ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI MẠNH HÙNG
HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ
VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một
công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Bùi Mạnh Hùng
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHỦNG
BỐ VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ
5
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về khủng bố
5
1.1.1. Khái niệm khủng bố
5
1.1.1.1.
Quan điểm về khủng bố dưới góc độ khoa học pháp lý
6
1.1.1.2.
Hợp tác chống khủng bố và vấn đề quyền tài phán quốc gia
44
1.2.4.4.
Hợp tác chống khủng bố và lợi ích của bên thứ ba
45
Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ CHỐNG
KHỦNG BỐ
47
2.1. Cơ sở pháp lý toàn cầu về hợp tác chống khủng bố
47
2.1.1. Hợp tác quốc tế về chống khủng bố trong các điều ước quốc tế
phổ cập
47
2.1.1.1.
Các quy định về hợp tác ngăn ngừa khủng bố
50
2.1.1.2.
Các quy định về hợp tác trừng trị khủng bố
54
2.1.2. Hợp tác quốc tế về chống khủng bố trong các nghị quyết của các
cơ quan Liên hợp quốc
60
2.2. Cơ sở pháp lý liên khu vực về hợp tác chống khủng bố
65
2.2.1. Hợp tác chống khủng bố giữa ASEAN và EU
113
3.2.1.2 Hợp tác song phương về phòng chống tội phạm
116
3.2.2 Hợp tác khu vực về chống khủng bố
118
3.2.3 Hợp tác đa phương và toàn cầu về chống khủng bố
120
3.3 Một số giải pháp đẩy mạnh đấu tranh chống khủng bố ở Việt Nam
122
KẾT LUẬN
126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1281
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm khủng bố đang ngày càng lan rộng và không có giới hạn quốc gia
là một trong những mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với hoà bình và an ninh quốc
tế. Có thể nói chưa bao giờ các quốc gia, cộng đồng quốc tế lại quan tâm và lên án
mạnh mẽ tội phạm khủng bố như hiện nay. Yêu cầu chống khủng bố làm cho nhiều
nước trước đây vốn có những bất đồng trong việc giải quyết xung đột nội bộ nay có
thể hợp tác với nhau trong cuộc đấu tranh chống khủng bố. Trước sự phát triển của
khủng bố và những hậu quả nặng nề do khủng bố gây ra, cộng đồng quốc tế đã có
nhiều nỗ lực nhằm ngăn chặn loại tội phạm nguy hiểm này. Hiện nay, pháp luật
độ đề tài nghiên cứu khoa học, có đề tài cấp Đại học Quốc gia do tác giả Lê Văn Bính
làm chủ nhiệm đề tài: “Khủng bố và vai trò của luật quốc tế hiện đại trong đấu tranh
chống khủng bố”. Ngoài ra, còn một số sách tham khảo, chuyên khảo giới thiệu các
công ước quốc tế về chống khủng bố hoặc đề cập đến tội phạm khủng bố; một số bài
viết tại các hội thảo, tạp chí về vấn đề này như: “Khủng bố và chống khủng bố với
vấn đề an ninh quốc tế” do tác giả Nguyễn Văn Dân chủ biên; “Chủ nghĩa khủng bố
toàn cầu - Vấn đề và cách tiếp cận” của tác giả Lại Văn Toàn; “Hoàn thiện pháp
luật về đấu tranh chống khủng bố ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Văn Hiệu…
Trên thế giới cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả về
khủng bố như Boaz Ganor, Alan Smith, Bruce Hoffman… tuy nhiên các nghiên
cứu chỉ tập trung phân tích nguyên nhân làm phát sinh khủng bố, các mặt chính trị
- xã hội xung quanh nó và một số khía cạnh pháp lý của tội phạm khủng bố.
Những nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về hợp tác quốc tế chống khủng bố
hầu như không có.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài đề cập vấn đề khá thời sự, thu hút sự quan tâm rộng rãi của các quốc
gia và cộng đồng quốc tế là hợp tác quốc tế về chống khủng bố nhằm trả lời các câu
hỏi: Thế nào là khủng bố, hợp tác quốc tế về chống khủng bố? Nội dung và các nguyên
tắc hợp tác quốc tế về chống khủng bố? Cơ sở pháp lý quốc tế, khu vực và song
3
phương về hợp tác quốc tế chống khủng bố? Đề tài đi sâu vào kiến giải những vấn đề
trên, qua đó góp phần trong việc hình thành chính sách và thái độ tích cực, trách
nhiệm, khách quan, khoa học trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về chống khủng bố.
