôn một cách thấu tình đạt lý, góp phần giải quyết con ngời ra khỏi sự ràng buộc
không cần thiết khi tình cảm vợ chồng không còn. Ta thấy rằng, một gia đình tốt
thì xã hội mới tốt và ngợc lại, xã hội tốt là điều kiện thúc đẩy gia đình tiến bộ.
Mặc dù vậy, khi gia đình lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể tồn tại một
cách ổn định, hạnh phúc, quan hệ hôn nhân trên thực tế đã tan vỡ, sự ly hôn là cần
thiết. Nhà nớc đặt ra chế độ hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ, nhằm xây
dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, bền vững ngay cả khi gia đình đó tan vỡ thì sự
bình đẳng về quyền và lợi ích giữa vợ và chồng vẫn đợc đảm bảo. Đó là sự tiến bộ
thể hiện quyền tự do ly hôn của hai vợ chồng.
Từ khi luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời, nhà nớc đã tuyên truyền
và phổ biến rộng rãi để mọi ngời dân hiểu biết trong việc bảo vệ quyền lợi của mọi
thành viên và xây dựng hạnh phúc gia đình XHCN. Các cấp, các ngành mà đặc
pháp luật về ly hôn để từ đó sẽ nêu lên một số những kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật về ly hôn.
3. Phơng pháp nghiên cứu
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong khóa luận sẽ sử dụng những phơng pháp sau đây: Phơng pháp luận;
phơng pháp lịch sử; phơng pháp phân tích, tổng hợp; phơng pháp thống kê; phơng
pháp so sánh, .
4. Cơ cấu của Khóa luận
Về bố cục của Khoá luận, ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu và Danh mục tài
liệu tham khảo thì Khóa luận này đợc chia làm 3 Chơng:
Chơng 1: Khái quát chung về ly hôn
Chơng 2: Ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
Chơng 3: Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về ly
hôn và một số kiến nghị hoàn thiện chế định về ly hôn
Chơng 1
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khái quát chung về ly hôn
1. Khái niệm về ly hôn
Quan hệ hôn nhân dới chế độ xã hội chủ nghĩa với đặc điểm tồn tại lâu dài,
bền vững cho đến suốt cuộc đời con ngời vì nó đợc xác lập trên cơ sở tình yêu th-
ơng, gắn bó giữa vợ chồng. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do
nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung
sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn đợc đặt ra để giải phóng cho vợ chồng và các
thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân
nhng là mặt không thể thiếu đợc khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, tình
cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ.
Vấn đề ly hôn đợc quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là
khác nhau. Một số nớc cấm vợ chồng ly hôn (theo Đạo thiên chúa), bởi vì theo họ
đình, lợi ích của nhà nớc và của xã hội.
Nh vậy, ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc
quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng. (Điều 8,
khoản 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
2. Sơ lợc lịch sử chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn
phát triển
2.1. Ly hôn trong cổ luật Việt Nam
Trong cổ luật Việt Nam, các căn cứ ly hôn thờng đợc biết dới tên duyên
cớ ly hôn hay các trờng hợp ly hôn. Các duyên cớ ly hôn trong cổ luật thấm
nhuần sâu sắc t tởng Nho giáo, nghĩa là chúng đợc quy định dựa trên sự bất bình
đẳng giữa vợ chồng và nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi gia đình, gia tộc hơn là
quyền lợi cá nhân. Chính vì vậy, mà duyên cớ ly hôn trong cổ luật đợc chia làm 3
loại: rẫy vợ, ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình.
Trờng hợp rẫy vợ
Rẫy vợ là việc ngời chồng đợc đơn phơng bỏ vợ ngoài tầm kiểm soát của
các thiết chế xã hội. Điều 301 Bộ luật Hồng Đức quy định: nếu ngời vợ phạm phải
một trong các điều thất xuất thì chồng phải bỏ vợ, nếu không bỏ vợ sẽ bị tội
biếm. Tuy Bộ luật Hồng Đức không thống kê rõ các trờng hợp nào đợc coi là thất
xuất, nhng trong Hồng Đức thiện chính th (Đoạn 64) và Bộ luật Gia Long (Điều
108) đã nêu rõ, đó là bảy trờng hợp sau: không có con, dâm đãng, không thờ bố
mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông và bị ác tật.
