1
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------
NINH THỊ NHUNG
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ
HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM
2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội – 2015
2
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-----------------
NINH THỊ NHUNG
Lớp: 3621
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ
HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM
2014
Chuyên ngành: Luật Hôn nhân và gia đình
Hôn nhân và gia đình
HĐTP
Hội đồng Thẩm phán
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và
gia đình
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
i
. Khái niệm, đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân
1.2.1 Khái niệm
1.2.2 Đặc điểm
1.3. Sự cần thiết của việc quy định chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân.
1.4. Khái quát về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân qua các thời kì theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.4.1. Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân trước khi có Luật hôn nhân gia đình 2014.
1.4.2 Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân khi có Luật hôn nhân và gia đình 2014 đến nay.
Chương 2: CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH 2014
2.1. Điều kiện để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
hôn nhân.
2.1.1 . Vợ, chồng có yêu cầu về việc chia tài sản chung.
2.1.2. Việc chia tài sản chung phải có lý do chính đáng
6
2.2. Các nguyên tắc về phân chia tài sản chung và thanh toán
nghĩa vụ trong thời kỳ hôn nhân.
2.3 Hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân
2.4. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân.
chỉnh hợp lý các quan hệ hôn nhân và gia đình, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm đến vấn đề này. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, Nhà nước điều chỉnh chế
định tài sản của vợ chồng trong đó có việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân cho phù hợp với tình hình phát triển chung của xã hội, nhằm tạo
môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và
hạnh phúc.
8
Ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, chế định tài sản của vợ chồng
nói chung và việc chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng được pháp luật
HN&GĐ của Nhà nước ta quy định với những cách tiếp cận khác nhau. Kế thừa
và phát triển các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân của Luật HN&GĐ năm 1986, 2000, luật HN&GĐ năm 2014 có nhiều điểm
mới, phù hợp với tình hình phát triển chung hiện nay. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý
cho vợ, chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng, làm ổn
định các quan hệ xã hội. Để góp phần làm rõ hơn quy định của Luật HN&GĐ
mới về vấn đề này và cũng để nêu ra một số khó khăn, vướng mắc cần có quy
định, hướng dẫn cụ thể hơn để bảo đảm thống nhất trong nhận thức, xây dựng và
áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đề
tài mà Luận văn đề cập đến là: “ Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”.
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài.
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐ đã
có nhiều bài viết về tài sản chung của vợ chồng trên Tạp chi Luật học, Tạp chí
TAND, Tạp chí pháp luật…đề cập đến những khía cạnh khác nhau về tài sản của
giải quyết được, tác giả đưa ra một số kiến nghị để quy định của Luật HN&GĐ
2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân đi vào cuộc
sống.
Với mục đích trên, Luận văn được thực hiện với các nhiệm vụ:
Từ các quy định của pháp luật hiện hành, Luận văn làm sáng tỏ các điều
kiện, nguyên tắc, hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kì hôn nhân và việc khôi phục lại chế độ tài sản của vợ chồng sau khi chia
tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Đồng thời qua việc phân tích nội dung của
quy định pháp luật HN&GĐ về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì
10
hôn nhân, Luận văn cũng đưa ra một số giải pháp để quy định của Luật HN&GĐ
2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân đi vào thực tiễn.
Tìm hiểu thực tiễn áp dụng về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân của ngành Tòa án từ khi áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000 cho đến
khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành. Qua đó, đánh giá được những thành
tựu đã đạt được và những hạn chế của việc áp dụng pháp luật về chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích
nội dung và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hiện hành, Luận văn có
đưa ra một số giải pháp để nâng cao tính khả thi trong quá trình áp dụng quy
định của pháp luật HN&GĐ 2014 về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hôn nhân.
Từ những nhiệm vụ trên, Luận văn được nghiên cứu chủ yếu trong phạm
vi Luật thực định quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn
nhân.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở của phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của lý luận chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những hạn chế và
thiếu sót khi thực hiện khóa luận này. Kính mong thầy, cô đóng góp ý kiến để
bài Luận văn của em được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
12
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN VÀ CHIA
TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN NHÂN.
1. 1 Khái niệm, đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng.
1.1.1 Khái niệm.
Hôn nhân là cơ sở quan trọng hình thành gia đình - đơn vị xã hội cơ bản,
thực hiện những chức năng cơ bản như: duy trì nòi giống, bảo đảm cuộc sống
cộng đồng chung giữa các thành viên, hình thành, phát triển nhân cách, năng lực
cá nhân, thực hiện chức năng kinh tế… Để thực hiện được các chức năng xã hội
cơ bản này, bên cạnh yếu tố tình cảm, trách nhiệm nhân thân thì cũng cần phải
bảo đảm những điều kiện vật chất nhất định. Do đó, bên cạnh các quy định về
quyền nhân thân, chế độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm
như là một trong các chế định cơ bản, quan trọng nhất của pháp luật HN&GĐ.
Theo đó, vợ, chồng trước hết với tư cách là công dân có quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Sau khi kết hôn,
13
been cạnh bảo đảm quyền sở hữu riêng đối với tài sản, thì tài sản của vợ, chồng
cũng phải được quản lý, sử dụng và định đoạt vì lợi ích chung của gia đình.