Bên cạnh đó, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng hợp tác quốc tế về
chống khủng bố ở Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về vấn đề này qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh
chống khủng bố giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các
Luận văn cũng phân tích và nêu ra thực trạng và các giải pháp hoàn thiện
pháp luật Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế của Việt Nam
trong đấu tranh chống khủng bố.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Trình bày những vấn đề cơ bản nhất về khủng bố và hợp tác
quốc tế về chống khủng bố, trong đó có nêu ra định nghĩa khủng bố, hợp tác
chống khủng bố; đặc trưng của khủng bố; các nguyên tắc cơ bản của hợp tác quốc
tế về chống khủng bố.
Chương 2: Trình bày cơ sở pháp lý song phương, khu vực, liên khu vực và
toàn cầu về hợp tác chống khủng bố.
Chương 3: Trình bày thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp tác chống khủng
bố và kiến nghị một số giải pháp đẩy mạnh hợp tác chống khủng bố.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHỦNG BỐ
VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về khủng bố
1.1.1. Khái niệm khủng bố
Khủng bố là loại tội phạm không mới, trái lại nó đã tồn tại rất lâu trong lịch
sử loài người. Ngay từ khi xuất hiện chữ viết để lưu giữ thông tin người ta đã thấy
có những ghi chép về khủng bố. Cùng với sự phát triển của nhân loại khủng bố đã
có sự phát triển mạnh mẽ, từ chỗ chỉ đe doạ an ninh của một quốc gia, khủng bố đã
trở thành vấn đề quốc tế từ những năm 60 của thế kỷ XX. Cuộc tấn công vào Trung
tâm thương mại thế giới và Lầu năm góc (Mỹ) ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã cho cả
thế giới thấy quy mô, tính chất xuyên quốc gia của khủng bố. Ngày nay các cuộc
Vậy khủng bố là gì mà cộng đồng quốc tế và các quốc gia mặc dù đã có
nhiều nỗ lực nhưng chưa đưa ra được một định nghĩa đủ sức thuyết phục? “Hoa Kỳ
đã từng gọi Bin Laden là trùm khủng bố số một quốc tế, Bin Laden và Taliban lại
lên án Hoa Kỳ là trùm khủng bố thế giới, là kẻ diệt chủng; Israel tố cáo chính
quyền Palestin là nuôi dưỡng các phần tử khủng bố, nhưng Palestin lại lên án nhà
nước Israel là nhà nước khủng bố… Có thể nói theo nhiều người: Tôi không thể
định nghĩa được khủng bố, nhưng tôi biết khi gặp nó” [12, 20]. Trước những khó
khăn trong việc xây dựng định nghĩa được cộng đồng quốc tế chấp nhận, một số
người cho rằng không thể đạt được định nghĩa chung về tội phạm khủng bố. Vậy
đâu là những khác biệt trong cách hiểu và diễn giải về khủng bố? Nguyên nhân nào
dẫn đến cách hiểu và diễn giải khác nhau như vậy? Nguyên nhân nào cản trở tiến
trình hợp tác giữa các quốc gia trong việc xây dựng định nghĩa pháp lý thống nhất
trên quy mô khu vực và toàn cầu về khủng bố?