Trong quan niệm của xã hội Trung Quốc cũng nh xã hội Việt Nam truyền
thống, việc hôn nhân không đơn thuần là việc hai cá nhân tạo lập một gia đình mà
hơn thế, nó là việc của hai bên gia tộc. Đối với cộng đồng gia tộc, mục đích của
hôn nhân là để duy trì dòng dõi và thờ phụng tổ tiên. Trong hoàn cảnh ấy, việc
không có con đợc coi là bất hiếu với cha mẹ, gây thiệt hại cho lợi ích gia tộc và vì
cớ ấy, ngời chồng đợc phép đơn phơng rẫy bỏ vợ mình. Cũng trong lợi ích của
cộng đồng gia tộc mà việc ngời vợ ghen tuông hay dâm đãng nếu ngời chồng
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quy định bằng cách thống kê đâu là các điều kiện thiết yếu của hôn nhân (luật chỉ
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quy định các nghi lễ kết hôn) cũng nh quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ chồng, mà
luật chỉ can thiệp khi có sự vi phạm các điều kiện hoặc các nghĩa vụ này và ly hôn
bắt buộc đợc coi nh là hình phạt cho sự vi phạm ấy. Chẳng hạn, về sự vi phạm
nghĩa vụ chung sống giữa hai vợ chồng, Điều 308 Bộ luật Hồng Đức quy định:
phàm ngời chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại thì mất vợ. Nếu vợ đã có con
thì cho hạn một năm. Vì việc quan phải đi xa thì không theo luật này. Đây là quy
định nhằm ràng buộc trách nhiệm của ngời chồng. Trong gia đình dới chế độ
phong kiến, vợ chồng phải có nghĩa vụ đối với nhau, đó là nghĩa vụ đồng c. Tức là
vợ chồng phải cùng nhau chung sống, cùng ăn ở với nhau và nghĩa vụ phù trợ ràng
buộc trách nhiệm đối với nhau giữa hai vợ chồng. Ngoài ra, ngời vợ phải thực hiện
hai nghĩa vụ đối với chồng là trung thành và tòng phụ. Vì vậy, khi bớc chân về nhà
chồng, họ phải theo chồng nhng họ cũng không hoàn toàn lệ thuộc vào chồng mà
họ vẫn phải lo làm lo ăn để nuôi sống gia đình. Hành vi bỏ lửng vợ mà không có
lý do chính đáng là vi phạm nghĩa vụ đồng c và nghĩa vụ phù trợ của vợ chồng.
Việc bỏ lửng vợ, không có trách nhiệm gia đình là không làm tròn bổn phận của
ngời chồng trong gia đình. Hơn nữa, điều này làm cho ngời chồng không còn là
trụ cột trong gia đình để ngời vợ có thể nhờ cậy. Trong cuộc sống gia đình, vợ
chồng phải có sự quan tâm, chăm sóc nhau cả về thể chất và tinh thần. Việc ngời
chồng bỏ lửng vợ là coi nh không còn tình nghĩa vợ chồng nữa. Do đó, để bảo vệ
quyền lợi của ngời phụ nữ, luật Hồng Đức cho phép ngời vợ đợc trình quan và thực
hiện quyền ly hôn của mình. Ngoài ra, theo Điều 333 luật Hồng Đức thì Nếu con
rể lấy chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha mẹ vợ. Đem việc tha quan sẽ cho ly dị.
Theo quan niệm của Nho giáo thì bất hiếu với cha mẹ là điều không thể dung thứ
đợc. Vì vậy, việc con rể lấy chuyện thị phi mắng nhiếc cha mẹ vợ cũng là điều bất
hiếu, xúc phạm đến danh dự gia giáo của gia đình, phá hoại tình nghĩa vợ chồng.
Tuy nhiên, trong trờng hợp này ngời vợ phải tha quan và nếu quan cho phép mới
đợc ly dị, chứ ngời vợ không đợc tự ý bỏ chồng.
viết thay cũng đợc . . Thuận tình ly hôn có thể do vợ chồng tính tình không hợp
hoặc do nhiều nguyên nhân khác mà không phải bó buộc theo điều khoản hoặc
hình thức của pháp luật, luật không có những dự liệu bắt buộc mà ly hôn đợc
quyết định theo ý chí của hai vợ chồng và vì vậy đã góp phần thực hiện quyền bình
đẳng của ngời vợ trong gia đình với ngời chồng.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điều 108, luật Gia Long, thuận tình ly hôn đợc quy định nh sau: nếu
chồng vợ trẹo ý không vui nhau, cả hai đều muốn ly dị, tình thì không hợp, ân đã
lìa thì không thể nào hoà lại đợc, cho phép họ ly dị, không bị tội .
