Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Xã hội loài ngời đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau. Gia đình là
sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định là nhân tố
quyết định tính chất và kết cấu của gia đình. Do vậy gia đình là hình ảnh thu nhỏ
của xã hội, là tế bào của xã hội. Quan điểm này đã đợc Ph.Angghen nhấn mạnh
nh một nguyên lý của nội dung lý luận Macxit về hôn nhân và gia đình trong tác
phẩm nổi tiếng Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của Nhà n-
ớc.(1884)
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia
đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội. Mỗi gia đình đợc xây
dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dỡng
trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình.
Nhận định đợc vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nớc ta luôn chú
trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc. Biểu hiện ở việc,
Nhà nớc ban hành các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia
đình cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thơng lẫn
nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất. Quan hệ tài sản giữa vợ
chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ
chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh
thần cho gia đình.
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân
thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có
tính đền bù ngang giá. Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa
vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề
không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình .
Không phải là quy định mới trong Luật HN&GĐ năm 2000 nhng trên cơ sở
sự kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18), quy định này đã dần có những bớc
thay đổi tích cực cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Kể từ khi Luật HN&GĐ
Chơng 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
và một số kiến nghị.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong phạm vi khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, với trình độ chuyên
môn và nhận thức còn hạn chế, cùng nguồn tài liệu nghiên cứu còn cha nhiều, do
vậy khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Rất mong đợc sự
góp ý, chỉ bảo của các thầy,cô giáo và các bạn quan tâm đến vấn đề này.
Chơng I
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng và
chia tài sản chung của vợ chồng theo hệ thống
pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam
1. Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Nhận thức rõ
điều này Đảng và Nhà nớc ta luôn chú trọng quan tâm, bảo hộ hôn nhân và gia
đình.
Để cho gia đình tồn tại và phát triển, cần phải có các điều kiện vật chất- cơ
sở kinh tế nuôi sống gia đình. Do vậy, chế độ tài sản của vợ chồng luôn đợc nhà
làm luật quan tâm nh là một trong những chế định cơ bản, quan trọng nhất của
pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Trong quan hệ hôn nhân, quan hệ nhân thân là chủ yếu nhng quan hệ tài sản
của vợ chồng cũng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền
đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về
vật chất, tinh thần cho gia đình mình.
Hôn nhân và gia đình là những hiện tợng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc.
Trong quan hệ hôn nhân không chỉ có ý nghĩa riêng t giữa hai vợ chồng mà còn
cùng nhau nhau chăm lo gánh vác công việc gia đình, do đó tài sản của vợ chồng
không chỉ để phục vụ cho bản thân mà còn cho cả các thành viên khác trong gia
đình. Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở xem xét mối liên hệ của tài sản và cuộc
sống vợ chồng từ thực tiễn đã quy định vợ chồng có tài sản chung.
1.2.1. Căn cứ xác định tài sản chung
Tài sản chung của vợ chồng là toàn bộ những quy định của pháp luật về
việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng và quyền nghĩa vụ của vợ chồng
đối với tài sản ấy.Trong chế độ xã hội chủ nghĩa nam nữ kết hôn với nhau trên cơ
sở tình yêu chân chính, bình đẳng và tự nguyện. Khi trở thành vợ chồng tính chất
cộng đồng tài sản giữa họ đợc xác lập.
Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000:
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong
thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng đợc thừa kế chung hoặc tặng cho chung và
những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đợc là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đợc trớc khi két hôn, đợc thừa kế riêng chỉ là
tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trờng hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật
quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải
ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trờng hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Nh vậy ngoài việc dự liệu nguồn gốc, căn cứ thành phần các loại tài sản
thuộc sở hữu chung của vợ chồng, thì nhà làm luật còn căn cứ vào nguyên tắc suy
đoán để xác định những tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng đang có tranh chấp,
nhng không đủ cơ sở để xác định tài sản riêng của vợ chồng thì coi là tài sản
chung. Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000, nó xuất phát từ thực
vật dụng trong gia đình Hiểu theo nghĩa rộng tài sản do vợ chồng tạo ra không
chỉ là những tài sản do chính tay vợ hoặc chồng tạo ra, mà còn là những tài sản mà
vợ hoặc chồng bỏ tiền vàng, công sức để tạo ra. Vì lẽ đó, chúng ta phải hiểu tài
sản do vợ, chồng tạo ra theo cả hai nghĩa nh thế mới thấu suốt đợc tinh thần điều
luật.
