ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ THANH HOÀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ
LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DẪN ĐỘ
4
1.1
Quá trình hình thành và phát triển của các quy định về dẫn độ tội
phạm
4
1.2
Khái niệm dẫn độ tội phạm
6
1.2.1
Định nghĩa
6
1.2.2
Đặc điểm của hoạt động dẫn độ tội phạm
11
1.3.
Các nguyên tắc của dẫn độ tội phạm
20
1.3.1
Nguyên tắc có đi có lại
20
1.3.2
Nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình
2.1.2
Về đối tượng của hoạt động dẫn độ tội phạm
38
2.1.3
Về các trường hợp không dẫn độ tội phạm
44
2.1.4
Về thủ tục dẫn độ tội phạm
48
2.1.5
Một số quy định khác
53
2.2
Một số điều ước song phương về dẫn độ tội phạm giữa các quốc
gia
55
2.2.1
Hiệp ước dẫn độ giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu
55
2.2.2
Hiệp ước dẫn độ giữa Trung Quốc và Tây Ban Nha
58
2.3
Quy định về dẫn độ trong pháp luật một số quốc gia
60
2.3.1
Đạo luật dẫn độ năm 1999 của Canada
60
2.3.2
3.3.1
Một số hoạt động dẫn độ thực hiện tại Việt Nam
114
3.3.2
Một số khó khăn khi thực hiện hoạt động dẫn độ tại Việt Nam
120
3.3.3
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dẫn độ tại Việt
Nam
124
KẾT LUẬN
129
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
130
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển không ngừng của cộng đồng quốc tế trên mọi lĩnh vực đã mang lại
thuận lợi cho các quốc gia trong quá trình phát triển của mình. Mặt trái của quá
trình phát triển này chính là sự gia tăng không ngừng của tỷ lệ tội phạm cả về mức
độ và tính chất của hành vi.
Nhằm tiến hành đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, các quốc gia đã sử
dụng phương thức hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm thông qua hoạt động
dẫn độ tội phạm. Để thực hiện được hoạt động này, các quốc gia luôn ý thức được
tầm quan trọng của việc hợp tác với quốc gia khác trên cơ sở các điều ước quốc tế
song phương và đa phương về dẫn độ tội phạm được xây dựng trong nhiều năm
qua. Tuy nhiên, có rất ít điều ước quốc tế đa phương quy định riêng về dẫn độ tội
tội phạm nhằm trả lời các câu hỏi: Thế nào là dẫn độ tội phạm? Đặc điểm và các
nguyên tắc của dẫn độ tội phạm? Cơ sở pháp lý quốc tế toàn cầu và song phương về
dẫn độ tội phạm? Bên cạnh đó, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng hợp tác
quốc tế về dẫn độ tội phạm ở Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về vấn đề này qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác về dẫn
độ tội phạm giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các khía
cạnh pháp lý xung quanh nội dung về hợp tác dẫn độ tội phạm với nguồn chủ yếu là
các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm và các quy định của pháp luật Việt Nam về
vấn đề này.
Đề tài nghiên cứu về hợp tác dẫn độ tội phạm trên cơ sở tìm hiểu các điều ước
quốc tế đa phương, song phương và pháp luật của một số quốc gia về dẫn độ tội
phạm. Trong việc nghiên cứu cơ sở pháp lý đa phương và song phương về dẫn độ
tội phạm, đề tài chỉ nghiên cứu một số điều ước quốc tế đa phương và ở những khu
vực và những quan hệ hợp tác song phương mang tính điển hình.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân
tích, so sánh, liệt kê, tổng hợp dựa trên nền tảng là phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật để làm rõ đối tượng nghiên cứu đã
đặt ra.
3
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản của pháp luật
quốc tế về dẫn độ tội phạm;
- Luận văn hệ thống và làm rõ các vấn đề pháp lý của pháp luật Việt Nam về dẫn đô
tội phạm;
- Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dẫn độ tội
phạm.
