MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay. Trong quá
trình toàn cầu hoá, bên cạnh những mặt tích cực còn xuất hiện những mặt
trái của nó mà mỗi quốc gia không thể tự giải quyết được. Một trong những
vấn đề thuộc mặt trái của toàn cầu hoá đó là khủng bố quốc tế.
Khủng bố ban đầu xuất hiện là những tội phạm quốc gia, cùng với quá
trình toàn cầu hoá, tội phạm này hiện nay là mối đe doạ hoà bình và an ninh
quốc tế, điển hình là vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại Hoa Kỳ, vụ khủng bố
Trường trung học Beslan của Nga, vụ khủng bố các toa xe lửa ở Mardrit,
Tây Ban Nha…
Trước sự phát triển của khủng bố quốc tế, cộng đồng quốc tế đã có
nhiều nỗ lực nhằm ngăn chặn tội phạm này, trong đó có việc xây dựng các
văn bản pháp luật quốc tế về chống khủng bố. Việc xây dựng văn bản pháp
luật quốc tế về chống khủng bố được tiến hành từ những năm đầu thế kỷ XX
nhưng tới năm 1963 mới cho ra đời điều ước quốc tế về chống khủng bố đầu
tiên. Hiện nay, pháp luật quốc tế về chống khủng bố bao gồm 12 điều ước đa
phương thuộc khuôn khổ Liên hợp quốc, 8 điều ước khu vực và rất nhiều
điều ước quốc tế song phương… Tuy nhiên, pháp luật quốc tế về chống
khủng bố hiện chưa hoàn chỉnh, chưa có điều ước nào đưa ra được định
nghĩa về khủng bố vì thế hiện tại chưa thể phân biệt một cách rõ ràng hành
vi khủng bố và các hành vi khác theo quy định tại các điều ước này.
Đề tài luận văn được thực hiện nhằm đưa ra khái niệm ban đầu về
khủng bố, giúp phân biệt khủng bố và các tội phạm khác có cấu thành gần
giống trên cơ sơ nghiên cứu các quan điểm về khủng bố hiện nay trên thế
giới. Đây là vấn đề có tính cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh
1
chống khủng bố quốc tế, đồng thời hạn chế hành xử tuỳ tiện của các quốc
gia trong cuộc chiến chống khủng bố.
Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên 8 điều ước quốc tế về chống
khủng bố, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay mà đặc biệt là Bộ luật
thời sự hiện nay: Khủng bố quốc tế với nguồn chủ yếu là các điều ước quốc
tế về chống khủng bố và quy định pháp luật quốc gia về vấn đề này, trong đó
đặc biệt là Việt Nam.
Đề tài không đi sâu về các nguyên nhân làm phát sinh khủng bố cũng
như các vấn đề chính trị - xã hội xung quanh nó mà chủ yếu xem xét khủng
bố dưới góc độ pháp lý - một tội phạm nguy hiểm cần phải bị loại trừ ra khỏi
đời sống nhân loại.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài chủ yếu là phân tích, so sánh, liệt
kê… với nền tảng là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và
pháp biện chứng duy vật.
5. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu vấn đề còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam: Khủng
bố quốc tế. Việc nghiên cứu đề tài vì vậy sẽ mở ra những nghiên cứu tiếp
theo sâu sắc hơn.
Không những thế, những nghiên cứu của đề tài sẽ trả lời câu hỏi: Thế
nào là khủng bố - một vấn đề gây tranh luận gay gắt hiện nay giữa các quốc
gia và các nhà nghiên cứu và là nguyên nhân chính cản trở việc thông qua
Công ước quốc tế chung về chống khủng bố. Đây mới chỉ là nghiên cứu
bước đầu với kết quả còn khiêm tốn nhưng cách lý giải về khủng bố trên cơ
sở pháp lý tại luận văn hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu
tiếp theo.
3
Luận văn cũng phân tích và nêu ra thực trạng và các giải pháp góp
phần hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế của Việt Nam trong đấu tranh chống tội phạm này.
