Trách nhiệm dân sự do xâm phạm quyền tác giả theo pháp luật việt nam luận văn ths luật - Pdf 30


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT NGUYN TH LINH

THựC HIệN PHáP LUậT Về
PHòNG CHốNG GIAN LậN THƯƠNG MạI,
QUA THựC TIễN THàNH PHố HảI PHòNG

LUN VN THC S LUT HC


Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC Ngi hng dn khoa hc: GS.TS. HONG TH KIM QU
H NI 2015LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực.

1.3. Khái niệm pháp luật phòng chống gian lận thƣơng mại 29
1.4. Khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật phòng, chống gian
lận thƣơng mại 32
1.5. Những đặc điểm cơ bản của thực hiện pháp luật về phòng,
chống gian lận thƣơng mại 37
1.6. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về phòng, chống
gian lận thƣơng mại 42
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 53
Chƣơng 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG
GIAN LẬN THƢƠNG MẠI Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 54
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Hải Phòng 54
2.2. Thực trạng gian lận thƣơng mại ở thành phố Hải Phòng trong
những năm gần đây 56

2.3. Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận
thƣơng mại của thành phố Hải Phòng 59
2.3.1. Hệ thống các cơ quan chức năng về phòng chống gian lận thƣơng
mại của thành phố Hải Phòng 59
2.3.2. Công tác chỉ đạo, điều hành của Ban chỉ đạo 127 thành phố Hải Phòng 64
2.3.3. Kết quả hoạt động của Chi cục quản lý thị trƣờng về thực hiện
pháp luật phòng chống gian lận thƣơng mại 67
2.3.4. Kết quả hoạt động của một số cơ quan chức năng của thành phố Hải
Phòng về thực hiện pháp luật phòng chống gian lận thƣơng mại 73
2.4. Đánh giá về ƣu điểm, hạn chế, những nguyên nhân chủ yếu của
ƣu điểm, hạn chế trong thực hiện pháp luật phòng chống gian
lận thƣơng mại ở thành phố Hải Phòng 75
2.4.1. Đánh giá về ƣu điểm trong thực hiện pháp luật phòng chống gian
lận thƣơng mại ở thành phố Hải Phòng 75
2.4.2. Đánh giá về hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện
pháp luật phòng chống gian lận thƣơng mại ở thành phố Hải Phòng 78

chống gian lận thƣơng mại, bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng 102
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 104
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL
Áp dụng pháp luật
PCGLTM
Phòng chống gian lận
thƣơng mại
QLTT
Quản lý thị trƣờng
THPL
Thực hiện pháp luật
1
MỞ ĐẦU

hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật, kiểm tra, xử lý vi phạm chƣa nghiêm
chỉnh và công bằng; phẩm chất đạo đức dẫn đến tha hóa, biến chất, lợi dụng
chức vụ, quyền hạn để trục lợi, bảo kê, tiếp tay cho các đối tƣợng buôn lậu, gian
lận thƣơng mại và hàng giả.
Công tác PCGLTM, tổ chức thực hiện pháp luật về phía các cơ quan chức
năng còn rất nhiều hạn chế, yếu kém. Về phía ngƣời dân, doanh nghiệp, ngƣời
tiêu dùng vẫn còn thiếu hiểu biết pháp luật và chƣa tích cực tham gia vào phòng
chống gian lận thƣơng mại. Do vậy cần xác định PCGLTM là nhiệm vụ của toàn
xã hội mà trách nhiệm trung tâm đƣợc đặt ra đối với các cơ quan chức năng, phải
nắm vững và áp dụng nghiêm chỉnh, công bằng pháp luật về phòng chống gian
lận thƣơng mại.
Liên hệ thực tiễn thành phố Hải phòng về công tác phòng chống gian lận
thƣơng mại cũng có cả những thành tích, ƣu điểm và những hạn chế, yếu kém về
năng lực quản lý, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật, giáo dục pháp luật
trong doanh nghiệp và ngƣời dân. Trong những năm qua, các cơ quan chức năng
của thành phố Hải phòng đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng, chống gian
lận thƣơng mại. Tuy nhiên, so với tình hình mà dƣ luận xã hội đã phản ánh thì
kết quả đó chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về
phòng, chống gian lận thƣơng mại, qua thực tiễn thành phố Hải Phòng” làm đề
tài luận văn thạc sỹ của mình. Tác giả luận văn với mong muốn góp phần nhỏ
vào việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng thực hiện pháp luật về phòng,
chống gian lận thƣơng mại và đề xuất một số quan điểm, giải pháp đảm bảo thực
hiện tốt pháp luật về phòng, chống gian lận thƣơng mại. 3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu, liên quan trực tiếp và gián tiếp về đề tài thực hiện pháp luật
phòng chống gian lận thƣơng mại cho đến nay cũng đã nghiên cứu ở các cấp độ