6. Kết cấu của luận văn
trì hoà bình giữa hai quốc gia, trong đó điều khoản về dẫn độ được ghi nhận trong
10 điều với nội dung: “Nếu một người bỏ trốn từ Hattite đến Reamasesa, vị vua vĩ
đại của quốc gia này sẽ giữ người đó và trao trả người này cho Hattusili, vị vua
của nước Hattite; Nếu một người quý tộc bỏ trốn từ Hattite do không muốn phục vụ
đức vua của đất nước này sang Ai Cập, vua Reamasesa sẽ không cho phép họ cư
trú ở Ai Cập mà giao họ cho Hattusili ” [63]
5
Những quy định này được coi là những quy định đầu tiên và sơ khai của hoạt
động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm giữa các quốc gia thông qua dẫn độ.
Ở thời kỳ này (thời kỳ của chế độ chiếm hữu nô lệ). Cũng phải kể đến sự xuất hiện
của điều ước đa phương đầu tiên của cộng đồng quốc tế liên quan đến hoạt động
dẫn độ, đó là điều ước trong lĩnh vực tội làm tiền giả, vỡ nợ và giết người năm
1802, Công ước năm 1889 giữa các quốc gia Achentina, Bôlivia, Paragoay, Pêru,
Urugoay về luật hình sự quốc tế, với một số điều khoản liên quan đến vấn đề dẫn độ
tội phạm. Dẫn độ tội phạm được coi là hoạt động hợp tác được tiến hành chủ yếu
giữa các quốc gia. Đây là một trong số những nội dung của hợp tác đấu tranh
phòng chống tội phạm, là hình thức pháp lý trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử
tư pháp và thuộc ngành Luật hình sự quốc tế.
Nói đến sự phát triển của các quy định về dẫn độ tội phạm thì không thể
không nhắc đến một trong những văn bản có ý nghĩa hết sức quan trọng chứa đựng
các quy định về dẫn độ, đó là bản dự thảo công ước chung về tư pháp quốc tế của
các nước châu Mỹ (ra đời tại Hội nghị quốc tế lần thứ VI được triệu tập năm 1928.
Quyển 3 ghi nhận các quy phạm điều chỉnh vấn đề dẫn độ tội phạm. Bên cạnh đó,
trong khuôn khổ hợp tác tư pháp của các nước Bắc Âu đã ký kết hiệp định về dẫn
độ tội phạm năm 1962…[24] Từ cuối thế kỷ 19, Viện luật quốc tế đã thông qua
Nghị quyết Ôcxphot thể hiện việc khuyến khích ký kết các điều ước song phương
về dẫn độ tội phạm và bày tỏ quan điểm về khả năng dẫn độ tội phạm không dựa
trên cơ sở có điều ước quốc tế hữu quan, về cấm dẫn độ vì các lý do chính trị.
Trong sự phát triển của các quy phạm về dẫn độ nói riêng và sự phát triển
các quy phạm về dẫn độ đã được pháp điển hoá, hoàn thiện quá các điều ước quốc
tế song phương và đa phương, góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh quan hệ
giữa các quốc gia liên quan đến đấu tranh và phòng chống tội phạm trên phạm vi
toàn cầu. Những quy định này sẽ còn được phát triển hơn nữa nhằm tạo ra cơ sở
pháp lý vững chắc cho cộng đồng quốc tế đối đầu với tỷ lệ phạm tội đang ngày càng
gia tăng cả về số lượng và tính chất nguy hiểm.
1.2. Khái niệm dẫn độ tội phạm
1.2.1. Định nghĩa dẫn độ tội phạm
Trong quá trình phát triển của các quy định về dẫn độ tội phạm, một trong
những vấn đề được tất cả các quốc gia quan tâm đó là hiểu thật đúng thế nào là dẫn
7
độ tội phạm? Có rất nhiều quan điểm khác nhau được ghi nhận trong các từ điển,
tác phẩm nghiên cứu và cả quan điểm của các quốc gia khi đưa ra khái niệm dẫn độ
tội phạm. Việc xem xét các khái niệm này sẽ giúp chúng ta tìm được cách hiểu
chính thức về hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm quan trọng này.
