nghiªn cøu - trao ®æi
57 T¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 TS. NguyÔn V¨n TuyÕn *
rong thực tiễn đời sống, các quan hệ
pháp luật trong hoạt động kinh doanh
bảo hiểm có thể phát sinh giữa một bên là
doanh nghiệp bảo hiểm với bên kia là tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình (với tư cách là
bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm hoặc
bên thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm). Đối với
trường hợp bên tham gia quan hệ bảo hiểm
là cá nhân hay hộ gia đình thì vấn đề sẽ trở
nên phức tạp hơn, bởi lẽ khi đó sẽ phát sinh
các quyền và nghĩa vụ liên đới giữa cá nhân
là vợ (hoặc chồng) trực tiếp tham gia quan
hệ bảo hiểm với cá nhân khác là chồng (hoặc
vợ) của người đó đối với doanh nghiệp bảo
hiểm. Tương tự, vấn đề này cũng sẽ đặt ra
nếu bên tham gia quan hệ bảo hiểm là hộ gia
đình, trong đó cả vợ và chồng đều đóng vai
trò là thành viên của hộ gia đình và có những
quyền, nghĩa vụ liên quan đến quan hệ bảo
hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm.
Nhận thức rõ đây là vấn đề phức tạp và
mua bảo hiểm được chỉ định là người thụ
hưởng quyền lợi bảo hiểm thì khi đó họ vừa
là người mua bảo hiểm đồng thời là người
thụ hưởng bảo hiểm.
Thực tiễn pháp lí cho thấy khi tham gia
quan hệ kinh doanh bảo hiểm vợ hoặc chồng
có thể tham gia hợp đồng bảo hiểm với một
trong hai tư cách khác nhau: Tư cách cá nhân
hoặc tư cách là đại diện cho hộ gia đình.
T
* Trường Đại học Luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 58
- Trường hợp thứ nhất: Nếu một bên (vợ
hoặc chồng) tham gia hợp đồng bảo hiểm
với tư cách cá nhân thì khi đó họ phải dùng
tài sản riêng của mỗi người để tự thực hiện
hợp đồng với bên bảo hiểm. Nếu người này
(vợ hoặc chồng) có ý định sử dụng tài sản
chung để thực hiện hợp đồng bảo hiểm thì về
nguyên tắc, việc sử dụng và định đoạt tài sản
chung của vợ chồng cần phải có sự thoả thuận
hoặc uỷ quyền bằng văn bản của người còn
lại, với tư cách là người đồng sở hữu. Trên
thực tế, khi bên mua bảo hiểm là vợ hoặc
chồng có sử dụng tài sản chung để thực hiện
hợp đồng bảo hiểm thì bên bảo hiểm hầu như
không quan tâm đến nguồn gốc của tài sản là
một trong hai người là đại diện kí kết) với tư
cách là bên mua bảo hiểm thì khi đó họ sẽ có
vị trí pháp lí ngang nhau trong việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ đối với bên bảo hiểm,
theo quy định tại Điều 18 Luật kinh doanh
bảo hiểm.
(2)
2. Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ
chồng khi tham gia quan hệ kinh doanh
bảo hiểm với tư cách là người được bảo hiểm
Trong quan hệ kinh doanh bảo hiểm,
người được bảo hiểm là là tổ chức, cá nhân có
tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được
bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm.
(3)
Theo
quy định của pháp luật, người được bảo hiểm
có thể đồng thời là người thụ hưởng quyền lợi
bảo hiểm, tuỳ thuộc vào từng loại hình bảo
hiểm và từng quan hệ bảo hiểm cụ thể. Ví dụ:
A mua bảo hiểm cho tài sản của mình và chỉ
định trong hợp đồng bảo hiểm rằng chính
mình sẽ là người thụ hưởng số tiền bồi thường
bảo hiểm, nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm. Trong
trường hợp này, A vừa là người mua bảo
hiểm đồng thời cũng chính là người được chỉ
định thụ hưởng số tiền bảo hiểm do bên bảo
hiểm chi trả khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Trong thực tiễn pháp lí, có nhiều ví dụ
th ba b thit hi nu hp ng bo him
trỏch nhim dõn s quy nh rng bờn bo
him ch tr tin bi thng trc tip cho
ngi c bo him, ch khụng tr cho
ngi th ba b thit hi.
