ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HẬU
HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN
GIỮA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2000
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HẬU
HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN
GIỮA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2000
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỞ ĐẦU
Chương 1:
1
LÝ LUẬN CHUNG HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ
8
TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1.
Một số khái niệm chung
8
1.1.1. Khái niệm ly hôn
8
1.1.2. Khái niệm hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng
10
khi ly hôn
1.2.
Đặc điểm của hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ
miền Nam nước ta giai đoạn 1954 - 1975
1.4.4. Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn
theo Luật Hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta từ năm 1945
đến nay
4
18
1.4.5. Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn
23
theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Chương 2: NỘI DUNG HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN
25
GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN
2.1.
Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
25
2.1.1. Nguyên tắc chung khi chia tài sản chung của vợ chồng
Quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng khi ly hôn
2.3.1. Quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng khi ly hôn
56
56
trong trường hợp bản án, quyết định ly hôn chưa có hiệu lực
pháp luật
2.3.2. Quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng khi ly hôn
61
trong trường hợp bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực
pháp luật
Chương 3:
THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
64
QUY ĐỊNH HẬU QUẢ PHÁP LÝ VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN
GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000
3.1.
Những kết quả đã đạt được trong quá trình thực thi những quy
64
3.3.1. Nguyên nhân khách quan
83
3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
85
3.4.
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện và áp dụng các
86
quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng
khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
3.4.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
86
3.4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
88
KẾT LUẬN
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
bảng
3.1
Số vụ việc HN &GĐ đã thụ lý và giải quyết cấp sơ thẩm
67
3.2
Số vụ việc HN &GĐ đã thụ lý và giải quyết cấp phúc thẩm
68
3.3
Số vụ việc HN &GĐ đã thụ lý và giải quyết theo thủ tục
68
giám đốc thẩm và tái thẩm
3.4
Số vụ việc HN &GĐ bị hủy và sửa
69
3.5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung ly hôn và về hậu quả pháp lý
về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Làm sáng tỏ bản chất pháp lý của các quy định về hậu quả pháp lý
về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn theo quy định pháp luật Việt
Nam, tập trung nhất là theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật nước ta hiện
nay khi xử lý các vấn đề liên quan đến hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản
giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Phân tích được những hạn chế và những vướng mắc của việc áp
dụng pháp luật liên quan đến hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ
chồng khi ly hôn.
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện các quy
định của pháp luật về vấn đề hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ
chồng khi ly hôn; tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được đồng bộ, thống
nhất trong cả nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về vấn đề hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản
giữa vợ chồng khi ly hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000. Cụ thể
11
là nghiên cứu các vấn đề: Khái niệm ly hôn, khái niệm hậu quả pháp lý về
quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn; đặc điểm, ý nghĩa của quy định về
hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, vấn đề chia tài
sản chung của vợ chồng, vấn đề cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn và
vấn đề quyền thừa kế của vợ, chồng khi một trong hai chết trong khi tiến hành
- Cơ sở khoa học
Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước
về HN&GĐ. Đồng thời luận văn còn kế thừa các công trình nghiên cứu của tập
thể và các cá nhân liên quan đến đề tài trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và học hỏi.
Cơ sở pháp lý: Luận văn được nghiên cứu dựa trên các văn bản luật
hiện hành có liên quan đến quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản
giữa vợ chồng khi ly hôn: Luật HN&GĐ năm 2000 và các văn bản pháp luật
khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng các phương pháp sau:
+ Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu hậu quả
pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng qua pháp luật các thời kỳ ở Việt Nam;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các
vấn đề liên quan đến hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly
hôn và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu
trong luận văn;
+ Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của
pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam. Qua đó,
giúp thấy được sự kế thừa cũng như phát triển của pháp luật HN&GĐ về vấn
đề quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn qua các thời kỳ;
+ Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực
tiễn hoạt động xét xử của ngành Tòa án, qua số liệu thống kê của một số cơ
quan khác trong quá trình triển khai các quy định của Luật HN&GĐ nói
chung và các quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng
khi ly hôn nói riêng. Trên cơ sở các số liệu đó, giúp tìm ra mối liên hệ giữa
các quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã thực sự đi vào đời sống
và phát huy tác dụng hay chưa? Nguyên nhân và giải pháp? Từ đó xem xét
hôn theo pháp luật hiện hành.