Theo từ điển Cambridge thì “dẫn độ là việc đưa một người nào đó trở lại
quốc gia mà họ bị cáo buộc là đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật quốc gia đó
để xét xử.”[58]
Định nghĩa về dẫn độ của Cambridge đưa ra chưa thực sự thể hiện rõ ý nghĩa
của hoạt động này, theo đó, ta chưa thấy được chủ thể thực hiện hoạt động dẫn độ là
ai? Hơn nữa định nghĩa này đã đề cập đến một thuật ngữ “hành vi vi phạm” ở một
nghĩa quá rộng bởi nếu nói về hành vi vi phạm pháp luật thì có thể nghĩ tới hành vi
vi phạm luật hành chính, luật dân sự Tuy nhiên, không phải hành vi vi phạm nào
đối với pháp luật của một quốc gia cũng khiến cá nhân đó bị đưa ra xét xử trước tòa
án (có thể hành vi vi phạm đó chưa hội tụ đủ các yếu tố cấu thành tội phạm ). Hơn
nữa, ở đây định nghĩa mới chỉ đề cập đến một chủ thể của hoạt động dẫn độ tội
phạm đó là quốc gia mà cá nhân đó bị cáo buộc là đã thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật quốc gia đó, còn chưa thấy đề cập đến chủ thể tiến hành hoạt động dẫn độ
(đó là cá nhân, tổ chức hay quốc gia )
đang hiện diện trên lãnh thổ nước mình cho quốc gia có yêu cầu để tiến hành truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với cá
nhân đó”. [29]
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy hoạt động dẫn độ tội phạm trước hết là hoạt động
hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau về mặt pháp lý (tương trợ pháp lý) dựa trên sự thoả thuận
giữa các quốc gia hữu quan, chủ thể của hoạt động này là quốc gia yêu cầu và quốc
gia được yêu cầu, đối tượng là cá nhân đang hiện diện trên lãnh thổ quốc gia được
yêu cầu, và mục đích của hoạt động dẫn độ là nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự
hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với cá nhân bị dẫn độ.
Khi xem xét về khái niệm dẫn độ tội phạm, người đọc có thể nhận thấy có rất
nhiều thuật ngữ mà ta khó có thể phân biệt được chúng với hoạt động dẫn độ tội
phạm (thuật ngữ trục xuất, chuyển giao, nhượng bộ ). Chính vì vậy, xem xét về
khái niệm dẫn độ, đồng thời chúng ta phải xem xét sự khác biệt giữa thuật ngữ này
với một số thuật ngữ, nhằm sử dụng các thuật ngữ này theo đúng hoàn cảnh của nó.
9
“Trục xuất”: được hiểu là việc một cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sở
tại tuyên bố yêu cầu người nước ngoài hay người không có quốc tịch phải rời khỏi
lãnh thổ nước sở tại vì người đó vi phạm pháp luật hoặc can thiệp vào công việc nội
bộ của nước này. Trục xuất có thể được tiến hành bằng cách ra lệnh để người nước
ngoài phạm pháp buộc phải rời khỏi nước sở tại trong một thời hạn nhất định hoặc
tiến hành theo thủ tục cưỡng chế.[38] Hay nói cách khác thì “Trục xuất là việc buộc
một cá nhân nào đó phải rời khỏi một quốc gia”. [63]
Trục xuất không phải là hoạt động hợp tác giữa các quốc gia mà là một trong những
hình phạt thông thường được quy định trong pháp luật quốc gia. Ví dụ như Điều 15
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 hoặc Điều 32 Bộ luật Hình sự năm
1999 của Việt Nam quy định trục xuất là buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm
pháp luật Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Như vậy, hành vi trục xuất được tiến hành bởi cơ quan có thẩm quyền của
quốc gia đó, việc này được tiến hành khi cá nhân (người không mang quốc tịch của
quốc gia này hay quốc gia nào khác. Trong khi đó, hoạt động dẫn độ nhằm phục vụ
lợi ích cho quốc gia yêu cầu, cụ thể là thực hiện quyền tài phán của quốc gia này
đối với hành vi vi phạm pháp luật quốc gia của cá nhân đó nhưng đã bỏ trốn ra nước
ngoài.