(6)
Trong trng hp
ú, khon tin bi thng thit hi do bờn
bo him chi tr c xem l thu nhp chung
ca v chng v c nhp vo khi ti sn
chung ca v chng. Khi ti sn chung ny,
v nguyờn tc s c v v chng tho
thun thc hin mi ngha v chung ca
hai ngi, trong ú cú ngha v i vi
ngi th ba b thit hi. Nu khi ti sn
chung khụng thc hin ngha v chung
ca v chng thỡ mi bờn v v chng (vi
t cỏch l nhng thnh viờn ca h gia ỡnh)
s phi liờn i chu trỏch nhim thc hin
cỏc ngha v chung ú bng ti sn riờng ca
mi ngi.
(7)
3. Quyn v ngha v ti sn ca v
chng khi tham gia quan h kinh doanh
bo him vi t cỏch l ngi th hng
quyn li bo him
Trong quan h kinh doanh bo him,
ngi th hng quyn li bo him c
hiu l t chc, cỏ nhõn c nhn tin bo
phỏp lut dõn s v phỏp lut hụn nhõn gia ỡnh. nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 60
Xét dưới góc độ pháp luật dân sự, khi cá
nhân bên vợ hoặc bên chồng đóng vai trò là
người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm thì về
nguyên tắc, khoản tiền bảo hiểm mà người đó
nhận được từ công ti bảo hiểm sẽ được coi là
thu nhập riêng và là tài sản riêng của cá nhân
người đó, chứ không phải là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp người đó đồng ý
nhập vào khối tài sản chung. Quy định này
dựa trên lí thuyết tôn trọng tối đa quyền tự
định đoạt của cá nhân trong giao dịch dân sự.
Xét dưới góc độ của luật hôn nhân và gia
đình, với nền tảng cơ bản là chế độ cộng đồng
tài sản thì mọi tài sản do vợ, chồng tạo ra hay
có được trong thời kì hôn nhân, bất kể do
công sức của ai, đều được coi là tài sản chung
của vợ chồng. Nếu theo nguyên tắc này thì
khối tài sản chung của vợ chồng cũng sẽ bao
gồm cả các khoản tiền bảo hiểm mà vợ,
chồng nhận được trong thời kì hôn nhân. Khi
đó, họ có quyền ngang nhau trong việc chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt đối với khoản tiền
này, với tư cách là tài sản chung của vợ
chồng.
(8)
thực hiện quyền yêu cầu bên bảo hiểm chi trả
tiền bảo hiểm, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,
theo ý chí của bên mua bảo hiểm.
(9)
4. Những khó khăn, vướng mắc trong
việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng khi tham gia quan hệ kinh doanh
bảo hiểm và hướng giải quyết, khắc phục
Kinh doanh bảo hiểm là lĩnh vực kinh
doanh đặc thù, có sự tham gia của nhiều loại
chủ thể khác nhau và đều gắn với những
quyền, nghĩa vụ tài sản của các chủ thể đó.
Vì vậy, nếu không xác định rõ mỗi loại chủ
thể có những quyền và nghĩa vụ tài sản gì
khi tham gia quan hệ kinh doanh bảo hiểm
và các quyền, nghĩa vụ tài sản đó liên quan
đến khối tài sản nào thì việc thực hiện chúng
sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Thực tế cho thấy rằng có khá nhiều khó
khăn, vướng mắc và rắc rối xảy ra trong
việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng khi tham gia quan hệ kinh doanh
bảo hiểm. Ở mức độ khái quát, có thể hình nghiªn cøu - trao ®æi
61 T¹p chÝ luËt häc sè 8/2011
dung những khó khăn, vướng mắc và rắc rối
này được thể hiện trên những khía cạnh chủ
sản chung của vợ chồng hoặc tách riêng tài
sản thừa kế với khối tài sản chung thì việc
xác định khoản tiền bảo hiểm là tài sản riêng
của bên vợ hay bên chồng hay thuộc khối tài
sản chung là điều rất khó khăn, rắc rối và có
thể dễ dàng dẫn đến tranh chấp.