quyền trẻ em ở nƣớc ta hiện nay, bảo vệ tại khoa Luật- ĐHQG HN năm 2013.
Giáo dục pháp luật cho công chức hành chính ở nƣớc ta hiện nay, luận án tiến sỹ
của tác giả Nguyễn Quốc Sửu, bảo vệ tại khoa Luật – ĐHQGHN năm 2010; Đỗ
Tiến Triển, Thực hiện pháp luật trong hoạt động của lực lƣợng công an nhân dân
để bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ở nƣớc ta hiện nay, luận án Phó Tiến sĩ năm
1996; Lê Trung Quân, Thực hiện pháp luật hoà giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
Bình Thuận hiện nay, thực trạng và giải pháp, luận văn thạc sĩ, năm 2004.
- Quách Thị Ngọc Chính, Thực hiện pháp luật đê điều ở tỉnh Ninh Bình
hiện nay, luận văn thạc sĩ, năm 2008.
- Nguyễn Thị Hƣờng, Thực hiện pháp luật về môi trƣờng tại tỉnh Nam
Định, luận văn thạc sĩ, năm 2008; Nguyễn Văn Sỹ, Thực hiện pháp luật về
phòng chống bạo lực gia đình ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, luận văn
thạc sĩ, năm 2010; Lƣu Tích Thái Hoà, Thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia
đình tại công đồng dân tộc Chăm tỉnh Ninh Thuận, luận văn thạc sĩ, năm 2010.
- Nguyễn Mạnh Hùng, Thực hiện pháp luật Hải Quan của Cục Hải Quan
thành phố Hà Nội trong điều kiện hội nhập quốc tế, luận văn thạc sĩ, năm 2011.
Đây là những công trình khoa học có chất lƣợng cao giúp tác giả luận văn
tham khảo, kế thừa. Qua đó cũng cho thấy chƣa có công trình khoa học về thực
hiện pháp luật về phòng chống gian lận thƣơng mại qua thực tiễn thành phố Hải
Phòng. Các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá để tác giả
tham khảo trong việc nghiên cứu đề tài này. Trong luận văn tác giả đã cố gắng
đƣa ra một số điểm mới nhƣ: quan điểm, giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật

5
về PCGLTM, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức các cơ quan chức năng trên
kết hợp đào tạo, giáo dục pháp luật, giáo dục phòng chống tham nhũng, tăng
cƣờng giáo dục pháp luật, thu hút ngƣời dân vào đấu tranh phòng chống gian lận
thƣơng mại.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có mục đích nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm cơ bản của thực hiện

7. Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn,
góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về PCGLTM.
- Góp phần nghiên cứu áp dụng một số giải pháp đảm bảo thực hiện
pháp luật về phòng, chống gian lận thƣơng mại ở thành phố Hải phòng nói
riêng và cả nƣớc nói chung.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về phòng, chống gian lận
thƣơng mại.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng chống gian lận
thƣơng mại của thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản đảm bảo thực hiện pháp luật về
phòng, chống gian lận thƣơng mại.
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN THƢƠNG MẠI

1.1. Khái niệm và các hình thức gian lận thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm gian lận thƣơng mại
Gian lận thƣơng mại (GLTM) trong đó có gian lận thƣơng mại điện tử
đang có chiều hƣớng gia tăng về số lƣợng và tính chất phức tạp, đa dạng, tinh vi,
thậm chí ngang nhiên tồn tại. Những hành vi gian lận thƣơng mại (GLTM) tồn
tại nhiều năm và gây thiệt hại rất lớn đến nền kinh tế nƣớc ta và gây thiệt hại trực
tiếp đến lợi ích của ngƣời tiêu dùng và thiệt hại đến sức khỏe của ngƣời dân.