“Nhượng bộ”: Thuật ngữ này được ghi nhận trong hoạt động hợp tác đấu
tranh phòng chống tội phạm giữa các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu
(EU). [59] Nhượng bộ được hiểu là các thủ tục dẫn độ sẽ được thay thế bằng việc sử
dụng nguyên tắc “công nhận lẫn nhau” trong hoạt động xét xử tội phạm tại các quốc
gia này. Theo đó, một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ của bất cứ
quốc gia thành viên nào của EU đều có thể bị xét xử bởi toà án của quốc gia khác,
quốc gia còn lại sẽ chỉ tiến hành hành vi công nhận phán quyết của toà án đã xét xử
tội phạm này. Đây được coi như một sự nhượng bộ giữa các quốc gia thành viên EU
với nhau khi tiến hành các hoạt động hợp tác phòng chống tội phạm, nhằm thể hiện
sự thống nhất về mặt ý chí khi xét xử và đưa ra phán quyết đối với những cá nhân
phạm tội trong toàn phạm vi EU. Có thể thấy sự khác biệt rõ ràng giữa hoạt động
này với hoạt động dẫn độ tội phạm. Theo đó thì cá nhân phạm tội có thể bị xét xử
bởi bất cứ toà án của quốc gia thành viên EU nào chứ các quốc gia không phải đưa
ra yêu cầu dẫn độ tội phạm. Việc của quốc gia nơi bị hành vi phạm tội xâm hại phải
11
tiến hành chỉ là công nhận phán quyết của toà án đã xét xử tội phạm đó. Trong khi
đối với dẫn độ, quốc gia yêu cầu sẽ phải đáp ứng các trình tự, thủ tục của một yêu
cầu dẫn độ, gửi nó cho quốc gia được yêu cầu, quốc gia này đồng ý và giao cá nhân
có hành vi vi phạm cho quốc gia yêu cầu trực tiếp tiến hành xét xử.
Từ những sự khác biệt của các thuật ngữ trên có thể thấy rằng, xét về mặt
pháp lý, thuật ngữ dẫn độ có sự khác biệt tương đối so với các thuật ngữ còn lại,
dẫn độ thể hiện mục đích và bản chất của hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống
tội phạm, đó là sự tượng trợ, hỗ trợ về mặt pháp lý giữa các quốc gia để thực hiện
thẩm quyền xét xử hình sự của quốc gia đối với các loại tội phạm có tính chất quốc
tế. Hoạt động này được thực hiện giữa các quốc gia trên cơ sở điều ước quốc tế đã
trên lãnh thổ quốc gia này, trên cơ sở mối quan hệ đã được thiết lập giữa hai quốc
gia và phụ thuộc vào ý chí của quốc gia mình, họ có thể tiến hành bắt giữ và chuyển
giao đối tượng đã phạm tội trước đó cho quốc gia yêu cầu. Quốc gia được yêu cầu,
trong những trường hợp được quy định bởi Luật quốc tế cũng có thể từ chối dẫn độ
cá nhân được yêu cầu dẫn độ. Ví dụ như: Trường hợp cá nhân bị yêu cầu dẫn độ là
công dân của quốc gia được yêu cầu, cá nhân đó là tội phạm chính trị, tội phạm mà
cá nhân bị yêu cầu dẫn độ thực hiện có thể bị xét xử bởi hình phạt tử hình theo pháp
luật của bên yêu cầu
Thứ hai, về cơ sở pháp lý tiến hành hoạt động hợp tác về dẫn độ. Đây là một
trong những đặc điểm rất quan trọng của hoạt động dẫn độ tội phạm.
Luật quốc tế thường xem xét việc quốc gia được yêu cầu đáp ứng yêu cầu dẫn độ
tội phạm và thực hiện việc dẫn độ tội phạm đang hiện diện trên lãnh thổ quốc gia
mình là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của quốc gia đó. Quyền này được tiến
hành trên cơ sở chủ quyền quốc gia, quốc gia có toàn quyền trong việc quyết định
có cho phép một cá nhân được hiện diện trên lãnh thổ nước mình (kể cả khi có hành
vi phạm tội tại nước ngoài hay không?). Họ có thể cho phép cá nhân đó được cư trú
(cư trú chính trị, tị nạn ) trên lãnh thổ của mình mà không cần phải xin phép các
quốc gia khác. Dẫn độ tội phạm là vấn đề trực tiếp động chạm đến quyền và lợi ích
của chính quốc gia, nó không tồn tại dưới dạng nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ với
các quốc gia khác, quốc gia sẽ không buộc phải dẫn độ tội phạm nếu quốc gia này
không mong muốn làm việc đó.
13
Nghĩa vụ dẫn độ tội phạm sẽ chỉ phát sinh trong trường hợp các quốc gia có
cơ sở pháp lý để thực hiện nghĩa vụ này, biểu hiện của nó là việc các quốc gia tiến
hành ký kết điều ước quốc tế có nội dung về dẫn độ tội phạm với các quốc gia khác.
