Thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng - Pdf 28

Lời nói đầu
Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau.
Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội. Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn
phát triển nhất định là nhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia
đình. Do vậy gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã
hội. Quan điểm này đã được Ph.Angghen nhấn mạnh như một nguyên
lý của nội dung lý luận Macxit về hôn nhân và gia đình trong tác phẩm
nổi tiếng “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà
nước.”(1884)
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh
của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội.
Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn
nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem
là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình.
Nhận định được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà
nước ta luôn chú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận,
hạnh phúc. Biểu hiện ở việc, Nhà nước ban hành các quy phạm pháp
luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình cho phù hợp với sự phát
triển của xã hội.
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu
thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất. Quan
hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một
trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc,
đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần cho gia đình.
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu
tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể
tách rời và không có tính đền bù ngang giá. Chính sự ràng buộc này
1
làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia
tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp

Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu khác như so sánh, phân tích, tổng hợp….

Kết cấu của khóa luận bao gồm :

Lời nói đầu.

Chương 1: Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng và
chia tài sản chung của vợ chồng theo hệ thống pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam.

Chương 2 : Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng
theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.

Chương 3 : Thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung
của vợ chồng và một số kiến nghị.

Kết luận

Trong phạm vi khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, với trình độ
chuyên môn và nhận thức còn hạn chế, cùng nguồn tài liệu nghiên cứu
còn chưa nhiều, do vậy khóa luận không tránh khỏi những khiếm
khuyết nhất định. Rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy,cô
giáo và các bạn quan tâm đến vấn đề này.
3
Chương 1
Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ
chồng và chia tài sản chung của vợ
chồng theo hệ thống pháp luật hôn

biện pháp, phương tiện để ổn định quan hệ gia đình, tạo điều kiện để gia
đình thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Trong pháp luật của Nhà nước ta, cho đến nay vẫn chưa có một khái
niệm về chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong một văn bản cụ
thể của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chế độ tài sản của vợ chồng
được quy định trong pháp luật như là một tất yếu khách quan, nhằm điều
chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội.
Từ những phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm về chia tài sản của
vợ chồng như sau : “Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định
về xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung,
tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng”.
1.1.2. Nội dung chế độ tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Vậy
nhà nước sẽ làm gì để “ bảo hộ hôn nhân và gia đình” ? Có rất nhiều biện
pháp mà một biện pháp không thể thiếu được là việc Nhà nước ban hành
các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình. Trong
gia đình Xã hội chủ nghĩa, vợ chồng cùng nhau nhau chăm lo gánh vác
công việc gia đình, do đó tài sản của vợ chồng không chỉ để phục vụ cho
bản thân mà còn cho cả các thành viên khác trong gia đình. Luật
5
HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở xem xét mối liên hệ của tài sản và cuộc
sống vợ chồng từ thực tiễn đã quy định vợ chồng có tài sản chung.
*Căn cứ xác định tài sản chung:
Tài sản chung của vợ chồng là toàn bộ những quy định của pháp
luật về việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng và quyền nghĩa
vụ của vợ chồng đối với tài sản ấy.Trong chế độ xã hội chủ nghĩa nam nữ
kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu chân chính, bình đẳng và tự nguyện.
Khi trở thành vợ chồng tính chất cộng đồng tài sản giữa họ được xác lập.