- Với những kết quả nghiên cứu như trên, luận văn đã là căn cứ khoa
học, đáp ứng được những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn để giúp cơ quan
14
lập pháp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật quy định về hậu quả pháp lý
về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Hoàn thành luận văn này, tác giả hy vọng rằng, những kiến thức khoa
học trong luận văn được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta; đặc biệt, đối với
chuyên ngành luật HN&GĐ và pháp luật dân sự.
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt
là cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ
tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn; biết được cơ sở pháp lý liên quan đến vấn đề
hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn; quyền và nghĩa vụ
cụ thể của vợ, chồng liên quan đến quan hệ tài sản giữa vợ, chồng khi ly hôn.
Từ đó, góp phần thực hiện pháp luật, xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận,
hạnh phúc, bền vững, hạn chế những tranh chấp không đáng có trong thực tế.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa
vợ chồng khi ly hôn.
Chương 2: Nội dung hậu quả pháp lý về hậu quả pháp lý về quan hệ
tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định hậu
quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân
chú ý đến lợi ích chung của gia đình, của Nhà nước và xã hội [53, tr. 253].
Trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật nhà nước
phong kiến, tư sản thường quy định việc cấm vợ chồng ly hôn hoặc vợ chồng
16
muốn ly hôn phải có rất nhiều điều kiện nhằm hạn chế quyền ly hôn của vợ,
chồng hoặc đặt ra quy định giải quyết ly hôn dựa trên yếu tố lỗi của vợ,
chồng. Ở nước ta, hệ thống pháp luật HN&GĐ dưới thời phong kiến cũng thể
hiện cụ thể luận điểm trên. Dưới chế độ cũ, quyền yêu cầu ly hôn và các
duyên cớ ly hôn theo luật định thường dựa trên quan hệ "bất bình đẳng" giữa
vợ và chồng. Hệ thống pháp luật nước ta về HN&GĐ từ năm 1945 đến nay
quy định vấn đề ly hôn với quan điểm tôn trọng, bảo vệ quyền tự do ly hôn
theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lê nin nhưng trên cơ sở lợi ích của gia đình
và xã hội.
Theo Luật HN&GĐ năm 2000, "Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn
nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng
hoặc của cả hai vợ chồng" [32, Khoản 8 Điều 8]. Như vậy, ly hôn là kết quả
của hành vi có ý chí của hai vợ chồng và được công nhận bằng bản án, quyết
định của Tòa án. Đảm bảo quyền tự do ly hôn cho các bên vợ chồng chính là nội
dung quan trọng của nguyên tắc hôn nhân tiến bộ được ghi nhận trong Hiến pháp
1992 và được cụ thể hóa tại Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2000. Pháp luật của Nhà
nước ta công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm
hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn là quyền
chính đáng của vợ, chồng. Nhà nước bằng pháp luật, không thể cưỡng ép nam
nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau thì cũng không thể bắt buộc họ phải chung
sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương đã hết
và mục đích hôn nhân không đạt được. Nhưng tự do ly hôn không có nghĩa là
ly hôn một cách tùy tiện, chỉ theo ý chí, nguyện vọng của vợ, chồng mà phải dựa
VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn thực chất
là đề cập đến quan hệ sở hữu của vợ chồng đối với tài sản khi ly hôn. Xuất
phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân khi vợ chồng vừa
là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, vừa là chủ thể của quan hệ
pháp luật HN&GĐ nói riêng khi thực hiện quyền sở hữu của mình và tham
gia vào các quan hệ xã hội, vấn đề "hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa
vợ chồng khi ly hôn" có thể xem xét dưới những đặc điểm riêng biệt sau:
18
Thứ nhất, xét về chủ thể: các bên chủ thể trong quan hệ phải có quan
hệ hôn nhân được pháp luật công nhận là vợ chồng của nhau bao gồm hôn
nhân hợp pháp (có Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn) và hôn nhân tuy không
có đăng ký nhưng vẫn được pháp luật công nhận (hay còn gọi là "hôn nhân
thực tế").