Trong cuộc sống vợ, chồng có thể tham gia lao động, sản xuất kinh doanh
để tạo ra tài sản, nhng đó phải là những lao động hợp pháp. Thu nhập từ lao động
là thu nhập cơ bản, chính đáng chủ yếu của ngời lao động. Trong xã hội ta, lao
động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân. Quyền tự do sản xuất
kinh doanh của cá nhân đợc Nhà nớc ghi nhận là một quyền hiến định, Nhà nớc
luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho các cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất
kinh doanh. Bởi nó một mặt vừa mang lại tài sản để duy trì ổn định và phát triển
của gia đình, mặt khác góp phần thúc đẩy sự phát triển cũng nh làm giàu cho xã
hội.
Việc các bên thu nhập nhiều hay ít, cao hay thấp không phải là căn cứ để
luật phân định công sức đóng góp của các bên vợ chồng. Nh vậy dù vợ chồng ở
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều ngành nghề khác nhau, mức thu nhập khác nhau, song mọi thu nhập từ lao
động nghề nghiệp, sản xuất kinh doanh theo quy định của Luật HN&GĐ năm
2000 đều là tài sản chung.
- Các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Theo hớng dẫn tại điểm a, mục 3 Nghị quyết số 02/2000/HĐTP thì những
thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn có thể là tiền l-
ơng, tiền trợ cấp, tiền trúng thởng xổ số mà vợ chồng có đ ợc hoặc tài sản mà vợ
chồng đợc xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS năm 2005 tại các Điều
240 (xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, chìm đắm đợc tìm thấy), Điều
239 (xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định đợc ai là chủ sở
hữu), Điều 243 (xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc), Điều 244 ( xác
lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dới nớc), Điều 242 ( xác lập quyền sở hữu đối
sản chung.
Nh vậy Lụât HN&GĐ năm 2000 đã quy định các căn cứ xác lập tài sản
chung của vợ chồng, dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc các loại tài sản, đảm
bảo cho quyền lợi của vợ chồng đối với tài sản chung. Đồng thời tạo cơ sở pháp lý
cho các Toà án nhanh chóng giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng.
1.2.2. Nội dung quyền sở hữu tài sản
Theo quy định tại Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 : Vợ, chồng đều có
quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Tài sản
chung của vợ chồng đợc chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các
nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Nh vậy về mặt nguyên tắc vợ, chồng có quyền nghĩa vụ ngang nhau trong
việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, nó xuất phát từ quyền bình đẳng
của vợ chồng đối với tài sản chung. Khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000
còn quy định: Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến
tài sản chung có giá trị lớn, hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng
tài sản chung để đầu t kinh doanh phải đợc vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài
sản chung đã đợc chia để đầu t kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều
29. Cụ thể hoá quy định trên Luật HN&GĐ đã có hớng dẫn chi tiết tại Điều 4
Nghị đinh số 70/2000/NĐ- CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nh vậy, so với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy
định khá cụ thể và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản
chung.
Bên cạnh việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng, Luật HN&GĐ
năm 2000 còn quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng. Quy định này góp
phần làm lành mạnh hoá các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở để xây dựng
những gia đình hoà thuận, hạnh phúc.
2. Khái lợc vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam
2.1. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng
phục tùng trong đó ngời vợ phụ thuộc tuyệt đối vào ngời chồng. Chế độ sở hữu
chung của vợ chồng cũng đợc xác lập nhng vẫn còn hạn chế.
Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật : Quốc Triều Hình Luật (QTHL) dới
triều Lê và bộ Hoàng Việt Luật Lệ dới thời nhà Nguyễn. Cả hai bộ luật này đều
ghi nhận sự tồn tại chế độ sở hữu chung về tài sản của vợ chồng, đấy chính là tần
tảo điền sản.