Trong nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động thƣơng mại thể hiện sự tự do mua
bán theo giá cả thị trƣờng, ngƣời mua và ngƣời bán đƣợc tự do lựa chọn bạn
hàng. Mối quan hệ giữa sản xuất với thƣơng mại, thƣơng mại đƣợc thể hiện
không chỉ trong thực tiễn mà cả trong chính sách, pháp luật, để đảm bảo thực
hiện các chức năng nhà nƣớc; đảm bảo sự cân đối, hài hòa trong xây dựng kinh
tế, văn hóa xã hội giữa các vùng miền, giữa các thành phần kinh tế.
Hậu quả xã hội gây ra của hành vi GLTM là rất lớn, nếu không bị phát
hiện, bị xử lý kịp thời sẽ dẫn đến nhiều hậu quả, giúp gian thƣơng thu lợi rất
nhiều, vƣợt xa những nỗ lực làm ăn thật thà của những thƣơng nhân chân chính.
Từ lợi ích kinh tế, nó sẽ ăn sâu thành tâm lý, lừa gạt trong các hoạt động thƣơng
mại, đó là bản năng săn tiền bằng mọi giá. Lòng tham là vô đáy. Do đó, các hành
vi gian lận thƣơng mại diễn ra hàng ngày và xã hội càng phát triển, giao thƣơng
càng phong phú thì các hành vi này càng tinh vi để tiếp tục tồn tại. Ngƣời tiêu
dùng thƣờng có tâm lý ngại khiếu nại, tố cáo vì sợ tốn kém thời gian, công sức
hơn nữa thủ tục hành chính còn phức tạp. Đây là nguyên nhân nội tại, là xuất

9
phát điểm dẫn tới hành vi gian lận thƣơng mại, cộng với sự yếu kém trong quản
lý điều hành và yếu kém trong thực thi pháp luật.
Trong kinh tế thị trƣờng, đồng tiền trở thành phƣơng tiện có giá trị, làm
phát sinh tƣ tƣởng sùng bái đồng tiền, chạy theo cuộc sống giàu có không bằng
khả năng của mình, không tôn trọng pháp luật, làm giàu bất chính đó là buôn lậu
và gian lận thƣơng mại. Lợi dụng cơ chế tự do buôn bán lƣu thông hàng hoá một
số ngƣời đã kinh doanh trái pháp luật, gian lận để kiếm lời. Trong một môi
trƣờng cạnh tranh, nhiều thƣơng nhân đã quên trách nhiệm đạo đức, lƣơng tâm
đối với những khách hàng, những ngƣời tiêu dùng, miễn là đạt lợi nhuận cao.
Về năng lực quản lý kinh tế của các cơ quan nhà nƣớc cũng còn hạn chế,
hiệu quả quản lý thị trƣờng yếu. Những bất cập, sơ hở về pháp luật đã có tạo nên
môi trƣờng rộng lớn, màu mỡ cho các hành vi gian lận thƣơng mại đua nở, còn
các công cụ kiểm soát thì có nhƣng yếu và không rõ ràng đầu mỗi chịu trách

để thu đƣợc một lợi ích nào đó. Gian lận thương mại có ba biểu hiện tiêu biểu
là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp.
Hiện nay, ở Việt Nam chƣa có khái niệm đƣợc nêu rõ ràng, chính thức
trong các văn bản pháp luật liên quan. Thực tế là các văn bản pháp luật đã xác
định những hành vi nào là hành vi GLTM, nhƣng nhà làm luật thƣờng là để
chung trong các quy định về “hành vi buôn lậu và gian lận thƣơng mại”. Ví dụ,
theo Thông tƣ số 93/2010/TT-BTC hƣớng dẫn việc xác định các hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực tài chính là hành vi buôn lậu, gian lận thƣơng mại và
hàng giả: “Các hành vi buôn lậu, gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải
quan bao gồm: Không khai hoặc khai sai so với thực tế về tên hàng, chủng loại,
số lƣợng, trọng lƣợng, chất lƣợng, trị giá, xuất xứ, mã số hàng hoá, thuế suất đối
với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Khai khống về tên hàng, số lƣợng, trọng
lƣợng, trị giá hàng hoá xuất khẩu; Lập và khai không đúng các nội dung trong hồ