Tài sản theo nghĩa từ điển học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích
nghĩa, vai trò của tài sản trong đời sống hôn nhân và gia đình, bởi lẽ:
Thứ nhất, do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập. Kể
từ khi nam, nữ kết hôn trở thành vợ chồng họ cùng nhau chung sống, cùng nhau
gánh vác công việc chung của gia đình, cùng nhau tạo dựng tài sản chung… Do
đó, muốn đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của gia đình về tinh thần và vật chất;
để thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, giúp đỡ lẫn nhau…thì cần
phải có tài sản của vợ chồng. Mặt khác, bên cạnh đời sống tình cảm, yêu thương
gắn bó giữa vợ chồng, không thể không nói đến vấn đề tài sản của vợ chồng.
Chính vì vậy, để đảm bảo đời sống chung của gia đình, đáp ứng các nhu cầu về
vật chất, tinh thần của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con cái… thì trong
suốt thời kì hôn nhân, vợ chồng không chỉ bó hẹp trong quan hệ gia đình mà còn
phải trao đổi, quan hệ giao dịch với nhiều người khác. Từ thực tế, có thể thấy chế
độ tài sản của vợ chồng được áp dụng thường xuyên, hàng ngày, từ việc người
vợ đi chợ mua lương thực, thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày
đến những việc kinh doanh, buôn bán, mua sắm các tài sản chung có giá trị lớn
đều cần dùng đến tài sản của vợ chồng. Qua đó, có thể thấy nếu nhà làm luật
không dự liệu cách xử sự theo quy định chung thì khó có thể kiểm soát, định
hướng trong việc điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng trong các giao
dịch dân sự;
Thứ hai, pháp luật có dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở để
vợ, chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của mình liên quan đến tài
sân của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Chẳng hạn như việc luật quy định hoặc
do chính vợ chồng thỏa thuận về các căn cứ, nguồn gốc, phạm vi các loại tài sản
thuộc sở hữu chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó, vợ
chồng thực hiện quyền sở hữu như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định
15
đoạt đối với từng loại tài sản theo luật định hoặc theo cam kết đã có hiệu lực
các điều kiện về tuổi kết hôn, điều kiện về sự tự nguyện, không vi phạm các điều
cấm kết hôn… Điều này cũng cho thấy rằng, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài
sản của vợ chồng phụ thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân,
về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể phát sinh khi quan hệ hôn
nhân được xác lập và chấm dứt khi một bên vợ, chồng chết hoặc vợ chồng ly
hôn;
Thứ hai, việc xác lập, chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng xuất phát từ
mục đích chung là bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích của cá
nhân vợ, chồng. Từ đó, theo luật định, dù vợ chồng lựa chọn loại chế độ tài sản
theo luật định hay thoat thuận thì cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc,
nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau và nuôi
dưỡng giáo dục các con;
Thứ ba, về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản về
nguyên tắc phải xuất phát hoặc tôn trọng lợi ích chung của gia đình. Do đó, trong
nhiều trường hợp, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng bị giới hạn bởi quy định của
Luật, ví dụ: hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ
hôn nhân về nguyên tắc được xác định là tài sản chung…
1.2. Khái niệm, đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân
Như đã phân tích ở trên, chế độ tài sản chung của vợ chồng được quy định
để trước hết nhằm đáp ứng các như cầu chung của gia đình, bảo đảm thực hiện
các chức năng xã hội cơ bản của gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ sự đa dạng của
mỗi gia đình trong đời sống xã hội - “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” thì
nhà làm luật cũng quan tâm đến tạo cơ chế pháp lý thuận lợi nhất cho vợ chồng
trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung, trong đó có việc thừa nhận khi
có lý do chính đáng thì vợ, chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Cách tiếp cận như là nhân văn, tạo sự linh
hoạt, không cứng nhắc trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
18
hợp chia tài sản này hậu quả của quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không phải
là căn cứ phát sinh hoặc yếu tố quyết định;
Thứ tư, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể
được thực hiện toàn bộ hoặc một phần tài sản chung của họ. Trong khi đó thì
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng
khi một bên vợ, chồng chết trước được chia đối với toàn bộ tài sản chung của họ;
Thứ năm, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không
đương nhiên làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chung của vợ chồng. Tài
sản chung vẫn có thể tồn tại hoặc vẫn có thể xuất hiện (trong trường hợp không
chia hết hoặc sau khi chia lại được thừa kế chung, tặng cho chung hay vợ chồng
khôi phục lại chế độ tài sản chung…).