6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương 1 trình bày những vấn đề cơ bản nhất về khủng bố và pháp
luật quốc tế về chống khủng bố, trong đó có nêu ra các quan điểm hiện nay
trên thế giới về khủng bố, định nghĩa khủng bố cũng như các đặc điểm phân
các hành vi bạo lực như ám sát nguyên thủ quốc gia, các quan chức chính
phủ và những nhà hoạt động chính trị khác…
Ở Việt Nam, từ “Khủng bố” xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX gắn với các cuộc càn quét, đàn áp, giết hại thường dân vô tội
của chính quyền thực dân Pháp và sau này là Mỹ, Ngụy.
5
Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 định nghĩa về khủng bố,
nhưng nhìn chung những định nghĩa này thường không đầy đủ và chưa có
một định nghĩa nào được toàn thế giới thừa nhận. Thậm chí, theo một nghiên
cứu của CIA thì từ năm 1936 đến năm 1981 có không ít hơn 109 định nghĩa
về khủng bố và có ít nhất 60 định nghĩa đối chọi nhau [42]. Sự khác nhau
trong cách định nghĩa khủng bố xuất phát từ sự khác nhau về lập trường,
mục tiêu, lợi ích. Điều này dẫn đến trường hợp một nhóm cực đoan nước
ngoài được một nước coi là khủng bố nhưng ở quốc gia khác lại được coi là
anh hùng, chiến sỹ đấu tranh vì tự do và đây chính là cản trở lớn của pháp
luật quốc tế trong đấu tranh chống khủng bố - một nguy cơ toàn cầu đang
ngày càng gia tăng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau
về khủng bố một cách khách quan trên cơ sở phân tích thực tiễn hành vi này
dưới dạng một loại tội phạm nguy hiểm cho nhân loại cần phải được loại bỏ
để đưa ra định nghĩa chung nhất về khủng bố là việc làm cần thiết.
1.1.1. Các quan điểm về khủng bố hiện nay trên thế giới
1.1.1.1. Quan điểm của các nhà nghiên cứu
Giới học giả khi nghiên cứu vấn đề khủng bố dùng khá nhiều thuật ngữ
khác nhau và dưới các giác độ khác nhau, có người dùng thuật ngữ “Chủ
nghĩa khủng bố” (một thuật ngữ thường dùng để xem xét khủng bố dưới góc
độ tư tưởng cũng như các vấn đề chính trị - xã hội xung quanh nó), có người
sử dụng “Khủng bố”, “Hoạt động khủng bố”, “Hành vi khủng bố”… tuy
nhiên, tất cả các nghiên cứu dù dưới giác độ nào chăng nữa cũng đều phải
làm rõ một vấn đề cơ bản: Thế nào là khủng bố? Trả lời câu hỏi này có
nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, tuy nhiên hầu hết các
đơn giản, thông dụng, tuy nhiên phạm vi những hành vi bị coi là khủng bố
quá rộng, bao gồm tất cả các hành vi xâm lược, diệt chủng, tội ác chiến
tranh, các hành vi bạo lực nói chung. Xét từ góc độ pháp lý các hành vi này
có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau nên cần được phân hóa, tách
riêng xử lý để đảm bảo tính công bằng của luật. Cần phân biệt hành vi khủng
bố với các hành vi cấu thành tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội xâm
lược, chống loài người là những hành vi đặc biệt nguy hiểm - các tội phạm
7
quốc tế đặc biệt nghiêm trọng bị xét xử tại Tòa án hình sự quốc tế (ICC) và
các hành vi cấu thành các tội phạm thông thường khác như tội giết người, tội
cướp, các tội xâm phạm an toàn công cộng trật tự công cộng v.v...
