1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ CHIÊM
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan
HÀ NỘI - 2013
3
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA Lời cam đoan MỤC LỤC MỞ ĐẦU
1
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
15
1.4.
Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong pháp luật
Việt Nam qua các thời kỳ
20
1.4.1.
Pháp luật thời kỳ phong kiến
20 4
1.4.2.
Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc
22
1.4.3.
Pháp luật thời kỳ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến
nay
26
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
32
2.1.
Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
32
2.1.1.
Vợ chồng bình đẳng trong quyền sở hữu tài sản chung
32
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
67
3.1.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
67
3.1.1.
Nhận xét chung
67
3.1.2.
Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy
68 5
định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân
3.2.
Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền và
nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
80
3.2.1.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân
80
3.2.2.
Một số kiến nghị về thực hiện và áp dụng các quy định về
kinh doanh này vợ chồng có thể sử dụng tài sản chung hoặc tài sản riêng của
mình để tham gia vào các giao dịch đó. Trong nhiều trường hợp, do nhu cầu
kinh doanh vợ chồng có thể chia tài sản chung để một bên đầu tư kinh doanh
riêng. Do vậy quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với nhau và với bên
thứ ba có quan hệ tài sản với vợ chồng trong những trường hợp này là khác
nhau. Việc xác định đúng đắn quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng không
những đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên mà còn tránh xảy ra
những mâu thuẫn, tranh chấp không đáng có.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định tương đối cụ thể về
quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên
trong điều kiện kinh tế xã hội có nhiều biến đổi như hiện nay, các quy định 7
của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đã bộc lộ nhiều bất cập,
vướng mắc. Các quy định này chưa phản ánh được trạng thái "vận động" của
các loại tài sản của vợ chồng tham gia giao lưu dân sự và hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường và hội nhập ngày nay, vợ
chồng ngày càng có nhiều cơ hội, điều kiện tham gia một cách năng động,
linh hoạt vào các hoạt động đa dạng của nền kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận,
tăng thu nhập cho cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần vào sự tăng trưởng
nền kinh tế quốc dân.
Do vậy việc nghiên cứu vấn đề quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ
chồng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, thiết thực. Nó luôn là vấn đề có tính thời
sự cấp thiết trong thực tế đời sống vợ chồng. Với đề tài "Quyền và nghĩa vụ
về tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân" luận văn góp phần làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng. Đồng thời
qua phân tích, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật luận văn chỉ rõ những
điểm còn bất cập, vướng mắc, chưa thống nhất của các quy định pháp luật
hiện hành điều chỉnh vấn đề này. Từ đó đưa ra những đề xuất nhằm sửa đổi,
+ Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về
quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng, đánh giá thực trạng các quy định của
pháp luật về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của
pháp luật về vấn đề này.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài "Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân" luận văn chỉ nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp
dụng pháp luật về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng phát sinh trong thời
kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Do đó một số vấn đề 9
về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng như vấn đề cấp dưỡng giữa vợ
chồng khi ly hôn, vấn đề thừa kế tài sản giữa vợ chồng khi một bên vợ hoặc
chồng chết trước không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn vì những
quyền và nghĩa vụ này phát sinh khi hôn nhân đã chấm dứt. Đồng thời để làm
rõ vấn đề nghiên cứu, luận văn có so sánh, đối chiếu với các văn bản pháp
luật trước đây của nước ta và các văn bản pháp luật của một số nước về vấn
đề này. Qua đó luận văn chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong các quy định
của pháp luật hiện hành để làm cơ sở cho những đề xuất nhằm hoàn thiện các
quy định của pháp luật về vấn đề này.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Ngoài ra trong quá trình nghiên
cứu đề tài, những phương pháp nghiên cứu cụ thể như: So sánh, phân tích,
tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài
đặt ra.
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1.1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân
* Khái niệm thời kỳ hôn nhân
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: Thời kỳ
hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký
kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân bắt đầu từ khi vợ
chồng kết hôn và kết thúc khi hôn nhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn; do vợ,
chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Trong trường hợp vợ chồng ly
hôn hoặc vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì hôn nhân chấm dứt kể từ
ngày bán án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Việc xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp đặc biệt: Nam nữ
sống chung như vợ chồng thì theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 và thông
tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định như sau:
Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 sau đó mới đăng
ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được công nhận đã xác lập kể từ ngày
họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng mà không phải từ ngày đăng
ký kết hôn.
Nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001
mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì
có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật Hôn nhân 12
và gia đình năm 2000 có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003. Trong thời hạn này
mà họ không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các
quy định về ly hôn để giải quyết. Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký
đình. Bởi bên cạnh tình cảm là yếu tố có từ trước hôn nhân thì việc phát sinh
và thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ và chồng là hệ quả tất
yếu sau hôn nhân. Các quyền và nghĩa vụ tài sản này là cơ sở kinh tế bảo đảm
cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội. Ngoài ra các quyền và nghĩa
vụ đó còn nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất của vợ chồng, bảo đảm cho
vợ chồng thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân với nhau và thực
hiện tốt các quyền và nghĩa vụ đối với con cái cũng như các thành viên khác
trong gia đình.
Thông qua các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà vợ, chồng biết được các quyền cũng như
trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội, từ đó có các xử sự phù hợp
để đảm bảo cho những lợi ích chung của gia đình cũng như của cá nhân mình.
Từ những phân tích trên có thể hiểu khái niệm quyền và nghĩa vụ tài
sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo nghĩa khách quan và chủ quan
như sau:
Theo nghĩa khách quan: Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân là khả năng vợ, chồng có quyền và có nghĩa vụ liên
quan đến tài sản của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhằm đảm
bảo cho vợ chồng thực hiện được các chức năng của gia đình trong thời kỳ
hôn nhân.
Theo nghĩa chủ quan: Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân là những quyền và nghĩa vụ mà vợ chồng được pháp luật
cho phép thực hiện bằng hành vi của mình trong thời kỳ hôn nhân liên quan
đến những lợi ích về tài sản nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển của gia đình
trong đời sống xã hội cũng như đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng về tài sản
của vợ chồng và quyền, lợi ích về tài sản của người khác có giao dịch với vợ 14
chồng trong thời kỳ hôn nhân.
chồng. Nếu tài sản chung của vợ chồng không đủ chi dùng thì vợ chồng nếu
có tài sản riêng phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng để đảm bảo cho các
nhu cầu thiết yếu của gia đình. Đối với các giao dịch do một bên vợ hoặc
chồng thực hiện với người khác nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt
thiết yếu của gia đình thì phát sinh trách nhiệm liên đới của cả vợ và chồng
đối với giao dịch đó. Đặc điểm này xuất phát từ mục đích đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của gia đình, gia đình phát triển bền vững, hạnh phúc là cơ sở để
đảm bảo an sinh xã hội.
- Về nguyên tắc quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng là do pháp
luật quy định do vậy vợ chồng không thể thỏa thuận thay đổi được trừ trường
hợp được pháp luật quy định. Khác với quan hệ tài sản trong dân sự, các bên
có thể tự do thỏa thuận các quyền và nghĩa vụ của mình một cách linh hoạt
miễn sao nó không trái với các quy định của pháp luật, còn trong quan hệ hôn
nhân và gia đình quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng luôn bị chi phối
trước tiên bởi lợi ích chung của gia đình, của các con. Do vậy các quyền và
nghĩa vụ tài sản của vợ chồng không chỉ liên quan đến bản thân vợ, chồng mà
còn liên quan đến gia đình, đến các con nên vợ chồng không thể tự ý thỏa
thuận thay đổi nếu pháp luật không có quy định.
- Khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng có thể bị
hạn chế trong một số trường hợp nhất định như trường hợp tài sản riêng của
vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản
riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng
đó phải có sự thỏa thuận của cả vợ chồng. Đặc điểm này xuất phát từ tính
chất, mục đích của quan hệ hôn nhân, đó là xây dựng gia đình hạnh phúc luôn
có sự đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia 16
đình. Đây cũng là nguyên tắc chung trong việc bảo vệ lợi ích của gia đình, lợi
ích của người thứ ba có giao dịch về tài sản với vợ, chồng.
các hoạt động đầu tư, kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận thỏa mãn các nhu
cầu của cá nhân hay vì lợi ích chung của gia đình. Khi tham gia vào các giao
dịch này đã làm phát sinh nhiều nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, đó có thể là
nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của vợ chồng. Bên tham gia giao dịch tài
sản với vợ chồng cũng cần phải xác định được nghĩa vụ mà vợ chồng phải
thực hiện được đảm bảo bằng tài sản chung hay tài sản riêng của một bên vợ
chồng để hạn chế những tranh chấp xảy ra, và đó cũng là cơ sở để pháp luật
điều chỉnh quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Thứ ba: Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong mỗi giai đoạn,
mỗi thời kỳ lịch sử
Đời sống kinh tế - xã hội ngày càng phát triển kéo theo các quy định
của pháp luật điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong thực tế cuộc sống cũng
phải được thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp.