1.1.1.1. Quan điểm về khủng bố dưới góc độ khoa học pháp lý
Từ khi tội phạm khủng bố xuất hiện trên thế giới đến nay đã có nhiều nghiên
cứu về vấn đề này. Hiện nay, trên thế giới có hơn 100 định nghĩa về khủng bố và có
7
ít nhất 60 định nghĩa mâu thuẫn nhau. Tuy còn có những cách hiểu và giải thích
khác nhau trong giới nghiên cứu nhưng các nghiên cứu về khủng bố đều có điểm
chung nhất là coi khủng bố là hiện tượng nguy hiểm cho đời sống xã hội và cần
phải loại trừ, như Fidel Castro đã từng nói: “Dù nguồn gốc sâu xa của chủ nghĩa
khủng bố như thế nào, dù các yếu tố kinh tế và chính trị có ảnh hưởng đến nó như
thế nào và dù ai có phải chịu trách nhiệm đã mang nó đến với thế giới này, thì cũng
không một ai có thể phủ nhận rằng chủ nghĩa khủng bố ngày nay là một hiện tượng
nguy hiểm không thể bào chữa được về mặt đạo lý và phải bị loại trừ” [31, 5]. Theo
nghĩa thông dụng, khủng bố được định nghĩa là “tập hợp các hành vi bạo lực, mưu
sát, bắt cóc con tin… do một tổ chức thực hiện để tạo ra một không khí mất an ninh,
nhằm gây sức ép đối với chính phủ để thoả mãn sự căm ghét đối với cộng đồng, một
đất nước, một hệ thống” [12, 20]. Định nghĩa trên đưa ra các yếu tố đặc trưng của
- Được tổ chức để có thể gây tác động sâu rộng không chỉ đối với các nạn
nhân hoặc mục tiêu trực tiếp của cuộc tấn công;
- Tiến hành bởi một tổ chức với mạng lưới thống nhất điều khiển; Do một
nhóm phi quốc gia hoặc thực thể phi quốc gia tiến hành [48, 19].
Bruce Hoffman giải thích thêm rằng: Có thể cố gắng xác định khủng bố là
việc cố ý tạo ra hoặc khai thác nỗi sợ hãi bằng bạo lực hoặc đe doạ bạo lực nhằm
đạt được thay đổi chính trị. Khủng bố được thiết kế để có tác động sâu rộng vượt ra
ngoài tâm lý nạn nhân trực tiếp hoặc đối tượng của cuộc tấn công khủng bố. Nó có
nghĩa là truyền dẫn sự sợ hãi bên trong và do đó đe doạ mục tiêu rộng lớn hơn mà
có thể bao gồm một nhóm sắc tộc hay tôn giáo đối địch, một quốc gia, một chính
phủ hay đảng phái chính trị. Thông qua việc thực hiện bạo lực công khai những kẻ
khủng bố tìm kiếm những đòn bẩy, ảnh hưởng và quyền lực nhằm thay đổi chính trị
ở một địa phương hoặc quy mô quốc tế.
Bên cạnh những điểm tích cực, trong định nghĩa của Bruce Hoffman còn có
những điểm hạn chế như chưa bao quát được các hình thức khủng bố, bởi theo quan
điểm của ông khủng bố chỉ là các hành vi bạo lực, trong khi đó trong thế giới hiện
đại có nhiều loại hình khủng bố phi bạo lực nhưng mức độ nguy hiểm rất cao. Đặc
9
biệt sau vụ hàng loạt các thông tin tình báo ngoại giao nhạy cảm của Hoa Kỳ bị
tung lên mạng internet, thế giới đang nói đến một loại hình khủng bố mới: khủng bố
thông tin. Bên cạnh đó, định nghĩa của Bruce Hoffman không giới hạn nạn nhân của
khủng bố, tức là nạn nhân có thể bao gồm cả mục tiêu dân sự và mục tiêu quân sự,
điều này mâu thuẫn với quan điểm của Michael Radu như đã dẫn ở trên.
Trái ngược với các quan điểm trên, Jean Marc Sorel, giáo sư luật quốc tế Đại
học Paris 1 trong tác phẩm Một số câu hỏi về định nghĩa khủng bố và chống tài trợ
khủng bố, đưa ra định nghĩa rất rộng trong đó chủ thể và mục đích không phải là
yếu tố bắt buộc. Tác giả cho rằng: “Chủ nghĩa khủng bố quốc tế là một hành động
bất hợp pháp (không phân biệt thủ phạm hoặc mục đích của nó) tạo ra sự xáo trộn
trong trật tự công cộng (được xác định bởi cộng đồng quốc tế) bằng cách sử dụng
dụng hoặc đe doạ sử dụng bạo lực, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức
khoẻ, tài sản của người dân nhằm mục đích gây hoảng loạn cho cộng đồng dân cư,
do các cá nhân hoặc tổ chức thực hiện trái với pháp luật quốc tế và pháp luật hình
sự của các nước trên thế giới” [34, 2]. Chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả
đưa ra trong định nghĩa trên, để xem xét một hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải
là tội phạm khủng bố hay không trước hết phải xem xét tính “trái với pháp luật quốc
tế và pháp luật hình sự các nước trên thế giới”. Tuy nhiên cũng như một số định
nghĩa khác đã phân tích ở trên, hành vi khủng bố theo quan điểm của tác giả tương
đối hẹp chỉ bao gồm “sử dụng hoặc đe doạ sử dụng bạo lực” do đó định nghĩa chưa
bao quát hết các hành vi khủng bố. Bên cạnh đó, định nghĩa chưa đưa ra được mục
đích cuối cùng của khủng bố; việc gây hoảng loạn cho cộng đồng dân cư chỉ là mục
đích trực tiếp không phải là mục đích cuối cùng mà tội phạm khủng bố nhắm tới -
hành vi của các cơ quan nhà nước (gây sức ép để các cơ quan này thực hiện hoặc
không thực hiện một hành động nào đó).