Về vấn đề chia tài sản chung cổ luật phong kiến Việt Nam quy định hai tr-
ờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng : khi một bên chết trớc và chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn.
QTHL quy định khi vợ hoặc chồng chết thì điền sản đều đợc chia đôi mỗi
ngời một phần. Đây là một quy định tiến bộ thể hiện sự bình đẳng của ngời vợ đối
với ngời chồng trong quan hệ tài sản. Tuy nhiên do hạn chế của xã hội bấy giờ nên
quyền lợi của ngời vợ cũng cha thực sự đợc đảm bảo, thể hiện ở chỗ: nếu ngời vợ
còn sống mà cải giá thì phải trả lại điền sản đã đợc chia
Trờng hợp vợ chồng ly hôn, việc phân chia tài sản chung đợc quy định trong
QTHL nh sau : Nếu ly hôn mà có con thì tài sản chung không đợc chia; nếu vợ
chồng không có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng đợc chia đôi cho hai
ngời. Trờng hợp ngời vợ phạm gian mà ly hôn thì không những không đợc chia
tài sản chung, mà còn không lấy lại đợc tài sản riêng.
Nh vậy luật Phong kiến do vẫn còn mang nặng t tởng lễ giáo, gia trởng, đề
cao coi trọng vị trí, vai trò của ngời chồng trong gia đình, ngời đàn ông trong xã
hội, nên quyền lợi của ngời phụ nữ vẫn cha đợc bình đẳng và cha đợc bảo đảm.
2.2.2. Thời kỳ Pháp thuộc
Sau khi hoàn tất tiến trình xâm lợc, để đảm bảo và duy trì nền móng cai trị
thực dân ở nớc ta, thực dân Pháp đã chia nớc ta ra làm 3 miền với ba chế độ để dễ
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bề cai trị. ở mỗi miền áp dụng các Bộ luật Dân sự riêng, trong đó quy định điều
chỉnh các quan hệ về hôn nhân và gia đình.
- Tại Bắc kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1931.
cũng nh hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung.
ở thời kỳ này Nhà nớc ta cha ban hành bộ luật Dân sự mới, thay vào đó là
việc duy trì áp dụng BDLBK và BDLTK trên cơ sở có chọn lọc các yếu tố tiến bộ,
xóa bỏ các quy định hủ tục, lạc hậu. Mà theo các bộ dân luật này quy định, chế độ
tài sản chung của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản. Do đó việc Sắc luật chỉ
quy định các trờng hợp chia mà cha dự liệu nguyên tắc chia thì vẫn áp dụng
nguyên tắc chia đôi.
Năm 1959, lần đầu tiên Luật hôn nhân và gia đình đợc ra đời, hay còn gọi là
Đạo luật số 13. Theo Luật HN&GĐ năm 1959 tài sản chung của vợ chồng là tài
sản chung hợp nhất, tức mọi tài sản mà vợ chồng có trớc và sau khi kết hôn đều là
tài sản chung của vợ chồng, luật không thừa nhận tài sản riêng. Luật quy định hai
trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng là:chia tài sản chung của vợ chồng khi
một bên chết trớc và chia khi ly hôn.
Trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc (Điều 16)
thì sẽ chia nh khi ly hôn. Còn khi ly hôn việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng
góp về công sức của mỗi bên, tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình
Luật HN&GĐ năm 1959 đã khắc phục đợc những hạn chế của hai sắc lệnh
khi quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng. Đồng thời khẳng định
đợc bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp lý của Nhà nớc, phục vụ
nhân dân lao động, là nền móng để từng bớc xây dựng nghành luật hôn nhân và
gia đình trong hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa của Nhà nớc ta.
Luật HN&GĐ năm 1986 đợc Nhà nớc ban hành vào những năm đầu của
thời kỳ đổi mới.
Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng so với Luật HN&GĐ năm
1959 có điểm tiến bộ hơn, đó là quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong ba
trờng hợp : Chia khi ly hôn, chia khi một bên chết trớc và chia trong thời kỳ hôn
nhân.Về nguyên tắc chia tài sản khi một bên chết trớc và chia trong thời kỳ hôn
nhân sẽ chia nh khi ly hôn, đồng thời áp dụng cả pháp luật về thừa kế theo thông t
số 81/1988. Còn khi ly hôn sẽ theo nguyên tắc chia đôi.