Nh vậy, việc nghiên cứu duyên cớ ly hôn trong cổ luật Việt Nam cho phép
rút ra một số nhận xét sau:
1
Một là, khác với luật đơng đại chỉ chấp nhận một căn cứ ly hôn duy nhất
dựa trên thực chất sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, trong cổ luật Việt Nam thì căn cứ
ly hôn đợc quy định không đơn nhất mà đa dạng hoặc ngời chồng có thể tự ý ly
hôn theo ý chí đơn phơng của mình khi vợ phạm phải một trong các điều thất
xuất, hoặc hai vợ chồng có thể thuận tình ly hôn, cũng có khi vợ hay chồng bị bắt
buộc ly hôn khi bên kia vi phạm một trong các điều kiện thiết yếu của hôn nhân
hay vi phạm các nghĩa vụ của vợ chồng. Điều quan trọng là, một khi những điều
kiện của các căn cứ ly hôn nói trên hội đủ, các đơng sự đợc phép đặt dấu chấm
hết cho cuộc hôn nhân của mình.
Hai là, trong xã hội phong kiến Việt Nam thời kỳ ảnh hởng đậm nét bởi t t-
ởng Nho giáo, nếu nh việc kết lập hôn nhân chính là vì lợi ích gia đình, thì khi huỷ
bỏ hôn nhân, cũng là do quyền lợi của gia đình chi phối hơn là do mối quan hệ
giữa bản thân ngời vợ và ngời chồng. Nói cách khác, ý chí cá nhân của vợ chồng
bị gạt ra ngoài lề không chỉ khi họ kết lập hôn nhân của chính họ, mà còn khi cuộc
hôn nhân của họ bị huỷ bỏ, để thay vào đó là lợi ích gia dình, gia tộc. Ly hôn vì
lí do thất xuất hay nghĩa tuyệt là sự phản ánh triệt để quan điểm này.
phạm gian, vợ bỏ nhà chồng mà đi, tuy đã bách phải về mà không về, vợ thứ đánh,
chửi, tệ bạc với vợ chính. Điều 119 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định ngời vợ có thể
xin ly hôn vì những duyên cớ sau: chồng không làm đúng nghĩa vụ đã cam đoan
sau khi kết hôn, chồng bỏ nhà đi quá hai năm không có cớ gì chính đáng và không
lo liệu việc nuôi sống vợ con, Vấn đề ly hôn thời kỳ này, chủ yếu đ ợc xây
dựng trên nền tảng Nho giáo phong kiến trớc đây và dựa theo Dân luật của Pháp
năm 1804 với quan điểm thuần tuý coi hôn nhân là một hợp đồng do Dân luật điều
chỉnh.
2.3. Giai đoạn từ 1945 đến nay
2.3.1. Từ năm 1945 - 1954
Cách mạng tháng Tám 1945 đã đa nhân dân ta từ thân phận nô lệ lên đại vị
làm chủ đất nớc, xây dựng cuộc sống hoà bình, xã hội không còn chế độ ngời bóc
lột ngời. Dới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đấu tranh xoá bỏ chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến cổ hủ, lạc hậu để xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình
văn minh, tiến bộ. Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ chúng ta mới giành đợc chính
quyền, khó khăn chồng chất, chế độ phong kiến còn đè nặng trong t tởng của nhân
dân nên nhà nớc ta cha thể ban hành một đạo luật về hôn nhân và gia đình mà chỉ
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thực hiện phong trào vận động đời sống mới để nhân dân ta tự nguyện xoá bỏ hủ
tục lạc hậu.
Bên cạnh cuộc vận động, ngày 10/10/1945 Chủ tịch nớc đã ban hành Sắc
lệnh số 90/ST, cho phép áp dụng những quy định trong bộ luật của chế độ cũ có
chọn lọc trên nguyên tắc là không đợc trái với lợi ích của nhà nớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà, trong đó, có vấn đề hôn nhân và gia đình và hậu quả của ly hôn.