Để khắc phục các khó khăn và vướng
mắc về vấn đề này, theo ý kiến chúng tôi,
pháp luật cần có những quy định cụ thể, rõ
ràng và hợp lí về các tiêu chí cũng như cơ
chế xác định tài sản chung và tài sản riêng
của vợ, chồng. Cụ thể là:
Về tiêu chí, có thể dựa vào một trong hai
tiêu chí sau đây để xác định tài sản chung và
tài sản riêng của vợ, chồng:
- Nguồn gốc hình thành tài sản: Nếu tài
sản do cả hai bên cùng tạo ra hoặc được
hưởng chung trước khi kết hôn, không được
các bên phân chia thành tài sản riêng của
mỗi người cho đến thời điểm kết hôn thì đó
là tài sản chung của vợ chồng. Ngoài ra, các
tài sản được các bên tạo ra hoặc được cho
chung trong thời kì hôn nhân cũng đương
nhiên được coi là tài sản chung của vợ
chồng. Còn nếu tài sản do một bên tạo ra
hoặc được hưởng riêng ngoài thời kì hôn
nhân thì đó là tài sản riêng của người đó.
- Ý chí của các bên vợ và bên chồng:
Nếu một bên vợ hoặc chồng đồng ý nhập tài
sản riêng của mỗi người vào khối tài sản
pháp luật về tư cách chủ thể của vợ chồng khi
tham gia quan hệ kinh doanh bảo hiểm cũng
là khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực
thi quyền, nghĩa vụ tài sản của chủ thể này.
Thực tế cho thấy khi tham gia vào quan
hệ kinh doanh bảo hiểm, thông thường chỉ
bên vợ hoặc bên chồng đứng tên kí kết hợp
đồng bảo hiểm nhưng sau đó các quyền và
nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hợp đồng bảo
hiểm lại có thể liên quan đến khối tài sản
chung của cả hai vợ chồng. Vậy, trong
trường hợp này thì bên vợ hoặc bên chồng
đứng tên kí kết hợp đồng bảo hiểm với tư
cách cá nhân hay với tư cách là người đại
diện cho hộ gia đình? Điều này đôi khi chính
các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng bảo
hiểm cũng không xác định rõ. Còn đối với
những người nghiên cứu pháp luật và áp
dụng pháp luật như các luật gia, luật sư hay
thẩm phán thì trên thực tế cũng khó có thể
tìm được câu trả lời thoả đáng nếu căn cứ
vào các quy định hiện hành của pháp luật,
đặc biệt là pháp luật dân sự. Rõ ràng, đây
cũng là khiếm khuyết rất đáng lưu ý của
pháp luật, dẫn đến những khó khăn, vướng
mắc cho các bên có liên quan trong quá trình
áp dụng và thực thi pháp luật, trong đó có
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản
của vợ chồng khi tham gia quan hệ kinh
doanh bảo hiểm.
là người đại diện hợp pháp cho hộ gia đình nghiªn cøu - trao ®æi
63 T¹p chÝ luËt häc sè 8/2011
để kí kết hợp đồng bảo hiểm. Trong trường
hợp như vậy, hợp đồng bảo hiểm sẽ có giá trị
ràng buộc đối với hộ gia đình và mọi thành
viên trong hộ gia đình đều có quyền, nghĩa
vụ liên đới với nhau trong việc thực hiện hợp
đồng bảo hiểm.