13
thiểu một tỷ lệ lớn các cặp vợ chồng xin ly hôn, hạn chế thấp nhất các tranh chấp
phát sinh giữa vợ và chồng.
Ngoài ra, việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân cũng thể hiện đợc t tởng lập pháp tiến bộ của nhà nớc ta, đó là quan tâm đến
lợi ích của từng cá nhân trong gia đình và trong các mối quan hệ ngoài xã hội.Với
việc quy định vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ là
cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng.
Sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội đòi hỏi việc ban hành
pháp luật phải kịp thời, do đó việc đặt ra chế định chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân là hết sức cần thiết, phù hợp với cuộc sống và tâm lý
nguyện vọng của nhân dân.
1.2. Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại Điều 29, khoản 1 Luật HN&GĐ năm 2000 thì : Khi hôn
nhân tồn tại, trong trờng hợp vợ chồng đầu t kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ
dân sự riêng hoặc có lí do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài
sản chung
Nh vậy, để đảm bảo đợc mục đích của việc chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân thì cần phải đáp ứng các điều kiện sau :
- Vợ chồng đầu t kinh doanh riêng.
- Vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Vợ chồng có lý do chính đáng khác.
1.2.1. Chia tài sản chung khi vợ chồng đầu t kinh doanh riêng
Xuất phát từ quy định tại Điều 57 Hiến pháp năm 1992 công dân có quyền
tự do kinh doanh theo pháp luật. Việc ghi nhận quyền chia tài sản chung của vợ
chồng để đầu t kinh doanh riêng là sự cụ thể hóa một trong những quyền hiến định
của công dân.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong trờng hợp vợ chồng đầu t kinh doanh
riêng, xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do của cá nhân, nếu một trong hai vợ
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của HĐTPTANDTC hớng
dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số
70/2001/NQ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
HN&GĐ năm 2000 nhng vẫn cha có một hớng dẫn đề cập vấn đề này.
Việc cha có hớng dẫn cụ thể về có lý do chính đáng khác nên trong thực
tiễn áp dụng luật còn gặp nhiều vớng mắc. Sự tùy tiện nhiều khi mang đậm màu
sắc chủ quan của các thẩm phán khi xét xử trong việc công nhận có hay không có
lý do chính đáng sẽ dẫn đến tình trạng thiếu sự thống nhất trong cách thức giải
quyết của Tòa án, Tòa án này thì cho một vụ việc cụ thể nào đó là có lý do chính
đáng nhng Tòa án khác thì lại cho rằng đó không phải là lý do chính đáng và
không cho chia tài sản chung của vợ chồng
Theo em, pháp luật cần phải cụ thể hơn thế nào là có lý do chính đáng, tạo
sự đồng bộ trong cách hiểu và áp dụng pháp luật của các cấp xét xử. Có thể coi là
có lý do chính đáng khi thuộc một trong các trờng hợp sau:
+ Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích theo quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án.
+ Vợ chồng tính tình không hợp nhau nhng con cái đã lớn hoặc là ngời có
địa vị trong xã hội, có bằng cấp họ có mâu thuẫn với nhau nhng không muốn ly
hôn vì sợ ảnh hởng đến danh dự, uy tín.
+ Một bên vợ chồng có hành vi phá tán tài sản của gia đình nh rợu chè, cờ
bạc, nghiện hút thì bên kia có thể yêu cầu chia tài sản chung khi hôn nhân tồn
tại.
+ Do mâu thuẫn giữa con chung và con riêng hoặc mâu thuẫn trong cách
quản lý, sử dụng tài sản vì nhu cầu của gia đình.