Cũng ngay trong bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: tất cả mọi ngời đều sinh ra có quyền
bình đẳng .và m u cầu hạnh phúc và trong bản Hiến Pháp đầu tiên của nớc ta
năm 1946, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã đợc ghi nhận tại Điều 19 Hiến
pháp: đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phơng diện
Ngoài ra, Sắc lệnh số 159 còn quy định việc bảo vệ phụ nữ có thai và thai
nhi trong khi ly hôn: nếu vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin Toà tạm hoãn để
sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn ( Điều 5 ).
Cả hai Sắc lệnh số 97/SL và 159/SL đã đề ra một số nguyên tắc chung, tiến
bộ góp phần không nhỏ vào việc xoá bỏ chế độ hôn nhân phong kiến, giải phong
phụ nữ, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ đầu của cách
mạng dân tộc dân chủ. Quyền bình đẳng của ngời phụ nữ trong gia đình và ngoài
xã hội bớc đầu đợc thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những u điểm mang tính dân
chủ và tiến bộ của một nền pháp chế mới, Sắc lệnh số 159/SL quy định căn cứ ly
hôn vẫn dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng.
2.3.2. Từ năm 1955 đến 1975
Đây là thời kỳ đất nớc ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc dới sự
lãnh đạo của chính quyền nhà nớc Việt Nam DCCH, miền Nam dới sự cai trị của
đế quốc Mỹ và chính quyền phong kiến Sài Gòn. Trớc tình hình đó, Đảng và nhà
nớc ta đã đề ra nhiệm vụ cho mỗi miền.
ở miền Bắc, chế độ hôn nhân và gia đình đợc xây dựng trên nguyên tắc tự
do, tiến bộ, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của ngời phụ nữ và con cái. Trên
cơ sở Hiến pháp 1959 ghi nhận sự bình đẳng dân chủ giữa phụ nữ và nam giới về
các mặt, nhà nớc bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, bảo vệ hôn nhân và gia
đình. Luật Hôn nhân và gia đình đợc Quốc hội khoá I thông qua ngày 29/12/1959
và có hiệu lực ngày 13/01/1960. Lần đầu tiên căn cứ ly hôn đợc xác định hoàn
toàn khác. Việc giải quyết ly hôn không dựa trên yếu tố lỗi của các bên nh trớc
đây mà trên cơ sở thực trạng của quan hệ hôn nhân. Căn cứ ly hôn phản ánh hôn
nhân không thể tồn tại đợc nữa, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, cuộc sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đợc thì Toà án sẽ cho
ly hôn. (Điều 26, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: Khi một bên
vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hoà giải, hoà giải
không đợc, Toà án nhân dân sẽ xét xử. Nếu tình trạng trầm trọng, đời sống chung
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phá bỏ nhng ngời vợ vẫn phụ thuộc chồng. Trong Bộ luật Gia đình ngày
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
02/01/1959 thể hiện một t tởng hết sức cực đoan, việc này đợc thể hiện ở Điều 55:
cấm chỉ sự vợ chồng ruồng bỏ nhau về sự ly hôn, trừ trờng hợp đặc biệt Tổng
thống có thể quyết định
1
.
Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ luật Sài Gòn ngày 20/01/1972 có
quy định căn cứ ly hôn. Tuy nhiên, việc giải quyết ly hôn dựa trên nguyên cớ ly
hôn đợc xác định dựa trên lỗi của vợ chồng. Điều 63 Sắc luật số 15/64 quy định 5
duyên cớ ly hôn mà nội dung chủ yếu là dựa trên lý do xin ly hôn của Sắc luật
ngày 17/01/1950 nhng đã sửa lại cho cụ thể hơn: duyên cớ ly hôn do một bên bỏ
nhà đi quá 2 năm không có duyên cớ chính đáng đợc sửa lại là có án văn xác
định sự biệt tích của ngời phối ngẫu đã thất tung, hoặc lý do vợ chồng tính tình
không hợp, đối xử với nhau không thể chung sống đợc, thể hiện bằng các hành vi
cụ thể vì sự ngợc đãi, bạo hành hay nhục mạ thờng xuyên làm cho vợ chồng
không thể chung sống với nhau đợc nữa. Bên cạnh đó, một bên có quyền xin ly
hôn khi có án văn quy định xử ngời phạm tội vì có hành vi phế bỏ gia đình (Điều
63). Chế độ ly thân và ly hôn theo Bộ Dân luật năm 1972, duyên cớ ly hôn gồm :
- Vì sự mất tích của ngời phối ngẫu;
- Vì ngời phối ngẫu bị kết án trọng hình;
- Vì sự ngợc đãi, bạo hành hay nhục mạ khiến cho vợ chồng không thể ăn ở
với nhau đợc nữa
2
.