Trong trường hợp giữa các bên không tồn tại điều ước quốc tế về hợp tác dẫn độ tội
phạm thì quốc gia sở tại cũng có thể tiến hành giao đối tượng phạm tội trên cơ sở
nguyên tắc có đi có lại được tồn tại dưới dạng tập quán quốc tế trong quan hệ giữa
hai quốc gia. Ngoài ra, một số điều ước quốc tế đa phương cũng có quy định rõ ràng
hoá các quy định dựa trên hoàn cảnh thực tiễn trong quan hệ giữa các bên để đưa ra
yêu cầu hoặc đáp ứng yêu cầu dẫn độ.
Bên cạnh các điều ước đa phương là các điều ước quốc tế song phương, đây là
loại nguồn chiếm số lượng lớn và điều chỉnh một cách cụ thể, chi tiết các thoả thuận
về dẫn độ được ký kết giữa các quốc gia với nhau. Nội dung hợp tác về dẫn độ tội
phạm có thể được ghi nhận trong một điều ước riêng biệt (Hiệp định dẫn độ tội
phạm giữa Hoa Kỳ và Pháp năm 1996, Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam
và Đại Hàn Dân Quốc năm 2003 ), hoặc là một phần trong các điều ước quốc tế về
tương trợ tư pháp (Hiệp định Tương trợ Tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và
hình sự giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga năm
1998, Hiệp định Tương trợ Tư pháp về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 1998…). Các
điều ước quốc tế song phương này luôn thể hiện được ưu thế rõ rệt của mình trong
việc thể hiện sự thoả thuận chi tiết, phù hợp về cả điều kiện, hoàn cảnh cũng như
mối quan hệ giữa hai quốc gia với nhau.
Cùng với sự hiện diện của các điều ước quốc tế điều chỉnh một cách cụ thể,
với thời gian hình thành nhanh chóng, có giá trị pháp lý bắt buộc với tất cả các
thành viên của điều ước đó. Thì hoạt động dẫn độ tội phạm còn được điều chỉnh bởi
một loại nguồn cơ bản khác của Luật quốc tế, đó là tập quán quốc tế, loại nguồn
hình thành từ lâu đời, có sức bền trong việc điều chỉnh mối quan hệ của tất cả các
chủ thể Luật quốc tế.
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành từ trong thực tiễn
quan hệ quốc tế, được sử dụng lặp đi lặp lại được các chủ thể của luật quốc tế thừa
nhận là luật.[29] Có thể kể đến các tập quán quốc tế trong lĩnh vực này như: nguyên
15
tắc có đi có lại, nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình, không dẫn độ tội
phạm chính trị…
Những quy tắc xử sự này đã thể hiện thế mạnh về sự tồn tại lâu đời của nó, có giá
trị với mọi chủ thể của luật quốc tế. Với sự hình thành và tồn tại lâu dài của mình,
phạm hình sự chung có tính chất quốc tế. Đây là loại tội phạm có sự khác biệt tương
đối rõ ràng đối với hai nhóm tội phạm còn lại, theo đó:
Tội phạm quốc tế: Tội phạm quốc tế được Uỷ ban luật quốc tế xác định là
loại tội phạm tiến hành các hoạt động chống lại pháp luật quốc tế, phát sinh do hành
vi vi phạm nghĩa vụ của quốc gia. Đây là nghĩa vụ có ý nghĩa cơ bản trong việc đảm
bảo các quyền lợi sống còn của cộng đồng quốc tế. Đây là loại tội phạm gây nguy
hiểm đối với toàn thể nhân loại bởi mức độ xâm hại tới hoà bình và an ninh quốc tế
của chúng. [29]
Nhóm tội phạm này bao gồm các hành vi được ghi nhận trong luật quốc tế (ghi
nhận trong các điều ước quốc tế và dưới dạng tập quán quốc tế). Trên cơ sở các điều
ước quốc tế, cụ thể là các quy định được ghi nhận trong Quy chế Toà án hình sự
quốc tế (ICC), tội phạm quốc tế bao gồm các tội sau: tội ác chiến tranh, tội diệt
chủng và apacthai, tội chống lại loài người, tội ác xâm lược. Các cá nhân tiến hành
các hoạt động này sẽ được xét xử bởi cộng đồng quốc tế, thực tiễn đã chứng minh
với các toà án Adhoc được thành lập để xét xử các tội phạm chiến tranh tại
Nurumbe và Tokyo sau chiến tranh thế giới lần thứ II; Các toà án đặc biệt xét xử tội
ác chiến tranh ở Nam Tư cũ và Rwanda vào các năm 1993 và 1994. Theo đó, các
quốc gia sẽ phải tiến hành dẫn độ các cá nhân đang hiện diện trên lãnh thổ quốc gia
mình cho các Toà án quốc tế nói trên xét xử. Tuy nhiên, trong thực tiễn đời sống
quốc tế, trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tôn trọng chủ quyền quốc gia trong lĩnh
vực hành pháp, cộng đồng quốc tế thừa nhận khả năng và quyền của quốc gia khi
quốc gia đó có thể trực tiếp tiến hành xét xử các loại tội phạm này mà không cần
phải dẫn độ để xét xử tại Toà án quốc tế, và các Toà án quốc tế sẽ chỉ tiến hành xét
xử khi các quốc gia không có khả năng xét xử hoặc chấp nhận thẩm quyền của Toà
án quốc tế trong các trường hợp này.