nhân bắt đầu từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên chết hoặc ly hôn.
Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp vợ chồng lấy nhau không có
đăng ký kết hôn, khi phát sinh mâu thuẫn thì đưa nhau ra toà xin ly hôn
và phân chia tài sản. Để giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế còn tồn
đọng từ trước, khi xem xét hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ
chồng theo hôn nhân thực tế sẽ theo quy định tại Nghị quyết số
35/2000/QH 10 của Quốc hội ngày 9/6/2000, Nghị quyết số 02/2000/NQ-
HĐTP của TANDTC ngày 23/12/2000.
Như vậy căn cứ để xác lập tài sản chung của vợ chồng, trước hết
phải dựa trên cơ sở “thời kỳ hôn nhân” của vợ chồng. Toàn bộ tài sản do
vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân này được coi thuộc khối tài sản
chung của vợ chồng.
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong
thời kỳ hôn nhân.
Đây là tài sản chủ yếu quan trọng đối với khối tài sản được coi là tài
sản chung của vợ chồng, bởi bản chất của cuộc sống chung giữa vợ chồng
là cùng nhau chung vai gánh vác mọi công việc gia đình, tạo ra tài sản để
đáp ứng mọi nhu cầu tinh thần, vật chất của gia đình mình.
Do tính chất của cuộc sống chung vợ chồng, tài sản chung của vợ
chồng không nhất thiết phải là tài sản do cả hai vợ chồng cùng tạo ra
7
trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ cần vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ
hôn nhân cũng sẽ là tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản do vợ, chồng tạo ta có thể là tài sản tự tay vợ hoặc chồng
tạo ra phục vụ cho nhu cầu của gia đình, thể hiện dưới dạng vật chất cụ
thể như nhà cửa, xe cộ, vật dụng trong gia đình…Hiểu theo nghĩa rộng tài
sản do vợ chồng tạo ra không chỉ là những tài sản do chính tay vợ hoặc
chồng tạo ra, mà còn là những tài sản mà vợ hoặc chồng bỏ tiền vàng,
công sức để tạo ra. Vì lẽ đó, chúng ta phải hiểu tài sản do vợ, chồng tạo ra

là tài sản chung của vợ chồng.
- Tài sản chung của vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng
cho chung là tài sản chung của vợ chồng.
Đây là loại tài sản chung của vợ chồng có nguồn gốc đặc biệt là
“tặng cho”. Tài sản này thường không nhiều bởi vì khi xây dựng gia
đình vợ chồng bao giờ cũng mong muốn cùng nhau tạo lập tài sản để
phát triển kinh tế gia đình. Tuy vậy nó lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc,
thể hiện sự đùm bọc, che chở yêu thương giữa những người thân và bạn
bè.
Ngoài ra vợ chồng còn được nhận di sản thừa kế, trừ thừa kế
theo di chúc, vợ chồng có quyền lợi ngang nhau trong việc hưởng phần
di sản bằng nhau khi thừa kế theo pháp luật.
Tài sản chung của vợ chồng còn được tạo lập bởi sự thoả thuận
của vợ chồng, bao gồm tài sản mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung
và tài sản do vợ chồng nhập từ tài sản riêng vào thành tài sản chung.
Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ
chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của một bên thì vô hiệu. Đây là
quy định rất mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ
ba tham gia vào quan hệ tài sản đối với vợ hoặc chồng.
Đối với tài sản không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ
chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó cũng
9
là tài sản chung. ở đây nhà làm luật đã áp dụng nguyên tắc suy đoán để
giải quyết tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng. Đây chính là điểm
mới của Luật HN&GĐ năm 2000.
Điều 5 Nghị định số 70/2000/NĐ- CP ngày 3/10/2001 của Chính
phủ quy định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký
quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng như : nhà ở, quyền sử dụng
đất….Với quy định này đã thể hiện sự bình đẳng giữa vợ chồng trong
quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