Trước đây, trong thời kỳ phong kiến quan hệ vợ chồng luôn thể hiện
sự bất bình đẳng, người vợ luôn phải phụ thuộc và phục tùng người chồng về
mọi mặt. Các quy định của pháp luật được ban hành chủ yếu bảo vệ quyền lợi
của người đàn ông, người chồng trong gia đình. Đến thời kỳ xã hội chủ nghĩa
vợ chồng đã được bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình, trong đó có
các quyền và nghĩa vụ về tài sản. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế các
vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng ngày càng phát
sinh đa dạng và phức tạp. Do vậy pháp luật cần có những dự liệu cụ thể để
điều chỉnh vấn đề này.
Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của đất nước mà các quyền và
nghĩa vụ tài sản của vợ chồng được pháp luật quy định có sự khác nhau tùy
thuộc vào quan điểm, chính sách pháp lý của nhà nước và điều kiện kinh tế -
xã hội trong mỗi thời kỳ. 18
Thứ tƣ: Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
dùng để đáp ứng những nhu cầu vật chất của gia đình. Pháp luật quy định việc
sử dụng tiền bạc, tài sản của vợ chồng nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia
đình thì trường hợp nào cần có sự bàn bạc, thỏa thuận và đồng ý của bên vợ
hoặc chồng kia, trường hợp nào được coi là đã có sự thỏa thuận mặc nhiên
của cả hai vợ chồng khi chỉ một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch với
người khác. Ngoài ra trong một số trường hợp vì lợi ích chung của gia đình
mà việc định đoạt tài sản riêng của vợ hay chồng cũng cần có sự thỏa thuận,
bàn bạc của người kia. Các quy định này chính là cơ sở đảm bảo cho các lợi
ích chung của gia đình, từ đó đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia
đình.
- Đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của mỗi bên vợ chồng: Chế định
quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng tạo cơ sở pháp lý để phân định rõ
ràng quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên vợ chồng trong quản lý, sử dụng
và định đoạt tài sản trong gia đình. Đồng thời nó tạo điều kiện để vợ chồng
chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự và thương mại, bảo đảm thỏa
mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình cũng như
của cá nhân vợ, chồng. Quy định rõ quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng là
cơ sở pháp lý để bảo vệ các lợi ích chính đáng về tài sản của mỗi bên vợ
chồng và là cơ sở thực hiện bình đẳng giới giữa vợ chồng trong quan hệ tài
sản.
- Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba có giao dịch tài
sản với vợ chồng: Khi xác lập các giao dịch dù bằng tài sản chung hay tài sản
riêng, vì mục đích chung của gia đình hay cá nhân vợ, chồng đều làm phát
sinh các hậu quả pháp lý với người thứ ba tham gia giao dịch. Do vậy người
thứ ba tham gia giao dịch tài sản với vợ, chồng cần phải biết trường hợp nào
giao dịch đó được bảo đảm thực hiện từ tài sản chung của vợ chồng, trường
hợp nào được bảo đảm thực hiện bằng tài sản riêng để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của chính mình. Việc quy định quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ
21
chồng? Việc xác định nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của vợ, chồng có ý
nghĩa vô cùng quan trọng, bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ,
chồng mà còn ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba có
quan hệ tài sản với vợ, chồng.
Trong thời kỳ hôn nhân, do tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân
chi phối nên việc xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ chồng phải
xem xét một cách tổng thể, toàn diện, có sự liên hệ hữu cơ với mục đích và sự
thể hiện ý chí định đoạt tài sản của vợ, chồng. Để có thể xác định chính xác
nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng cần dựa vào các căn
cứ sau:
Thứ nhất: Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của vợ chồng khi thực hiện
các giao dịch
Khi thực hiện các giao dịch dân sự, thương mại sự thể hiện ý chí của
vợ chồng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm tài
sản của vợ chồng đối với hậu quả pháp lý của giao dịch đó. Khi tham gia vào
các giao dịch vợ chồng có thể cùng nhau tham gia hoặc chỉ một bên vợ hoặc
chồng thực hiện giao dịch đó. Đối với trường hợp vợ chồng cùng tham gia các
giao dịch dân sự, thương mại thì trách nhiệm cũng như quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng về tài sản được xác định theo nguyên tắc chung là trách nhiệm,
nghĩa vụ chung của cả vợ và chồng. Tuy nhiên trong trường hợp một bên vợ
hoặc chồng thực hiện các giao dịch đó thì việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ
tài sản của vợ chồng có sự khác biệt, nó có thể là nghĩa vụ riêng hay nghĩa vụ
chung tùy thuộc vào sự thể hiện ý chí của vợ chồng đối với giao dịch đó.