Thứ hai, căn cứ xác lập hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ
chồng khi ly hôn là sự kiện ly hôn. Chế độ tài sản giữa vợ và chồng là một đề
tài rất lớn với nhiều khía cạnh khác nhau, trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ
đề cập đến vấn đề hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản vợ chồng khi ly hôn,
vậy nên, căn cứ xác lập các quan hệ tài sản này là sự kiện ly hôn.
Thứ ba, về khách thể quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn: Mục
đích của việc quy định hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi
ly hôn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng hoặc bên thứ ba
liên quan khi vợ chồng ly hôn.
Thứ tư, nội dung hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi
ly hôn sẽ bao gồm quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng về quan hệ tài sản khi ly
hôn. Quan hệ này đặc biệt ở chỗ, khi ly hôn, các chủ thể không còn là vợ
khi đang còn trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng yêu thương nhau, họ có thể
sống tốt với sự chu cấp, giúp đỡ, chăm lo từ người bạn đời ngay cả khi bản
thân không có tài sản. Tuy nhiên, khi ly hôn, tình cảm vợ chồng không còn
nữa, vợ hoặc chồng phải tự lo cho mình. Lúc này, tài sản là vấn đề được cả vợ
và chồng quan tâm hàng đầu. Pháp luật HN&GĐ dự liệu điều này là hoàn
toàn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thực tế!
Thứ hai, việc dự liệu các quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ tài
sản giữa vợ chồng khi ly hôn là cơ sở để vợ chồng thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình, giúp định hướng cách xử sự của vợ chồng về tài sản khi
tiến hành ly hôn. Như trên đã nói, khi tình nghĩa vợ chồng không còn nữa thì
ngoài vấn đề con cái, vấn đề tài sản là vấn đề được các bên vợ chồng quan
tâm hàng đầu và thường xảy ra tranh chấp nhiều nhất. Vì vậy, việc pháp luật
HN&GĐ quy định cách xử sự của vợ chồng liên quan đến tài sản khi ly hôn
sẽ góp phần giảm thiểu tranh chấp xảy ra giữa vợ chồng.
Thứ ba, việc dự liệu các quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ tài
sản giữa vợ chồng khi ly hôn giúp đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi
20
giao dịch với vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Trong thời kỳ hôn nhân, nghĩa
vụ của một trong hai vợ chồng đối với người thứ ba nhằm mục đích phục vụ
nhu cầu và lợi ích của gia đình thì được coi là nghĩa vụ chung của cả hai vợ
chồng. Tuy nhiên, khi ly hôn, nghĩa vụ đó thuộc về ai? Ai là người có trách
nhiệm tiếp nhận những nghĩa vụ với người thứ ba mà đã hình thành trong thời
kỳ hôn nhân? Đây là một vấn đề mà pháp luật HN&GĐ cũng cần quy định
nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.
Thứ tư, việc dự liệu các quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ tài
sản giữa vợ chồng khi ly hôn tạo ra hành lang pháp lý làm cơ sở cho các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quan hệ tài sản
của người phụ nữ. Pháp luật thời kỳ này cũng có những quy phạm nhất định
điều chỉnh các quan hệ giữa vợ chồng khi ly hôn. Bên cạnh những quy định
về quan hệ nhân thân và con cái thì cổ luật Việt Nam cũng có những quy
phạm quy định về hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly
hôn. Nhìn chung, pháp luật thời kỳ này quy định "khi ly hôn, tài sản riêng của
ai vẫn thuộc sở hữu của người đó và họ có quyền mang theo" [39, Điều 401].