Như vậy, từ khi khủng bố xuất hiện và trở thành một trong những nguy cơ đe
doạ hoà bình và an ninh quốc tế, cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra
khái niệm về khủng bố nhưng chưa có khái niệm nào được cộng đồng quốc tế chấp
nhận rộng rãi. Tuy nhiên để chống khủng bố có hiệu quả không thể không định
nghĩa khủng bố. Nói như Jean Marc Sorel, giáo sư Luật quốc tế Đại học Paris 1:
11
“Chúng tôi cần biết nó (khủng bố) là gì mà chúng ta đang chiến đấu chống lại và
nó là gì mà pháp luật quốc tế cần phải bao gồm” [56, 1].
1.1.1.2. Định nghĩa khủng bố theo pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế
Cuộc chiến chống khủng bố trên quy mô toàn cầu được Hoa Kỳ phát động
năm 2001 nhưng cho đến nay vẫn chưa thu được kết quả như mong đợi. Từ sau vụ
khủng bố ngày 11/9 các quốc gia trên thế giới đã phải chi những khoản tiền lớn cho
cuộc chiến chống khủng bố nhưng những vụ khủng bố gây hậu quả nặng nề vẫn xảy
ra. Ngày 02 tháng 5 năm 2011, Tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama thông báo đã tiêu
diệt được trùm khủng bố số một của Al Qaeda là Osama Bin Laden đánh dấu bước
cộng đồng dân cư nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị hoặc xã hội”. Trong khi
đó, Bộ Quốc phòng Mỹ định nghĩa khủng bố là: “việc sử dụng hoặc đe doạ sử dụng
bạo lực bất hợp pháp nhằm khắc sâu sự sợ hãi, có ý định cưỡng chế hoặc để đe
dọa chính phủ hoặc xã hội trong việc theo đuổi các mục tiêu mà nói chung là
chính trị, tư tưởng hay tôn giáo” [54, 33]. Qua các định nghĩa trên cho thấy Bộ
ngoại giao Mỹ chấp nhận định nghĩa, theo đó coi các cuộc tấn công vào các mục
tiêu không tham chiến (noncombatant) là khủng bố. Điều này có nghĩa là các hành
động tấn công vào các lực lượng quân sự kể cả trong thời gian không trực tiếp
phục vụ quân đội là khủng bố. Trong khi đó, định nghĩa của FBI coi các cuộc tấn
công nhằm vào người hoặc tài sản có thể là khủng bố. Cuối cùng định nghĩa
khủng bố của Bộ quốc phòng Mỹ là định nghĩa rộng nhất bao trùm các định nghĩa
trên, chủ thể của khủng bố rất rộng không phân biệt nhà nước hoặc các tổ chức
dân sự, các mục tiêu của khủng bố có thể là mục tiêu dân sự, quân sự hoặc mục tiêu
quân sự trong trạng thái không tham chiến. Có thể nói rằng, sự khác biệt trong định
nghĩa về khủng bố giữa các cơ quan khác nhau trong chính phủ Hoa Kỳ không xuất
phát từ cách hiểu khác nhau của họ về khủng bố mà là từ sự khác biệt từ trách
nhiệm của các cơ quan này trong cuộc chiến chống khủng bố.