Hai là về khía cạnh tài sản, nếu một bên
vợ hoặc chồng tham gia kí kết hợp đồng bảo
hiểm và sau đó người này sử dụng khối tài
sản chung của vợ chồng để thực hiện hợp
đồng bảo hiểm, trên cơ sở có sự đồng thuận
của người còn lại thì khi đó có thể xem như
họ đã kí kết hợp đồng bảo hiểm với tư cách
là đại diện cho hộ gia đình. Ngược lại, nếu
một bên vợ hoặc chồng tự ý sử dụng khối tài
sản chung để thực hiện hợp đồng bảo hiểm
do mình đứng tên kí kết nhưng có bằng
chứng về việc người còn lại (chồng hoặc vợ)
không đồng ý với cách hành xử như vậy thì
khi đó có thể xem như người đứng tên kí kết
hợp đồng bảo hiểm là với tư cách cá nhân.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến trường hợp
đặc thù là nếu người còn lại (chồng hoặc vợ)
không có khả năng nhận thức và điều khiển
hành vi của mình nên không thể bày tỏ ý chí
hiểm, sau đó người này được bên bảo hiểm
chi trả khoản tiền bồi thường bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm. Vậy, có thể coi
khoản tiền bảo hiểm này là tài sản chung
của hai vợ chồng hay chỉ là tài sản riêng của
bên vợ hoặc bên chồng đã kí kết hợp đồng
bảo hiểm? Như đã phân tích ở phần trên,
nếu xét từ góc độ của pháp luật dân sự thì
khoản tiền bảo hiểm sẽ được coi là tài sản
riêng của bên vợ hoặc bên chồng - vốn dĩ là
người được chỉ định thụ hưởng số tiền bảo
hiểm, theo hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên,
nếu xét từ góc độ của pháp luật hôn nhân và
gia đình thì mọi tài sản được tạo ra trong
thời kì hôn nhân, bất luận do công sức của
ai, đều được coi là tài sản chung của hai vợ
chồng. Sự quy định khác biệt này có thể là
căn nguyên dẫn đến tranh chấp giữa vợ và
chồng về quyền sở hữu tài sản, nếu giữa họ nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 64
đã xảy ra chuyện “cơm chẳng lành, canh
không ngọt”. Đành rằng về nguyên tắc thì
luật dân sự là luật chung, còn luật hôn nhân
và gia đình là luật chuyên ngành nên sẽ
chiếu theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật
chuyên ngành khi giải quyết các vấn đề
pháp lí nhưng việc quy định khác nhau như
bởi Luật số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010).
(4). Cần lưu ý rằng quyền hưởng lợi của người được
bảo hiểm ở đây không phải là quyền năng pháp lí của
chủ thể tham gia hợp đồng, bởi lẽ người được bảo hiểm
không phải là một chủ thể của hợp đồng bảo hiểm mà
chỉ là người thứ ba có quyền lợi liên quan. Điều này
cũng cho thấy rằng người được bảo hiểm không thể
viện dẫn trực tiếp các điều khoản của hợp đồng bảo
hiểm để yêu cầu bên bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ bồi
thường cho mình khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
(5). Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm,
người được bảo hiểm có một số nghĩa vụ như: Nghĩa
vụ chuyển cho doanh nghiệp bảo hiểm quyền yêu cầu
bồi hoàn đối với người thứ ba gây thiệt hại, sau khi
người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường tổn thất
từ doanh nghiệp bảo hiểm (Điều 49); nghĩa vụ thực
hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn
lao động, vệ sinh lao động và những quy định khác
của pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm an toàn cho
đối tượng bảo hiểm (khoản 1 Điều 50); người được
bảo hiểm không được từ bỏ tài sản bảo hiểm khi xảy
ra tổn thất cho tài sản, trừ trường pháp luật có quy
định hoặc các bên có thoả thuận khác (Điều 51).
(6). Theo quy định tại Điều 57 Luật kinh doanh bảo
hiểm, người được bảo hiểm có thể yêu cầu bên bảo
hiểm trực tiếp trả tiền bồi thường thiệt hại cho mình,
hoặc trả cho người thứ ba bị thiệt hại và thoả thuận đó
phải được ghi vào hợp đồng bảo hiểm. Ngoài nghĩa
vụ này, đôi khi người được bảo hiểm còn phải thực