Sau biến cố 11-9-2001, cả thế giới mạnh mẽ lên án và công khai tuyên
chiến với các hành động khủng bố, nhưng đồng thời cũng xác định đây
không phải là cuộc chiến chống lại người Ả Rập hoặc người Hồi giáo mặc
dù có sự thật không thể phủ nhận đó là hầu hết những kẻ bị các quốc gia liệt
vào danh sách khủng bố phần lớn là các tín đồ Hồi giáo làm nhiều nhà
nghiên cứu có xu hướng đánh đồng Hồi giáo và khủng bố
[21, 64]. Việc
đánh đồng khủng bố và Hồi giáo là không thể chấp nhận được tuy nhiên
thực tế hiện nay có một số kẻ đang lợi dụng tôn giáo để biện minh cho việc
thực hiện các hành vi khủng bố của mình trong khi phần đông các học giả
Hồi giáo lên án mạnh mẽ các hành vi này và đồng tình với định nghĩa của Al
– Tawhid, cũng là một học giả người Hồi giáo: “Khủng bố là hành động
được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu vô nhân đạo và đồi bại, đe doạ an
ninh dưới bất cứ hình thức nào, xâm phạm quyền được loài người và tôn giáo
công nhận” [16, 9]. Đây là định nghĩa còn chưa rõ ràng vì nó chứa đựng
những cụm từ mang tính chung chung như: “vô nhân đạo”; “đồi bại”... Định
nghĩa này cũng thể hiện quan điểm bảo vệ giáo lý tôn giáo, tuy nhiên có sự
kết hợp với các giá trị chung “quyền con người” để tranh thủ được nhiều sự
tế quốc tế hoặc quốc gia, tác động bất lợi cho người nghèo và túng quẫn, đào
sâu hố ngăn cách giữa các dân tộc bằng những rào cản kinh tế - xã hội và
trói buộc các dân tộc bằng những món nợ quá đáng;
9
g. Mọi hành vi lén lút nhằm cản trở con đường độc lập, tự do giữa các
quốc gia và áp đặt những điều ước bất bình đẳng [16, 11].
Đây là định nghĩa mang nặng tính chủ quan với ý đồ chính trị rõ ràng.
Định nghĩa của Al – Tawhid đưa ra nhằm bảo vệ các lực lượng chiến đấu
cho tự do, lên án các hành vi của nhà nước độc tài, đế quốc thực dân, coi
những hành vi đó mới là khủng bố. Khái niệm khủng bố theo Al – Tawhid
mở rộng sang cả các hành vi xâm lược, thực dân… vốn là các tội “đại ác”
được quy định tại Điều 5 đến Điều 8 Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc
tế. Việc đánh đồng hành vi khủng bố với các hành vi là tội phạm chiến tranh
hay tội ác chống loài người của học giả người Hồi giáo này vô tình làm giảm
đi mức độ nghiêm trọng của các tội phạm quốc tế và nhìn từ góc độ pháp
luật, những quan điểm mang nặng tính chính trị này không giúp gì nhiều cho
sự phát triển của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố - nhất là sự
ra đời của một định nghĩa chung được cả thế giới thừa nhận.
Trong cuốn sách “Inside terrorism”, Bruce Hoffman cho rằng khủng
bố về cơ bản là bạo lực có ý thức, chuẩn bị sử dụng hoặc sử dụng bạo lực để
đạt được mục đích của mình. Ông cũng phân biệt khủng bố với các loại tội
phạm khác. Theo ông, có thể đánh giá khủng bố theo các tiêu chí sau:
- Bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực;
- Mục tiêu và động cơ chính trị;
- Được dàn dựng để đạt được những tác động tâm lý sâu rộng không chỉ
đối với những nạn nhân trực tiếp của cuộc tấn công;
- Do một tổ chức với mạng lưới thống nhất điều khiển, tiến hành. Đây
phải là nhóm phi quốc gia hoặc thực thể phi quốc gia.