11
sơ quyết toán thuế, hồ sơ thanh khoản, hồ sơ miễn thuế, hồ sơ xét miễn, giảm
thuế, hoàn thuế, không thu thuế; Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp,
không đúng với thực tế giao dịch để kê khai thuế; tự ý tẩy xoá, sửa chữa chứng
từ dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế đƣợc miễn, giảm, đƣợc
hoàn…”
Không phải đến bây giờ ở nƣớc ta mới có gian lận thƣơng mại. Gian lận
thƣơng mại là một hiện tƣợng mang tính lịch sử. Ở đâu có sản xuất hàng hóa, các
sản phẩm đƣợc mang ra trao đổi trên thị trƣờng, có ngƣời mua, ngƣời bán nhằm
thực hiện phần giá trị đƣợc kết tinh trong hàng hóa thì gian lận thƣơng mại cũng
xuất hiện. Về truyền thống, gian lận thƣơng mại ở Việt Nam không phải là vấn
đề mới, từ xa xƣa, ông cha ta đã đúc kết hành vi gian lận thƣơng mại thành câu:
"Buôn gian, bán lận" để chỉ những mặt trái của việc buôn bán, để mọi ngƣời
cảnh giác với thủ đoạn, mánh khóe, lừa dối khách hàng của các gian thƣơng.
Hiện nay, chúng ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận động theo cơ chế thị trƣờng có sự điều tiết của Nhà nƣớc. Chấp nhận cơ chế

đƣợc định nghĩa một cách cụ thể trong pháp luật Việt Nam hiện nay, nhƣng ở
một số văn bản, các nhà làm luật đã cố gắng “nhận diện” các hành vi rất khác
nhau của gian lận thƣơng mại. Cách nhận diện hành vi gian lận thƣơng mại mỗi
bộ ngành mỗi kiểu, mỗi lĩnh vực một sự xác định đã khiến cho tình hình quản lý
có thể bị rối bời cần sự thống nhất, khái quát cao để có thể xác định rõ hành vi
gian lận thƣơng mại, thậm chí hình sự hóa hành vi gian lận thƣơng mại trong các
điều luật của Bộ luật hình sự một cách cụ thể hơn hiện nay"[11].
Ví dụ: Thông tƣ 93/2010/TT-BTC hƣớng dẫn xác định các hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính là hành vi buôn lậu, gian lận thƣơng
mại và hàng giả. Nghĩa là, các lĩnh vực khác lại không đƣợc “nhận diện”. Thông
tƣ 93/2010/TT-BTC hƣớng dẫn các hành vi thuộc các nghị định khác nhau nhƣ

13
Nghị định 107/2008/NĐ-CP, Nghị định 41/2009/NĐ-CP, Nghị định
89/2002/NĐ-CP tuy nhiên lại chỉ khoanh lại ở các hành vi gian lận thƣơng mại
trong lĩnh vực tài chính, còn hàng loạt vấn đề gian lận thƣơng mại liên quan đến
chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa; tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng; an toàn vệ sinh
thực phẩm, bảo vệ ngƣời tiêu dùng sẽ nằm rải rác ở các văn bản khác, hoặc
thậm chí không đƣợc hƣớng dẫn, “nhận diện” một cách cụ thể.
Nghĩa là, hiện nay đang còn tình trạng, mỗi bộ ngành mỗi cách nhận diện
hành vi gian lận thƣơng mại tùy hứng, dễ tạo nên sự chồng chéo, rất khó tập trung
về một đầu mối để quyết liệt kiểm soát và trừng trị nạn gian lận thƣơng mại.
Trong khi Điều 8, Luật Thƣơng mại nêu đến 13 nhóm hành vi bị cấm thì
chƣa đƣợc cụ thể hóa một cách rõ ràng ở các văn bản dƣới luật, đồng thời thật
khó có thể lắp ghép các hành vi bị cấm này với các quy định của Bộ luật hình sự
để xác định trách nhiệm hình sự của mỗi loại hành vi khác nhau.
Thông tƣ 93/2010/TT-BTC, ngày 28 tháng 6 năm 2010 của Bộ Tài chính
nêu hƣớng dẫn xác định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính
là hành vi buôn lậu, gian lận thƣơng mại và hàng giả, trong đó quy định 54 hành
vi buôn lậu, gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan, 20 hành vi gian lận

vi gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực tài chính, trong khi đó cón rất nhiều lĩnh
vực nơi diễn ra hành vi thƣơng mại; hàng loạt vấn đề gian lận thƣơng mại liên
quan đến chất lƣợng sản phẩm, hàng hóa; tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng; an
toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ ngƣời tiêu dùng lại không nằm trong phạm vi
điều chỉnh của các văn bản pháp luật nêu trên, hoặc lại nằm rải rác ở các văn bản
khác, hoặc thậm chí không đƣợc hƣớng dẫn, “nhận diện” một cách cụ thể.
Không chỉ ở việc là chƣa đƣa ra khái niệm chuẩn xác về hành vi gian lận
thƣơng mại, mà còn tản mạn, chung chung trong nội dung các văn bản pháp luật,
chƣa chỉ rõ đƣợc hành vi gian lận thƣơng mại nhƣ thế nào thì chịu trách nhiệm