1.2.1.Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng.
Mục đích của kết hôn là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc,
cùng nhau chung sống suốt đời nhưng cuộc sống gia đình không phải lúc
nào cũng “êm đềm”.Trong quan hệ vợ chồng, yếu tố tình cảm thường được
đưa lên vị trí hàng đầu, không có sự phân biệt rạch ròi nguồn gốc tài sản và
tài sản của ai, nhưng cuộc sống gia đình không tránh khỏi việc phát sinh
các mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt
tài sản chung. Chỉ đến khi mâu thuẫn trong gia đình phát sinh, lúc đó các
tranh chấp về tài sản mới đựơc đặt ra, tuỳ theo mức độ khác nhau mà họ có
thể yêu cầu ly hôn hay xin chia tài sản chung mà không yêu cầu ly hôn.
Chính vì vậy việc quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng
trở thành một nhu cầu tất yếu đáp ứng được nhu cầu thực tế đặt ra. Một
mặt giải toả được những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các
cá nhân tự phát huy được các khả năng của mình trong xã hội. Mặt khác
giúp cho các Toà án giải quyết nhanh chóng các vụ việc.
Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa
Luật HN&GĐ năm 1986 đã tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ
chồng. Trong nhiều năm qua chế định này đã từng bước đi vào cuộc sống
phát huy được hiệu quả điều chỉnh, góp phần xây dựng, củng cố chế độ
hôn nhân và gia đình Việt Nam.
11
Vậy chia tài sản chung của vợ chồng là gì? Từ những phân tích trên
ta có thể đưa ra khái niệm về chế định chia tài sản chung của vợ chồng như
sau:
“Chia tài sản chung của vợ chồng là việc vợ chồng tự thoả thuận
hoặc yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng dựa
trên những điều kiện nhất định, nhằm bảo đảm cho các bên tự chủ trong
việc sử dụng, định đoạt, tài sản của mình trong khối tài sản chung”.
1.2.2. Sơ lược các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong hệ
thống pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.

cai trị thực dân ở nước ta, thực dân Pháp đã chia nước ta ra làm 3 miền với
ba chế độ để dễ bề cai trị. ở mỗi miền áp dụng các Bộ luật Dân sự riêng,
trong đó quy định điều chỉnh các quan hệ về hôn nhân và gia đình.
- Tại Bắc kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1931.
- Tại Trung kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1936.
- Tại Nam kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật Giản yếu năm
1883.
Pháp luật thời kỳ này vẫn duy trì hai trường hợp chia tài sản chung
của vợ chồng như cổ luật là chia khi một bên chết trước và chia tài sản
chung khi ly hôn.
Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
BDLBK quy định, nếu vợ chồng có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ
chồng sẽ không được chia theo nguyên tắc chia đôi mà người vợ chỉ được
chia một phần trong tài sản chung tuỳ theo kỷ phần mà người vợ đã đóng
góp. Nếu “phạm gian” mà ly hôn thì phần mà người vợ được chia sẽ bị bớt
đi một nửa. Nếu người vợ ly hôn mà không có con thì sẽ được lấy lại kỷ
phần của mình và một nửa tài sản chung.
Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước,
bộ DLBK quy định không chia mà giữ nguyên, chỉ đặt ra vấn đề chia khi
người vợ còn sống mà cải giá.
13
Trong bộ dân luật Giản yếu 1883 không thừa nhận chế độ cộng đồng
tạo sản, toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của người chồng.
Do đó không đặt ra vấn đề chia tài sản.
Như vậy chế độ hôn nhân của nước ta ở thời kỳ Pháp thuộc là công
cụ pháp lý của giai cấp thống trị nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của mình.
Thời kỳ này quyền lợi của người phụ nữ, người vợ hầu như không đươc
pháp luật xem xét, coi trọng.
1.2.2.3.Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.
Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ

lý của Nhà nước, phục vụ nhân dân lao động, là nền móng để từng bước
xây dựng nghành luật hôn nhân và gia đình trong hệ thống pháp luật Xã
hội chủ nghĩa của Nhà nước ta.
Luật HN&GĐ năm 1986 được Nhà nước ban hành vào những năm
đầu của thời kỳ đổi mới.
Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng so với Luật HN&GĐ
năm 1959 có điểm tiến bộ hơn, đó là quy định chia tài sản chung của vợ
chồng trong ba trường hợp : Chia khi ly hôn, chia khi một bên chết trước
và chia trong thời kỳ hôn nhân.Về nguyên tắc chia tài sản khi một bên chết
trước và chia trong thời kỳ hôn nhân sẽ chia như khi ly hôn, đồng thời áp
dụng cả pháp luật về thừa kế theo thông tư số 81/1988. Còn khi ly hôn sẽ
theo nguyên tắc chia đôi.
Kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy
định việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong ba trường hợp trên.
Như vậy trong từng thời kỳ, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và thực
tế lúc bấy giờ mà việc quy định về chia tài sản chung của vợ chồng có khác
nhau. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đang ngày một củng cố và
hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình ngày
15
một tốt hơn. Đồng thời thúc đẩy xã hội ngày một tiến lên, xây dựng đất
nước ngày càng vững mạnh.
Chương 2
Các trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng theo luật hôn nhân và gia
đình việt nam năm 2000
2.1.Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
2.1.1.Mục đích quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân
Kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm
2000 cũng quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ

hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực
hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lí do chính đáng khác thì vợ chồng có thể
thỏa thuận chia tài sản chung”
Như vậy, để đảm bảo được mục đích của việc chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì cần phải đáp ứng các điều kiện sau :
- Vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng.
17
- Vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng.
- Vợ chồng có lý do chính đáng khác.
2.1.2.1. Chia tài sản chung khi vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng
Xuất phát từ quy định tại Điều 57 Hiến pháp năm 1992 “công dân có
quyền tự do kinh doanh theo pháp luật”. Việc ghi nhận quyền chia tài sản
chung của vợ chồng để đầu tư kinh doanh riêng là sự cụ thể hóa một trong
những quyền hiến định của công dân.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng đầu tư
kinh doanh riêng, xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do của cá nhân, nếu
một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản
chung của vợ chồng.
Nhà nước ta ngày càng mở cửa thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội cho
các chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư kinh doanh. Bên cạnh những “cơ
hội làm giàu” thì nền kinh tế thị truờng cũng đặt ra không ít thử thách, đòi
hỏi các chủ thể kinh doanh phải luôn nhạy bén, tỉnh táo để nắm bắt tốt “ thời
cơ ” và điều quan trọng là phải chủ động về vốn. Cho nên nhiều khi chỉ ví
một lý do nào đó mà vợ chồng không thống nhất được với nhau trong việc
sử dụng tài sản chung vào việc đầu tư kinh doanh nên để “lỡ mất cơ hội”.
Quy định này một mặt tạo điều kiện cho vợ, chồng có tài sản riêng làm
vốn đầu tư kinh doanh hoặc “chớp thời cơ” khi tài sản riêng của một bên
không đủ, mà bên kia lại không đồng ý sử dụng vào công việc kinh doanh,
buôn bán đó. Mặt khác quy định này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình,
bảo đảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi

chồng
Theo em, pháp luật cần phải cụ thể hơn thế nào là có lý do chính đáng,
tạo sự đồng bộ trong cách hiểu và áp dụng pháp luật của các cấp xét xử. Có
thể coi là có lý do chính đáng khi thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích theo quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án.
19
+ Vợ chồng tính tình không hợp nhau nhưng con cái đã lớn hoặc là
người có địa vị trong xã hội, có bằng cấp họ có mâu thuẫn với nhau nhưng
không muốn ly hôn vì sợ ảnh hưởng đến danh dự, uy tín.
+ Một bên vợ chồng có hành vi phá tán tài sản của gia đình như rượu
chè, cờ bạc, nghiện hút…thì bên kia có thể yêu cầu chia tài sản chung khi
hôn nhân tồn tại.
+ Do mâu thuẫn giữa con chung và con riêng hoặc mâu thuẫn trong
cách quản lý, sử dụng tài sản vì nhu cầu của gia đình.
Như vậy với việc quy định cụ thể, rõ ràng về lý do chính đáng sẽ tạo
điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc áp dụng của các Tòa án.
Ngoài ra Luật HN&GĐ năm 2000 còn quy định việc chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải lập thành văn bản. Trong trường
hợp vợ chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung thì có quyền
yêu cầu Tòa án giải quyết. Vấn đề đặt ra là “bản thỏa thuận” về chia tài sản
chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại, nên chăng cần phải được sự công
nhận của Tòa án hay một cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sự “can thiệp”
của Tòa án chỉ đặt ra khi vợ chồng không thỏa thuận được việc chia tài sản
chung? Thiết nghĩ cần phải có các văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này,
để tránh tình trạng vợ chồng dựa vào các lý do không chính đáng để chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Để hạn chế các cặp vợ chồng trong thực tế lạm dụng quyền trong việc
chia tài sản chung nhằm mưu cầu lợi ích trái pháp luật, xâm phạm tới quyền
lợi của người khác, khoản 2 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định :