Nh vậy với việc quy định cụ thể, rõ ràng về lý do chính đáng sẽ tạo điều
kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc áp dụng của các Tòa án.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài ra Luật HN&GĐ năm 2000 còn quy định việc chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải lập thành văn bản. Trong trờng hợp vợ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
luật t sản cho rằng ly thân là một giải pháp nhằm giải tỏa xung đột trong quan hệ
vợ, chồng; mặt khác, thời hạn mà vợ chồng ly thân do Tòa án quyết định sẽ tạo cơ
hội để vợ chồng suy xét lại, nhằm hàn gắn mâu thuẫn giữa vợ chồng, vợ chồng
chung sống đoàn tụ không phải ly hôn [18,tr 120]. Hay nói cách khác đi chia tài
sản khi hôn nhân tồn tại chủ yếu xuất phát từ những lý do về mặt tài sản, còn với
trờng hợp ly thân bao giờ cũng xuất phát từ yếu tố tình cảm.
Nh vậy Luật HN&GĐ của Nhà nớc ta không quy định về vấn đề ly thân,
điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của hôn nhân đợc xác lập dới chế độ Xã
hội chủ nghĩa.
1.3. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Về phơng diện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,
Luật HN&GĐ năm 2000 cho phép vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung bằng
văn bản hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.3.1. Nguyên tắc tự thỏa thuận của vợ chồng
Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung,
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân. Đây chính là điểm mới của Luật HN&GĐ năm
2000 so với Luật HN&GĐ năm 1986.
Để tránh việc thỏa thuận của vợ chồng nhằm mục đích tẩu tán, trốn tránh
nghĩa vụ tài sản, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định việc thỏa thuận của vợ chồng
phải lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung nh : lý do chia tài sản, phần tài sản
chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm có hiệu lực của việc chia
tài sản chung và những nội dung khác nếu có. Văn bản thỏa thuận có thể có ngời
làm chứng hoặc đợc công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc theo
quy định của pháp luật (Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của
Chính phủ ). Nếu việc thỏa thuận này nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa
vụ về tài sản không đợc pháp luật công nhận.
Thực tiễn xét xử cho thấy, nếu các đơng sự thỏa thuận đợc với nhau về các
vấn đề đang có tranh chấp sẽ là biện pháp hữu hiệu hơn cả, tránh đợc những mâu
nhau khi một bên chết trớc Việc vợ chồng ở chung hay ở riêng với nhau sau khi
chia tài sản chung là tùy thuộc vào thực tế đời sống cụ thể của vợ chồng, điều này
không làm hạn chế các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng theo quy
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
định của pháp luật.Vì vậy, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không
có nghĩa là quy định về chế độ ly thân. Do quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại nên
trên cơ sở tính chất cộng đồng của hôn nhân, khối tài sản chung của vợ chồng phát
sinh sau khi chia tài sản chung về nguyên tắc vẫn là sở hữu chung hợp nhất, trừ tr-
ờng hợp các bên có thỏa thuận khác.
1.4.2. Hậu quả pháp lý về tài sản
Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài
sản đã đợc chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi ngời; phần tài sản còn lại không
chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Nh vậy, nếu vợ chồng thỏa thuận chia
một phần tài sản chung thì phần đã chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản
đã chia đó thuộc sở hữu riêng của vợ chồng; phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc
sở hữu chung của vợ chồng.
Vấn đề đặt ra là, trờng hợp vợ chồng yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung thì
không còn căn cứ phát sinh tài sản chung nữa, nh vậy việc chi dùng trong gia đình
và các nghĩa vụ chung của vợ chồng sẽ đợc giải quyết nh thế nào? Trách nhiệm
của các bên trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của gia đình sẽ đợc giải
quyết ra sao? Vô hình chung quy định này có thể làm ảnh hởng tới sự ổn định của
gia đình, mất đi bản chất, chức năng của gia đình xã hội chủ nghĩa! Bởi vậy nhà
làm luật cần phải có những quy định chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo cuộc sống ổn
định của gia đình.
Mặt khác Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính
phủ còn quy định: Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và
những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản
riêng của vợ, chồng, trừ trờng hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Theo quy định
này thì sau khi chia tài sản chung, mọi thu nhập mà mỗi bên có đợc sẽ không
định về vấn đề này một cách chặt chẽ, logic và hợp lý hơn.