15
hình sự. Hành vi gian lận thƣơng mại tinh vi, xảo trá và biến tƣớng ở rất nhiều
kiểu khác nhau ở các lĩnh vực khác nhau mà chỉ quy về các vấn đề nhƣ thuế, hải
quan, hàng giả, cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hóa, quảng
cáo thì rõ ràng chƣa đầy đủ.
Trên thế giới, cũng mới chỉ có định nghĩa về gian lận thƣơng mại trong
lĩnh vực Hải quan đƣợc đƣa ra tại Hội nghị Quốc tế lần thứ V về chống gian lận
thƣơng mại do WCO họp tại Brussels (Bỉ) nhƣ sau:
Gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều
khoản pháp quy hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh
việc nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng
hoá thƣờng mại; Hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp
cho hàng hoá không thuộc đối tƣợng đó; Hoặc đạt đƣợc hoặc cố ý đạt đƣợc lợi
thế thƣơng mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục, cạnh tranh
thƣơng mại chân chính.
Định nghĩa theo quan niệm của Hiệp hội DEP về bảo vệ ngƣời tiêu dùng
của Dubai thì gian lận thƣơng mại đƣợc xác định là giả mạo hàng gốc, gian lận
là có ý định lừa dối hoặc gây nhầm lẫn một trong các bên trong giao dịch hợp
đồng, liên quan đến các đặc điểm kỹ thuật nguồn gốc, mô tả… của hàng hóa và
dịch vụ bán ra, hoặc trình bày thông tin sai lệch về hàng hóa liên quan đến nguồn

khác dựa vào sự che giấu, đàn áp hoặc thiếu sót nhƣ vậy thực tế vật liệu ".
Gian lận thƣơng mại là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực
thƣơng mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng
hoá, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính. Mục đích của hành vi gian lận
thƣơng mại là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối

17
trá. Chủ thể tham gia hành vi gian lận thƣơng mại bao gồm: ngƣời mua, ngƣời
bán, hoặc cả ngƣời mua và ngƣời bán thông qua đối tƣợng là hàng hóa.
Mỗi một định nghĩa nêu trên đều có tính phù hợp, nhƣng cũng chƣa có
định nghĩa nào bao quát, thể hiện hết đƣợc nội dung, bản chất và các hành vi của
gian lận thƣơng mại.
Qua nghiên cứu, tuy trong pháp luật chƣa nêu rõ về khái niệm hành vi
gian lận thƣơng mại mà chỉ nêu cụ thể về một số hành vi GLTM, tác giả luận
văn cho rằng, có thể hiểu gian lận thƣơng mại nhƣ sau:
- Khái niệm gian lận thƣơng mại xét về phƣơng diện pháp luật:
Gian lận thương mại là hành vi có tính chất không trung thực, lừa dối, gây
ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước và xã hội,
được quy định về nguyên tắc trong các văn bản pháp luật, nhằm mục đích trục
lợi trong hoạt động thương mại.
1.1.2. Hình thức gian lận thƣơng mại
Theo tài liệu số 36 623 ngày 28/5/1995 của Hội nghị Quốc tế lần thứ V
của Tổ chức Hải quan thế giới về chống gian lận thƣơng mại do WCO họp tại
Brussels (Bỉ) đã khẳng định gian lận thƣơng mại tồn tại dƣới 16 hình thức sau:
1- Buôn lậu hàng hóa qua biên giới hoặc ra khỏi kho Hải quan
2- Khai báo sai chủng loại hàng hoá
3- Khai tăng, giảm giá trị hàng hóa
4- Lợi dụng chế độ ƣu đãi xuất xứ (kể cả chế độ hạn ngạch thuế)
5- Lợi dụng chế độ ƣu đãi hàng gia công
6- Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất

nhƣ: hạn ngạch, chế độ ƣu đãi, bản quyền sản xuất

Trích đoạn Hoàn thiện pháp luật về phòng chống gian lận thƣơng mại Tăng cƣờng trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về Tăng cƣờng trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chức năng đáp Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chức năng đáp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status