Thông thường ý chí của vợ chồng đối với các giao dịch được thể hiện dưới
hai hình thức đó là có sự thỏa thuận và không có sự thỏa thuận giữa vợ và
chồng.
- Trường hợp có sự thỏa thuận của vợ chồng: Trong đời sống thực tế
vì điều kiện hoàn cảnh hay vì lý do nào đó mà vợ chồng có thể thỏa thuận để
23
giao dịch liên quan đến tài sản chung của hai vợ chồng mà theo quy định của
pháp luật cần phải có sự thể hiện ý chí của cả hai vợ chồng. Khi một bên vợ
hoặc chồng thực hiện giao dịch này thì sẽ làm phát sinh trách nhiệm, nghĩa vụ
tài sản chung của cả hai vợ chồng, có nghĩa là vợ chồng cùng phải chịu trách
nhiệm bằng tài sản chung của mình.
Đối với trường hợp vợ hoặc chồng ủy quyền cho nhau thực hiện các
giao dịch liên quan đến tài sản riêng thì các giao dịch do một bên vợ hoặc
chồng thực hiện theo ý chí của bên ủy quyền sẽ làm phát sinh các quyền,
nghĩa vụ về tài sản của bên ủy quyền, tức là người ủy quyền phải chịu trách
nhiệm cá nhân về hậu quả của giao dịch bằng tài sản riêng của mình.
- Trường hợp không có sự thỏa thuận của vợ chồng: Khi vợ hoặc chồng
xác lập các giao dịch mà không có sự thỏa thuận, nhất trí của người kia thì về
nguyên tắc giao dịch đó chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ tài sản riêng của
người đã xác lập giao dịch. Tuy nhiên trong một số trường hợp vì lợi ích chung
và nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình mà các giao dịch
hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện không cần có sự thỏa thuận
của phía bên kia vẫn làm phát sinh trách nhiệm liên đới về tài sản của vợ
chồng.
Thứ hai: Căn cứ vào mục đích xác lập giao dịch
Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng phải thực hiện rất nhiều các giao
dịch dân sự, thương mại nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của
gia đình cũng như của cá nhân vợ hay chồng. Tùy thuộc vào mục đích xác lập
các giao dịch đó mà quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong mỗi trường
hợp là khác nhau.
Đối với những giao dịch do vợ chồng thực hiện xuất phát từ lợi ích
chung nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì sẽ làm
phát sinh nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, các nghĩa vụ tài sản phát
25
Khi tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại vợ chồng có thể sử
dụng tài sản chung hay tài sản riêng của cá nhân mình. Do vậy quyền và
nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong các trường hợp này là khác nhau.
- Đối với trường hợp tài sản tham gia giao dịch là tài sản chung của
vợ chồng: Khi vợ hoặc chồng thực hiện các giao dịch bằng tài sản chung của
mình mà có sự thỏa thuận và đồng ý của phía người vợ, người chồng kia thì
giao dịch đó sẽ làm phát sinh trách nhiệm tài sản chung của vợ chồng. Còn
nếu việc thực hiện giao dịch bằng tài sản chung mà không có sự thỏa thuận
của hai vợ chồng thì người vợ hoặc chồng xác lập giao dịch phải chịu trách
nhiệm bằng tài sản riêng của mình đối với hậu quả pháp lý của giao dịch đó,
trừ trường hợp giao dịch đó được thực hiện hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt thiết yếu của gia đình.
- Đối với trường hợp tài sản tham gia giao dịch là tài sản riêng của vợ
hay chồng: Pháp luật quy định vợ chồng có tài sản riêng, đối với tài sản riêng
của mình vợ chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trừ một số
trường hợp do pháp luật quy định. Khi vợ hoặc chồng sử dụng tài sản riêng
của mình tham gia vào các giao dịch thì người vợ hoặc chồng xác lập giao
dịch sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân về hậu quả pháp lý của giao dịch bằng
tài sản riêng của mình.
Như vậy tùy thuộc vào tính chất, mục đích của giao dịch, sự thể hiện ý
chí của vợ chồng hay tài sản tham gia giao dịch mà xác định được nghĩa vụ
tài sản chung hay nghĩa vụ tài sản riêng của vợ chồng.
1.4. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
1.4.1. Pháp luật thời kỳ phong kiến
Trong cổ luật Việt Nam, bộ Quốc triều Hình Luật còn gọi là Bộ luật
Hồng Đức ban hành dưới thời nhà Lê và Hoàng Việt Luật lệ còn gọi là Bộ