Trờng hợp vợ chồng thuận tình ly hôn chỉ diễn ra trong khoảng thời gian
hôn thú đợc lập trên 2 năm và không quá 20 năm. Hậu quả pháp lý của ly hôn là
chấm dứt hoàn toàn quan hệ vợ chồng. Ngời vợ đợc lấy lại tên riêng của mình và
chỉ có thể tái giá sau 300 ngày, kể từ khi hôn nhân chấm dứt.
thức của ngời dân trong việc thi hành các quy định của nhà nớc. Từng bớc xoá bỏ
chế độ hôn nhân phong kiến, t sản thay vào đó là một chế độ hôn nhân gia đình tự
do, tiến bộ. Vai trò của ngời phụ nữ trong gia đình và trong xã hội đợc đề cao.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời khi nhà nớc ta bắt đầu thời kỳ
đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đáp ứng với sự đổi
mới trên thì hệ thống pháp luật Việt Nam cũng phải có sự đổi mới cho phù hợp với
sự phát triển chung của xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 trở nên
không phù hợp với hoàn cảnh xã hội hiện tại. Do vậy, đòi hỏi Luật Hôn nhân và
gia đình phải có sự thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Tại Kỳ họp thứ 7,
Quốc hội khoá X ngày 09/6/2000 đã thông qua Luật Hôn nhân và gia đình gồm 13
Chơng, 110 điều và đợc xây dựng trên các nguyên tắc :
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng;
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa ngời
theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và ngời nớc ngoài
đợc tôn trọng và bảo vệ;
- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia
đình;
- Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội, con
có nghĩa vụ tôn trọng, chăm sóc, nuôi dỡng cha mẹ, cháu có nghĩa vụ kính trọng,
chăm sóc, phụng dỡng ông bà, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan
tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;
- Nhà nớc và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa
con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong và ngoài giá thú;
- Nhà nớc, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của ngời mẹ.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định căn cứ ly hôn theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Căn cứ ly hôn không đợc quy định riêng biệt mà
đợc quy định chung nhất, dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ. Toà
con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong và ngoài giá thú;
- Nhà nớc, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của ngời mẹ.
Một trong những nguyên tắc quan trọng khi kết hôn là phải có sự tự nguyện
của hai bên nam nữ. Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ
thực sự mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thơng chân chính
giữa họ nhằm mục đích là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Sự tự nguyện
của các bên trong việc kết hôn là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân có thể
tồn tại lâu dài và bền vững.
Hôn nhân tự nguyện cũng đồng thời phải đảm bảo tự do ly hôn. Nếu nh
không thể bắt buộc ngời ta kết hôn thì cũng không thể buộc họ tiếp tục cuộc sống
vợ chồng khi cuộc sống đó hoàn toàn không có sự tự nguyện và hạnh phúc gia
đình không thể hàn gắn đợc.
Nhà nớc bảo hộ hôn nhân, đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng không
có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng mà
bằng pháp luật, nhà nớc kiểm soát việc giải quyết ly hôn vì trong quan hệ hôn
nhân, không chỉ có lợi ích riêng của hai vợ chồng mà còn có lợi ích của các thành
viên khác trong gia đình, lợi ích của nhà nớc và xã hội. Vì vậy. thông qua pháp
luật, nhà nớc chỉ giải quyết ly hôn khi có đủ những căn cứ theo quy định của pháp
luật.
1. Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
1.1. Khái niệm căn cứ ly hôn
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân là hiện tợng xã hội mang tính giai cấp
sâu sắc. Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nớc, bằng pháp luật quy định chế độ
hôn nhân phải phù hợp với ý chí của nhà nớc. Tức là nhà nớc bằng pháp luật quy
định trong những điều kiện nào thì cho phép xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời
xác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới cho phép xoá bỏ (chấm dứt)
162
2
2. C.Mác và Ph. Ănggheh : Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, T1,Tr. 234 -
235
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đợc thì Toà án
quyết định cho ly hôn.