1.3. Sự cần thiết của việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân.
Trước đây, thời phong kiến, người phụ nữ trong xã hội hầu như không có
trong tay một chút quyền hành nào, đặc biệt là quyền sở hữu tài sản. Đến xã hội
ngày nay, những vấn đề nhân quyền, bình đẳng giới được đề cập một cách rộng
rãi thì địa vị của người phụ nữ trong gia đình nói riêng, trong xã hội nói chung
được nâng cao rõ rệt. Một trong những biểu hiện đó là sự đổi mới của những quy
định pháp luật trong đó có quyền sở hữu tài sản. Chế định này đã thể hiện một tư
duy đổi mới của các nhà lập pháp trong việc thừa nhận quyền sở hữu riêng của
vợ, chồng và qua đó tạo ra sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Trong hệ thống pháp luật HN&GĐ của Nhà nước ta, trường hợp chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân mới được quy định trong Luật
HN&GĐ năm 1986 ( Điều 18 ). Luật HN&GĐ năm 1959 chưa quy định về vấn
đề này. Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục quy định trường hợp chia tài sản
20
thời kì hôn nhân để người vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản
chung nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng.
Việc pháp luật HN&GĐ hiện hành quy định như vậy: Trước hết là tạo cơ
sở cho vợ chồng tự do tham gia vào các quan hệ xã hội, nâng cao đời sống gia
đình, ngoài lợi ích đạt được thì vợ chồng phải có nghĩa vụ tài sản đối với người
thứ ba có giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng. Bởi lẽ, muốn bảo vệ
quyền và lợi ích của mình, người thứ ba phải biết về chế độ tài sản của vợ chồng
để xác định khả năng thanh toán của vợ, chồng. Qua đó, tránh được những tranh
chấp có thể xảy ra, gây bất lợi cho cả hai bên. Tiếp nữa là tạo cơ sở pháp lý để
phân định rõ trách nhiệm của vợ, chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài
sản phù hợp với pháp luật hiện hành. Từ đó, làm giảm những mâu thuẫn của vợ
chồng xuất phát từ khối tài sản chung của họ.
Như vậy, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một
quy định rất cần thiết đối với đời sống gia đình hiện nay, thể hiện sự bình đẳng
giữa vợ và chồng trong quan hệ tài sản. Hơn hết, quy định này đã phần nào hạn
chế được tình trạng ly hôn, thể hiện sự quan tâm của Đảng, nhà nước đối với
người dân, đối với xã hội…
Chương 2
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KÌ HÔN
NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
2.1. Điều kiện để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
2.1.1 . Vợ, chồng có yêu cầu về việc chia tài sản chung.
Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng,
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có
thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản;
nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Có thể thấy,
22
sản chung thì người này có quyền yêu cầu Tòa án buộc vợ, chồng người có nghĩa
vụ thực hiện nghĩa vụ, Tòa án căn cứ vào thực tế khả năng tài chính của người có
nghĩa vụ có thể cho phép phát mại tài sản chung để lấy phần tài sản của người có
nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền.
2.1.2. Việc chia tài sản chung phải có lý do chính đáng
Luật HN&GĐ năm 2014 thay vì quy định cụ thể các lý do được chia tài
sản chung như Luật HN&GĐ năm 2000 thì đã quy định theo hướng khi vợ
chồng có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án thì tài sản chung được chia trừ trường
hợp thuộc những giới hạn được quy định tại Điều 42 Luật này, bao gồm:
“Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
1. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp
pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự
hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
2. Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;
d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;
đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;
e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và
quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Đây là cách tiếp cận mở rất phù hợp, bảo đảm sự linh hoạt hơn đối sự đa
dạng về nhu cầu quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung trong mỗi gia đình và
23
24
mong muốn của việc kinh doanh đem lại. Mặt khác, còn bảo đảm cuộc sống ổn
định của các thành viên trong gia đình, tránh những hưởng tiêu cực của hoạt
động đầu tư kinh doanh gây ra.
(2) Chia tài sản chung khi vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng.
Khi tham gia vào các quan hệ xã hội khác nhau, việc phát sinh các nghĩa
vụ dân sự là điều tất yếu. Điều 280 BLDS 2005 quy định như sau: “Nghĩa vụ
dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có
nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá,
thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi
ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”. Theo
đó, trong quan hệ vợ chồng, nghĩa vụ dân sự riêng có thể được hiểu là các nghĩa
vụ phát sinh do hành vi không vì lợi ích chung của gia đình, của một bên vợ
hoặc chồng thực hiện trước hoặc trong thời kì hôn nhân. Nghĩa vụ dân sự này có
thể là do người vợ hoặc người chồng đã vay nợ chủ thể thứ ba để sử dụng vào
nhu cầu riêng hay trường hợp người vợ hoặc người chồng đã vi phạm pháp luật
dẫn tới hậu quả phải thực hiện nghĩa vụ dân sự nào đó. Chẳng hạn: bồi thường
thiệt hại…
Khi phát sinh các nghĩa vụ dân sự riêng, về nguyên tắc người vợ hoặc
người chồng có nghĩa vụ dân sự riêng phải dùng tài sản riêng của mình, nếu tài
sản riêng của người đó không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thể thỏa
thuận được việc dùng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng cho một
bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân để
lấy phần tài sản riêng của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng để thực
hiện việc thanh toán nghĩa vụ dân sự riêng đó.
Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành quy định nghĩa vụ dân sự riêng
nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba khi tham gia giao dịch dân sự đồng thời