Tội phạm có tính chất quốc tế: theo khoa học luật hình sự quốc tế, tội phạm
có tính chất quốc tế (trong một số tài liệu, sách báo chuyên khảo của các học giả
luật hình sự quốc tế còn được gọi là “tội phạm theo công ước” hoặc “tội phạm hình
17
18
Bốn là, các tội phạm có tính chất quốc tế khác như tội rửa tiền, tội xâm phạm
tình dục trẻ em, tội phá hoại dây cáp ngầm dưới biển…
Các học giả luật quốc tế đã đưa ra các ý kiến khác nhau để xác định tội phạm có
tính chất quốc tế. Trên cơ sở các điều ước quốc tế song phương và đa phương đã
được ký kết giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế thì tội phạm có tính chất
quốc tế thường bao gồm các loại tội sau: tội cướp biển, tội buôn bán nô lệ và con
người, tội phạm khủng bố quốc tế, tội bắt cóc con tin, tội phạm đe doạ an ninh hàng
không và hàng hải quốc tế, tội buôn bán bất hợp pháp ma tuý, tội làm tiền giả, tội
phạm có tổ chức xuyên quốc gia…
Trên cơ sở các quan điểm được xem xét và căn cứ vào phạm vi điều chỉnh
của các điều ước quốc tế chuyên môn, về thẩm quyền tài phán được quy định đối
với loại tội phạm có tính chất quốc tế và vấn đề dẫn độ tội phạm có tính chất quốc
tế trong các quy định của điều ước quốc tế có liên quan, ta xem xét tội phạm có tính
chất quốc tế bao gồm: tội phạm cướp biển (Công ước năm 1958 về biển cả,
UNCLOS 1982 của Liên hợp quốc ), tội buôn bán nô lệ và con người (Công ước
Xanh – Giecmanh năm 1919, Công ước năm 1926 về vấn đề nô lệ ), tội phạm
khủng bố quốc tế (Công ước châu Âu năm 1976 về đấu tranh chống khủng bố…),
tội bắt cóc con tin (Công ước về đấu tranh chống tội phạm bắt cóc con tin năm 1979
của Liên hợp quốc ), tội phạm đe doạ hoà bình an ninh hàng không và hàng hải
quốc tế (Công ước Tôkyô năm 1963 về tội phạm và các hành vi khác thực hiện trên
các phương tiện bay, Công ước Roma về đấu tranh chống các hành vi bất hợp pháp
chống lại an ninh hàng hải quốc tế năm 1988 ), tội buôn bán bất hợp pháp ma tuý
(Công ước năm 1971 về các chất hướng thần ), tội làm tiền giả (Công ước Giơnevơ
năm 1929 về chống làm tiền giả ), tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước
về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 của Liên hợp quốc…).
Như vậy, điểm khác biệt giữa tội phạm quốc tế và tội phạm có tính chất quốc tế có
thể được xem xét như sau:
19
xét xử
Luật áp dụng để xét xử là luật
quốc tế.
Luật áp dụng để xét xử sẽ là luật
của quốc gia thành viên xét xử tội
phạm đó.