2. Trong trờng hợp vợ hoặc chồng của ngời bị Toà án tuyên bố mất tích xin
ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.
Khi có yêu cầu ly hôn của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Toà án phải tiến
hành điều tra và hoà giải, nếu hoà giải không thành thì Toà án cần xác định tình
trạng của quan hệ hôn nhân, xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết. Việc giải
quyết ly hôn cần phải chính xác. Nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp với
nguyện vọng của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia
đình. Ngợc lại, nếu việc giải quyết không chính xác sẽ dẫn tới tan vỡ hạnh phúc
gia đình, phá huỷ một cuộc hôn nhân còn có thể cứu vãn đợc và gây ra hậu quả
không đáng có. Mặt khác, giải quyết ly hôn cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong việc
vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trờng hợp cụ thể.
Trớc hết cần hiểu quan hệ vợ chồng ở vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài là giữa vợ chồng có nhiều lục đục, mâu thuẫn sâu sắc
đến mức vợ chồng không thể chịu đựng nhau đợc nữa, các thành viên trong gia
đình không thể chung sống bình thờng, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại đợc, sự
tan vỡ của hôn nhân và ly tán của gia đình là không thể tránh khỏi. Vì vậy, không
thể hiểu giản đơn tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài là
biểu hiện tình yêu giữa vợ và chồng mà rộng hơn đó là tình trạng về cuộc sống gia
đình nói chung và các mối quan hệ xung quanh. Môi trờng và không khí căng
thẳng của gia đình đã bó buộc con ngời phải chịu đựng trong một hoàn cảnh hoàn
toàn đặc biệt. Hoàn cảnh cũng không những không bình thờng mà còn rơi vào tình
2000 đã nêu rõ: đợc coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không yêu thơng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, nh : Ngời
nào chỉ biết bổn phận ngời đó, bỏ mặc ngời vợ hoặc ngời chồng muốn sống ra sao
thì sống, đã đợc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hoà giải
nhiều lần.
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngợc đãi, hành hạ nhau, nh : Thờng xuyên
đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của
nhau, đã đợc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở,
hoà giải nhiều lần.
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau, nh : Có quan hệ ngoại tình, đã đợc
ngời chồng hoặc ngời vợ hay bà con thân thích của họ, hoặc cơ quan, tổ chức nhắc
nhở, khuyên bảo nhng vẫn tiếp tục có hành vi ngoại tình. (Mục 8, điểm a.1, Nghị
quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000).
Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài đợc,
thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng nh h-
ớng dẫn tại điểm a.1 mục 8 của Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày
23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao . Trên thực tế cho
thấy, nếu đã đợc nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại
tình hoặc vẫn tiếp tục có quan hệ sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có
hành vi ngợc đãi, hành hạ, xúc phạm nhau thì có căn cứ để nhận định rằng đời
sống chung của vợ chồng không thể kéo dài đợc. (Mục 8, điểm a.2, Nghị quyết số
02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000).
Ngoài ra, mục đích của hôn nhân không đạt đợc theo Mục 8, điểm a.3, Nghị
quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000 là không có tình nghĩa vợ chồng,
không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự,
nhân phẩm, uy tín của vợ chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngỡng, tôn giáo
của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.