Tuy nhiên, cũng loại trừ một số trường hợp dựa trên yếu tố lỗi của người vợ
dẫn đến việc ly hôn như: do lỗi của người vợ hoặc khi người vợ có hành vi
đánh chồng dẫn đến việc người chồng phải thưa kiện xin ly hôn thì khi ly hôn,
người vợ sẽ mất quyền tài sản.
Nhìn chung, cổ luật Việt Nam vẫn được xây dựng trên tinh thần hôn
nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Nó thể hiện lễ
nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội - gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số
điểm tiến bộ. Một trong những điểm tiến bộ của pháp luật thời kỳ này chính là
khi quy định về quan hệ tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Một phần nào đó
trong các quy định trên vẫn hướng tới yếu tố bình đẳng hơn giữa vợ và chồng,
vẫn dành cho người vợ những quyền lợi nhất định về tài sản khi không may
"đường ai nấy đi". Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, bộ luật không thể tránh
khỏi những quy định đề cao vai trò người đàn ông trong gia đình, nhiều quy
định có lợi cho người gia trưởng, dẫn đến người phụ nữ trong các quan hệ gia
đình nói chung và trong quan hệ về tài sản khi ly hôn nói riêng vẫn có sự thiệt
thòi nhất định.
22
1.4.2. Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn
thời kì Pháp thuộc (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945)
Thời kì Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã lần lượt ban hành các văn
bản pháp luật mới: Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Dân luật Trung Kỳ năm 1936,
hội. Dù chưa thật rõ ràng và công bằng, song các quy định về hậu quả của ly
hôn thời kì này ít nhiều có những điểm tiến bộ mà khi xây dựng chế định ly
hôn, các đạo luật HN&GĐ ở nước ta sau này đều ghi nhận và phát triển thêm
như: vấn đề cấp dưỡng nuôi con, sau khi ly hôn vợ chồng muốn quay trở về
chung sống với nhau thì phải đăng kí kết hôn, vấn đề cấp dưỡng giữa vợ
chồng khi ly hôn.
1.4.3. Hậu quả pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn
ở miền Nam nước ta giai đoạn 1954 - 1975
Sau năm 1954, đế quốc Mỹ thay chân Pháp vào xâm lược nước ta, tiến
hành chính sách thực dân kiểu mới. Chế độ HN&GĐ được áp dụng ở miền
Nam trong giai đoạn này thể hiện qua 3 văn bản: Bộ luật gia đình (Luật số
1/59), Sắc luật số 15/64, BLDS Sài Gòn năm 1972. Mặc dù, ra đời vào các
thời điểm khác nhau, hình thức quy định cũng có nét riêng, song nhìn chung
các văn bản này đều quy định về vấn đề ly thân và ly hôn. Trong đó, việc giải
quyết hậu quả về quan hệ tài sản vợ chồng khi ly hôn chủ yếu dựa trên yếu tố
lỗi của các bên vợ chồng như người có lỗi phải cấp dưỡng cho người kia hay
người không có lỗi đương nhiên được nuôi con dưới 16 tuổi,…
Dưới thời Ngô Đình Diệm, Luật số 1/59 có những quy định về quyền
bình đẳng của người phụ nữ, người vợ trong gia đình, bãi bỏ chế độ đa thê
nhưng đạo luật này chỉ quy định về ly thân còn vấn đề ly hôn: "Cấm chỉ vợ
chồng ruồng bỏ nhau và sự ly hôn" [4, Điều 55], trừ trường hợp đặc biệt do
tổng thống quyết định. Do đó, không đặt ra vấn đề hậu quả của ly hôn nói
chung và vấn đề giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn nói riêng.
Sau khi chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Luật số 1/59
được thay thế bằng Sắc luật số 15/64. Sắc luật số 15/64 có quy định về vấn đề
ly hôn giữa vợ và chồng cũng như đường lối giải quyết ly hôn và hậu quả của
nó. Theo quy định của Sắc luật số 15/64, quan hệ vợ chồng chấm dứt bằng ly
hôn, vấn đề cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn được đặt ra nhưng
24
phản động tay sai. Vì vậy, các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ
25