Tội phạm hình sự chung: Nếu như tội phạm quốc tế và tội phạm có tính chất
quốc tế đều xâm hại đến lợi ích của cộng đồng quốc tế với tính chất và mức độ
nguy hiểm khác nhau thì nhắc đến tội phạm hình sự chung là chúng ta nhắc đến loại
tội phạm không xâm hại đến trật tự pháp lý quốc tế cũng như không đụng chạm đến
quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Đây là những loại tội phạm xâm hại trực tiếp đến
lợi ích của các cá nhân, pháp nhân và chính quốc gia mà tội phạm thực hiện. Việc
xét xử loại tội phạm này sẽ do cơ quan tài phán quốc gia thực hiện trên cơ sở pháp
luật của quốc gia đó. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể loại trừ trường hợp cá
nhân thực hiện hành vi xâm hại trật tự pháp lý của quốc gia đó mà lại bỏ trốn sang
quốc gia khác, khi đó, sự giúp đỡ của các quốc gia khác sẽ rất hữu ích đối với quốc
gia này nhằm đảm bảo thực hiện việc trừng trị tội phạm có hiệu quả. Trong trường
hợp đó, các quốc gia có thể thực hiện việc truy nã, dẫn độ, trợ giúp tư pháp… Để
thực hiện được sự hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần cho quốc gia có kẻ phạm tội đã
20
chạy trốn, các quốc gia cần phải ký kết các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm
hoặc tương trợ tư pháp.
Từ những sự phân tích về khái niệm, đặc điểm và chỉ ra sự khác biệt giữa các
loại tội phạm cũng như một số thuật ngữ sử dụng trong hoạt động hợp tác đấu tranh
phòng chống tội phạm, ta có thể thấy rằng đối tượng chính của hoạt động dẫn độ tội
phạm chính là loại tội phạm có tính chất quốc tế và một số trường hợp là tội phạm
hình sự chung. Quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu chính là hai chủ thể
tham gia vào hoạt động hợp tác dẫn độ tội phạm, thẩm quyền tiến hành hoạt động
dẫn độ tội phạm… cũng là những hoạt động cần đến sự phối hợp giữa các quốc gia
trên cơ sở có đi có lại, đây coi là nguyên tắc truyền thống và phổ biến nhất của hoạt
động hợp tác dẫn độ tội phạm trong Luật quốc tế. Nguyên tắc này thể hiện rõ nhất
sự bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế (một trong
những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế).
Trong hoạt động hợp tác giữa các quốc gia về dẫn độ tội phạm thì nội dung của
nguyên tắc này quy định: các quốc gia được yêu cầu dẫn độ chỉ tiến hành các hoạt
động dẫn độ tội phạm, nếu nhận được sự bảo đảm chắc chắn từ phía quốc gia yêu
cầu rằng trong trường hợp dẫn độ tương tự phát sinh thì quốc gia này cũng sẽ đảm
bảo chắc chắn trong thực tế sẽ thực hiện dẫn độ tội phạm cho quốc gia đối tác hữu
quan theo yêu cầu của quốc gia này.[24] Trong quan hệ với các quốc gia khác, sẽ
không thể đòi hỏi một quốc gia dành những ưu đãi và lợi thế cho quốc gia khác mà
không được nhận lại sự đối xử tương xứng. Đời sống quốc tế đã chứng kiến rất
nhiều trường hợp các quốc gia từ chối dẫn độ tội phạm và cũng nhận lại sự đối xử
tương ứng trong những trường hợp tương tự. Ví dụ như vụ việc năm 2007 khi Nga
từ chối dẫn độ Alexander Litvinenko, người bị cáo buộc đã đầu độc một cựu sĩ quan
KGB cho Anh với những lý do về động cơ chính trị và quốc tịch của người này.
Động thái đó của Nga xuất phát từ việc Anh từ chối dẫn độ tỷ phú người Nga Boris
Berezovsky và vị lãnh đạo Chechnya- Akhamed Zakayev trước đó.[39]
Bên cạnh việc ghi nhận trong luật quốc tế, nguyên tắc có đi có lại trong dẫn
độ tội phạm còn được ghi nhận trong pháp luật của rất nhiều quốc gia như: luật dẫn
độ tội phạm của Trung Quốc năm 2000, Luật dẫn độ tội phạm của Canada năm
1999, Luật Tương trợ Tư pháp của Việt Nam năm 2007… Ví dụ như: Điều 3 Luật