2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc hoặc bị tòa án tuyên
bố là đã chết
2.1. Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc hoặc bị
Tòa án tuyên bố là đã chết
Nếu kết hôn là sự kiện làm gắn kết những cá nhân độc lập để trở thành
một thực thể mới gia đình, nhằm mục đích chung sống với nhau suốt đời,
xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, thì chết lại là sự kiện làm chấm dứt quan
hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Việc một bên chết trớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chết sẽ làm chấm dứt hoàn toàn quan hệ nhân thân cũng nh quan hệ tài sản giữa
các bên. Do vậy để đảm bảo quyền lợi cho bên còn sống và quyền lợi của những
ngời thừa kế tài sản khác, pháp luật HN&GĐ có đặt ra vấn đề chia tài sản chung
của vợ chồng khi một bên chết trớc và việc thừa kế tài sản giữa vợ chồng.
Khoản 1 Điều 31 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : Vợ chồng có quyền
thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế Hay nói cách
khác vợ, chồng có thể thừa kế tài sản của nhau theo di chúc hoặc theo pháp luật.
2.1.1.Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật đợc đặt ra khi một bên vợ hoặc chồng có di sản thừa
kế chết đi, nhng không lập di chúc hoặc có di chúc nhng di chúc không hợp pháp.
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng, điều kiện và trình tự thừa kế do
pháp luật quy định, tại điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định: vợ, chồng
thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với cha mẹ đẻ (nuôi) và con đẻ (nuôi) của ngời
chết.
Điều kiện để vợ, chồng đợc hởng di sản thừa kế của nhau theo luật là giữa
họ phải tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp, tức đó là quan hệ hôn nhân có
đăng ký kết hôn, không vi phạm các trờng hợp cấm kết hôn và tuân thủ đầy đủ các
điều kiện kết hôn. Ngoài ra, quan hệ hôn nhân thực tế cũng đợc coi là có giá trị
pháp lý khi thỏa mãn các quy định của pháp luật.
lừa dối nên xin hủy việc kết hôn của họ, thì Tòa án xử hủy việc kết hôn. Bởi vậy
nếu một bên vợ hoặc chồng chết thì ngời vợ hoặc chồng sau vẫn có quyền thừa kế
tài sản của ngời đã chết.
Ngoài ra, Điều 680 BLDS năm 2005 còn quy định việc thừa kế trong trờng
hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với ngời
khác nh sau:
1.Trong trờng hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn
tại mà sau đó một ngời chết thì ngời còn sống vẫn đợc thừa kế di sản. Mặc dù có
chia tài sản chung nhng về bản chất mối quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại cho nên
quyền thừa kế của các bên là đơng nhiên.
2. Trong trờng hợp vợ, chồng xin ly hôn mà cha đợc hoặc đã đợc Tòa án
cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định cha có hiệu lực pháp luật, nếu một ngời
chết thì ngời còn sống vẫn đợc thừa kế di sản. Quan hệ hôn nhân chỉ thực sự
chấm dứt khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa có hiệu lực pháp luật. Hay
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nói cách khác quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại nên một bên vợ hoặc chồng vẫn
có quyền hởng di sản thừa kế khi một bên chết trớc.
3. Ngời đang là vợ hoặc chồng của một ngời tại thời điểm ngời đó chết thì
dù sau đó đã kết hôn với ngời khác vẫn đợc thừa kế di sản. Đây là trờng hợp mà
tại thời điểm một bên vợ hoặc chồng chết, thì quan hệ hôn nhân giữa họ với ngời
còn sống vẫn còn tồn tại do đó để bảo vệ quyền thừa kế của ngời còn sống nên
ngay cả khi họ đã kết hôn với ngời khác thì pháp luật vẫn cho họ đợc thừa kế di
sản của ngời đã chết. Mặt khác xóa bỏ triệt để ảnh hởng của pháp luật phong kiến
về quan hệ bất bình đẳng giữa vợ chồng trong quan hệ thừa kế.
2.1.2. Thừa kế theo di chúc
Trờng hợp một bên vợ hoặc chồng có di sản thừa kế trớc khi chết có để lại
di chúc (di chúc hợp lệ), quy định rõ những chủ thể nào đợc hởng di sản, kỷ
phần bao nhiêu, thời điểm chia lúc nào thì phải chia theo di chúc. Tuy nhiên để
đảm bảo quyền lợi cho bên còn sống đủ điều kiện đợc hởng di sản thừa kế, nhng vì