Ngoài Hoa Kỳ, nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đã có những quy
định trong pháp luật của nước mình về khủng bố trong đó có định nghĩa về khủng
bố, một số nước có đạo luật chống khủng bố riêng như Mỹ, Anh, Úc, Nga. Bên
cạnh định nghĩa về khủng bố một số nước còn đưa ra danh sách các tổ chức bị coi
13
là khủng bố. Tuy nhiên định nghĩa về khủng bố của các quốc gia thường phản ánh
lợi ích kinh tế chính trị của quốc gia trong cuộc chiến chống khủng bố. Luật chống
khủng bố của Anh năm 2000 định nghĩa khủng bố là việc: Sử dụng hay đe dọa sử
dụng bạo lực nhằm vào con người hay gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài sản
hay tính mạng hoặc gây nguy hại tới sức khỏe, an toàn của công chúng nhằm mục
đích thúc đẩy mục tiêu tư tưởng, tôn giáo hoặc chính trị. Thuật ngữ tư tưởng, tôn
giáo hay chính trị được hiểu và giải thích không hoàn toàn giống nhau giữa các
năm 1971. Năm 1972, tiến trình hợp tác toàn cầu về chống khủng bố bước sang giai
đoạn phát triển mới khi lần đầu tiên các quốc gia đã đưa vấn đề chống khủng bố
quốc tế vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 27. Kể từ
đó đến nay nhờ những nỗ lực của cộng đồng quốc tế đã có nhiều điều ước quốc tế
đa phương về chống khủng bố được ký kết: Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các
tội phạm chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức
ngoại giao năm 1973; Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin năm 1979; Công
ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân năm 1979; Công ước về trừng trị các hành
vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải năm 1988… và gần đây nhất
là Công ước quốc tế về ngăn chặn các hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005. Bên
cạnh các công ước về chống khủng bố, Hội đồng bảo an cũng đã thông qua nhiều
nghị quyết liên quan đến vấn đề chống khủng bố mà quan trọng nhất là Nghị quyết
số 1373 (được thông qua ngày 28/9/2001) trong đó có nội dung kêu gọi các quốc
gia tăng cường hợp tác nhằm ngăn ngừa và trừng trị khủng bố. Đây thực sự là minh
chứng sinh động, là thành quả của quá trình hợp tác quốc tế về chống khủng bố, tạo
cơ sở pháp lý quan trọng cho cuộc chiến chống khủng bố.
Tuy nhiên qua nghiên cứu nội dung các công ước quốc tế đa phương về chống
khủng bố quốc tế được thông qua trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các tổ chức
chuyên môn của Liên hợp quốc như: Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO),
Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)
chúng tôi thấy rằng có rất ít công ước đề cập trực tiếp đến vấn đề khủng bố và khái
niệm khủng bố. Các hành vi được thực hiện hội đủ các yếu tố cấu thành được quy
định trong các công ước trên được xem như tội phạm khủng bố. Ví dụ hành vi
15
khủng bố bằng bom (Quy định tại Điều 2, Công ước quốc tế về trừng trị khủng bố
bằng bom) được hiểu là “một tội phạm nếu người đó ném, đặt, làm nổ hoặc kích nổ
một cách bất hợp pháp và cố ý một thiết bị gây nổ hoặc gây chết người khác tại,
vào hoặc chống lại một địa điểm công cộng, một trang thiết bị của nhà nước hoặc
chính phủ, một hệ thống giao thông công cộng hoặc một cơ sở hạ tầng:
chống khủng bố được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 2006 cũng
không đưa ra khái niệm khủng bố mà đưa ra một số hình thức và biểu hiện của
hành vi khủng bố: “tái khẳng định rằng hành vi, phương pháp và thực tiễn của
chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện là các hoạt động nhằm phá
hoại các quyền con người, quyền tự do cơ bản và nền dân chủ, đe doạ toàn vẹn
lãnh thổ, an ninh của các nước và gây mất ổn định cho chính phủ thành lập hợp
pháp” (Phần mở đầu, Chiến lược chống khủng bố toàn cầu). Ngoài các công ước
đa phương về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố, ở cấp độ toàn cầu Hội đồng bảo an
cũng đã thông qua một số nghị quyết về chống khủng bố như: Nghị quyết số 1267
năm 1999, Nghị quyết số 1373 năm 2001, Nghị quyết số 1390 năm 2002, Nghị quyết
số 1455 năm 2003… Các nghị quyết trên thiên về việc đề ra các giải pháp cụ thể
nhằm ngăn ngừa và trừng trị các hành vi khủng bố.