Khi thực tế quan hệ vợ chồng ở trong tình trạng trầm trọng, đời sống
chị Tú nghi ngờ. Chị đã điều tra và phát hiện anh đã có quan hệ bất chính với ngời
phụ nữ khác. Do vậy, lần nào anh về thăm nhà là vợ chồng anh chị lại cãi cọ, đánh
đập nhau. Sự việc này kéo dài tự năm 1998 đến năm 2001, anh Nam có đơn xin ly
hôn, TAND quận Đống Đa và TAND TP Hà Nội đã bác đơn. Đến năm 2003, anh
Nam lại có đơn xin ly hôn với ly do là từ năm 1998 đến nay, quan hệ vợ chồng
anh không hàn gắn đợc, tình nghĩa vợ chồng không còn và việc này đã kéo dài qua
lâu nên thiết tha xin ly hôn. Chị Tú cũng thừa nhận quan hệ vợ chồng đã chấm dứt
vào năm 1998. Từ năm 1999 đến nay, mỗi lần anh Nam về nhà lại liên tục hành
hạ, đánh đập chị. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nhng không nhất trí ly
hôn vì không muốn làm ảnh hởng đến con cái. Nh vậy, ta có thể thấy quan hệ hôn
giữa anh Nam và chị Tú đã mâu thuẫn trầm trọng, cả hai ngời đều thừa nhận vợ
chồng không còn tình cảm với nhau nữa. Qua nhiều lần hoà giải và hai lần xử bác
đơn xin ly hôn, vợ chồng anh chị cũng không hàn gắn lại đợc. Hơn nữa anh chị lại
thờng xuyên cãi chửi nhau. Cuộc hôn nhân chỉ còn là hình thức làm cho hai ngời
rằn vặt, đau khổ. Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, bền
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vững nhng điều đó không đạt đợc đối với anh chị mà cả hai ngời đều không đợc
sống một cách yên ổn. Bản án số 02/LHST ngày 14/8/2003 của TAND huyện Gia
Lâm đã quyết định: xử cho ly hôn giữa anh Nam và chị Tú, chấm dứt một cuộc
hôn nhân tan vỡ đã kéo dài mà không đạt đợc mục đích
1
.
Trong quá trình giải quyết ly hôn cần phải có sự phân biệt giữa căn cứ ly
hôn với nguyên nhân, lý do và động cơ xin ly hôn của đơng sự. Nguyên nhân ly
hôn là những hiện tợng, sự kiện tác động đến hôn nhân và làm cho hôn nhân tan
vỡ, ly hôn là kết quả tất yếu của mối quan hệ nhân quả với nguyên nhân nào đó
phát sinh trong cuộc sống vợ chồng chẳng hạn nh tính tình vợ chồng không hợp,
ngoại tình . còn lý do ly hôn chỉ là cái cớ mà đ ơng sự dựa vào đó để Toà án giải
quyết ly hôn. Trong nhiều trờng hợp, lý do ly hôn cũng đồng thời là nguyên nhân
này, căn cứ cho ly hôn đợc xác định nếu việc ly hôn do một bên xin với lý do bên
kia làm cho cuộc sống chung không thể tiếp tục và bên kia chấp nhận thì thẩm
phán tuyên bố cho ly hôn mà không cần xem xét với yếu tố lỗi. Nh vậy, trong tr-
ờng hợp này ly hôn đợc giải quyết theo sự thoả thuận của đơng sự. Điều đó cũng
phù hợp với bản chất của hôn nhân khi pháp luật của Pháp coi hôn nhân là một
hợp đồng nh những hợp đồng dân sự khác. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự Pháp cũng có
xét đến tình trạng hôn nhân trên thực tế của vợ chồng, Toà án sẽ xử cho ly hôn,
nếu tính tình của một ngời đã thay đổi đến mức không thể sống chung đợc nữa và
theo những dự đoán có lý nhất, không thể đợc khôi phục trong tơng lai. Bên cạnh
việc xác định về tình trạng đời sống chung tan vỡ, còn phải xét đến thời gian sống
riêng biệt của hai vợ chồng, pháp luật quy định khoảng thời gian đó là 6 năm
(Điều 237 BLDS Pháp )
1
. ở Canađa, luật pháp về ly hôn có sự kết hợp giữa căn cứ
ly hôn trong việc xác định yếu tố lỗi và thực trạng hôn nhân. Hôn nhân đợc coi là
tan vỡ khi hai vợ chồng sống riêng rẽ đã hơn một năm và lí do là hôn nhân bị rạn
nứt, khi hai vợ chồng có quan hệ ngoại tình với ngời khác hoặc khi vợ hoặc chồng
có đối xử ngợc đãi cả về tinh thần lẫn thể chất làm bên kia không thể chịu đựng đ-
ợc. Trờng hợp đó Toà án sẽ cho ly hôn
2
. Còn theo luật Hôn nhân và gia đình ở
Singapore, ly hôn chủ yếu dựa vào yếu tố lỗi trong đó việc xác định hôn nhân tan
vỡ, không thể phục hồi căn cứ vào việc một bên ngoại tình thông dâm mà bên kia
không thể tha thứ, khoan dung để chung sống với nhau đợc, một bên bị tệ bạc quá
đáng, có sự ruồng bỏ không chung sống liên tục trong 2 năm và không có ý định
1 1. Bộ luật dân sự nớc Cộng hoà Pháp năm 1998, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
2