trường hợp ly thân bao giờ cũng xuất phát từ yếu tố tình cảm.
Như vậy Luật HN&GĐ của Nhà nước ta không quy định về vấn đề ly
thân, điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của hôn nhân được xác lập
dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa.
21
2.1.3.Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân.
Về phương diện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân, Luật HN&GĐ năm 2000 cho phép vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản
chung bằng văn bản hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.1.3.1.Nguyên tắc tự thỏa thuận của vợ chồng.
Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản
chung, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đây chính là điểm mới của Luật
HN&GĐ năm 2000 so với Luật HN&GĐ năm 1986.
Để tránh việc “thỏa thuận” của vợ chồng nhằm mục đích tẩu tán, trốn
tránh nghĩa vụ tài sản, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định việc thỏa thuận
của vợ chồng phải lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung như : lý do chia
tài sản, phần tài sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm
có hiệu lực của việc chia tài sản chung và những nội dung khác nếu có. Văn
bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng
thực theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 6
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ ). Nếu việc
thỏa thuận này nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản
không được pháp luật công nhận.
Thực tiễn xét xử cho thấy, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau
về các vấn đề đang có tranh chấp sẽ là biện pháp hữu hiệu hơn cả, tránh
được những mâu thuẫn bất đồng khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân.
Vợ chồng có thể thỏa thuận về hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã

chồng ở chung hay ở riêng với nhau sau khi chia tài sản chung là tùy thuộc
vào thực tế đời sống cụ thể của vợ chồng, điều này không làm hạn chế các
quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng theo quy định của pháp
23
luật.Vì vậy, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không có nghĩa là
quy định về chế độ ly thân. Do quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại nên trên
cơ sở tính chất cộng đồng của hôn nhân, khối tài sản chung của vợ chồng
phát sinh sau khi chia tài sản chung về nguyên tắc vẫn là sở hữu chung hợp
nhất, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2.1.4.2.Hậu quả pháp lý về tài sản.
Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản
còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”. Như vậy, nếu vợ
chồng thỏa thuận chia một phần tài sản chung thì phần đã chia, hoa lợi, lợi
tức phát sinh từ phần tài sản đã chia đó thuộc sở hữu riêng của vợ chồng;
phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
Vấn đề đặt ra là, trường hợp vợ chồng yêu cầu chia toàn bộ tài sản
chung thì không còn căn cứ phát sinh tài sản chung nữa, như vậy việc chi
dùng trong gia đình và các nghĩa vụ chung của vợ chồng sẽ được giải quyết
như thế nào? Trách nhiệm của các bên trong việc duy trì sự ổn định và phát
triển của gia đình sẽ được giải quyết ra sao? Vô hình chung quy định này có
thể làm ảnh hưởng tới sự ổn định của gia đình, mất đi bản chất, chức năng
của gia đình xã hội chủ nghĩa! Bởi vậy nhà làm luật cần phải có những quy
định chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định của gia đình.
Mặt khác Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của
Chính phủ còn quy định : “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh
doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản
chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận
khác”. Theo quy định này thì sau khi chia tài sản chung, mọi thu nhập mà
mỗi bên có được sẽ không thuộc sở hữu chung hợp nhất nữa. Điều này có

hơn.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status