Ở cấp độ khu vực hiện đã có 9 điều ước khu vực về chống khủng bố quốc tế
nhưng hầu hết không đưa ra định nghĩa đầy đủ về khủng bố. Điều 1 Công ước Liên
minh châu Âu năm 1977; Điều 2 Công ước ASEAN về chống khủng bố đều có quy
định mang tính liệt kê các hành vi thực hiện tội phạm trong các công ước của Liên
hợp quốc là tội phạm khủng bố. Công ước chống khủng bố của Tổ chức hợp tác
Thượng Hải năm 2009 là công ước khu vực về chống khủng bố có đưa ra định
nghĩa về khủng bố rõ ràng nhất. Điều 2, Công ước Thượng Hải định nghĩa khủng bố
là: “Một hệ tư tưởng bạo lực và thực hiện nhằm gây ảnh hưởng đến việc ra quyết
định của chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế bằng cách đe doạ hoặc có hành vi bạo
lực và (hoặc) các hành vi tội ác liên quan tới việc đe doạ người dân và nhằm gây
thiệt hại cho các cá nhân, xã hội hoặc nhà nước”.
Định nghĩa trên đã đưa ra một số dấu hiệu của tội phạm khủng bố như:
Mục đích: gây ảnh hưởng đến việc ra quyết định của chính phủ hoặc các tổ chức
17
quốc tế (mục đích chính trị); hành vi: đe doạ hoặc có hành vi bạo lực, các hành vi
tội ác… Tuy nhiên, định nghĩa này chưa làm rõ những vấn đề đang gây tranh cãi
trong khoa học luật quốc tế và luật quốc tế là chủ thể của hành vi khủng bố (là cá
gian qua, chúng tôi cho rằng tội phạm khủng bố hiện nay có một số đặc trưng cơ
bản sau đây:
Chủ thể thực hiện hành vi khủng bố: Chủ thể thực hiện hành vi khủng bố là
vấn đề phức tạp cả trong khoa học pháp lý hình sự cũng như trong thực tiễn xây
dựng và thực thi luật quốc tế. Đây là vấn đề gây tranh luận gay gắt giữa các quốc gia.
Có ý kiến cho rằng “các thuật ngữ trong định nghĩa của Bộ quốc phòng Mỹ là rộng
hơn và hoàn toàn có thể cho phép bao gồm các chính phủ là thủ phạm” [54, 34]. Trương
Húc, học giả Trung Quốc trong tác phẩm Những vấn đề cơ bản của Luật hình sự
quốc tế cũng cho rằng: “quốc gia có thể trở thành chủ thể của tội phạm quốc tế (bao
gồm tội phạm khủng bố quốc tế), chỉ có điều là phương thức mà quốc gia gánh vác
trách nhiệm khác với các cá nhân gánh vác trách nhiệm hình sự mà thôi” [11, 12].
Chúng tôi cho rằng quốc gia không thể trở thành chủ thể của tội phạm khủng bố bởi
trong luật quốc tế hiện đại không có quy định nào coi quốc gia là chủ thể của loại
tội phạm này. Mặc dù quốc gia có thể có các hành động hỗ trợ khủng bố như cung
cấp nơi ẩn náu, các phương tiện quân sự, chính trị, kinh tế và các hỗ trợ khác nhưng
không thể vì thế mà coi quốc gia là chủ thể của tội khủng bố, bởi những lý do sau:
Thuật ngữ khủng bố là không cần thiết khi mô tả những hành động của quốc
gia có chủ quyền, không phải bởi các quốc gia đang ở trên một mức độ đạo đức cao
hơn mà bởi theo các công ước quốc tế bất kỳ cuộc tấn công nào nhằm vào thường
dân trong thời chiến của các lực lượng quân sự thường xuyên (dưới sự chỉ đạo của
quốc gia) được xác định là tội phạm chiến tranh; nếu một cuộc tấn công được thực
hiện trong thời bình được xem là tội ác chống nhân loại. Bên cạnh đó, về mặt lý
luận trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân. Nếu xem quốc gia là chủ thể của
tội phạm khủng bố sẽ không có chế tài hình sự nào khả thi có thể áp dụng đối với
quốc gia. Thực tiễn đấu tranh chống khủng bố trong những năm qua cho thấy, việc
không xem quốc gia là chủ thể của tội khủng bố là đúng đắn. Hoa Kỳ - cường quốc
kinh tế, quân sự số một thế giới và cũng là nạn nhân chịu hậu quả nặng nề của
19
khủng bố khi tấn công tiêu diệt Taliban ở Afganistan cũng chỉ với lý do tiêu diệt