Như vậy, quan điểm của Hoffman trái ngược hẳn với Al – Tawhid khi
cho rằng chủ thể thực hiện hành vi khủng bố không phải là quốc gia mà chỉ
phần sau). Định nghĩa này đã chỉ ra 4 vấn đề cơ bản của hành vi khủng bố,
11
đó là: Chủ thể của hành vi khủng bố có thể là cá nhân hoặc tổ chức; hành vi
khủng bố là bạo lực hoặc phi bạo lực; đối tượng tác động của hành vi đó
chính là con người (tính mạng, sức khoẻ) hoặc tài sản; mục đích của hành vi
là mục đích chính trị hoặc xã hội nào đó. Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn còn
chưa rõ ràng, chưa hoàn chỉnh, vì chưa chỉ rõ vấn đề đang gây tranh cãi
nhiều nhất hiện nay khi bàn đến định nghĩa khủng bố, đó là: Chủ thể của
hành vi khủng bố là tổ chức có bao gồm các lực lượng quân sự hay không,
có bao gồm hành vi của nhà nước không.
Một xu hướng khác của các nhà nghiên cứu hiện nay khi bàn đến định
nghĩa khủng bố là né tránh nó hoặc phủ nhận một định nghĩa chung về
khủng bố. Ví dụ, tác giả Lại Văn Toàn, một mặt cho rằng “khủng bố là
không thể dung tha và không gì có thể biện minh” thì lại không đưa ra định
nghĩa nào về khủng bố mà tập trung phân tích các nguồn gốc phát sinh nó
[23, 106]. Hay như Rob - học giả người Mỹ trong khi khẳng định không gì
có thể bào chữa cho các hành vi khủng bố thì cũng không đưa ra định nghĩa
khủng bố mà lại đi sâu phân tích các chính sách đối ngoại của Mỹ như một
nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh chủ nghĩa khủng bố [23, 114]. Tiêu cực
hơn trong cuốn sách “Political terrorism”, Alex Schmid cho rằng: Khủng bố
là một khái niệm trừu tượng và không thực tế, một định nghĩa duy nhất
không thể phù hợp cho tất cả các tình huống sử dụng thuật ngữ này
[41, 95].
Norman Solomon – nhà phê bình báo chí người Mỹ thậm chí còn phủ nhận
sự tồn tại của khủng bố mà cho rằng chúng chẳng qua chỉ là sản phẩm trong
chính sách “hai mặt” của Mỹ và phương Tây: “khi bọn khủng bố tấn công,
chúng là khủng bố; khi chúng ta tấn công, chúng ta chỉ trả đũa. Khi chúng
đáp trả lại cuộc trả đũa của ta, chúng lại là khủng bố; khi chúng ta đáp lại
bằng cách có thêm các cuộc tấn công, chúng ta lại chỉ trả đũa” [37, 23]. Tuy
1.1.1.2. Quan điểm lập pháp một số nước
Hiện nay, pháp luật hình sự của hầu hết các quốc gia đều quy định tội
khủng bố, tuy nhiên, việc coi những hành vi nào là khủng bố thì giữa các
quốc gia có những khác biệt nhất định.
Tại Việt Nam, các nhà làm luật thiết kế hai tội khủng bố nằm tại hai
chương của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với cấu
thành hoàn toàn khác nhau: Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
(Điều 84 – Chương Các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và tội khủng bố
(Điều 230a – Chương Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công
cộng). Định nghĩa khủng bố tại Điều 84 khá hẹp, chỉ bao gồm các hành vi
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tự do thân thể của con người với mục đích
làm phương hại chính quyền nhân dân. Định nghĩa khủng bố tại Điều 230a
có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tự
do thân thể con người, các hành vi nhằm huỷ hoại tài sản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân nhằm gây ra tình trạng hoảng loạn trong dân chúng. Với cách
quy định hai tội khủng bố với cấu thành khác nhau tại Bộ luật hình sự cho
thấy các nhà làm luật Việt Nam cũng chưa tìm ra được phương án định
nghĩa khủng bố một cách nhất quán.
Một số nước khác như Australia đã xây dựng Luật chống khủng bố
riêng, trong đó quy định cụ thể thế nào là hành vi khủng bố, các hoạt động
điều tra và ngăn ngừa khủng bố v.v... Theo đó, hành vi khủng bố là hành
động hoặc lời đe dọa sẽ có hành động được thực hiện nhằm mục đích ép
buộc hoặc gây áp lực với công chúng hoặc bất cứ Chính phủ nào bằng cách
uy hiếp để giành thắng lợi cho một sự nghiệp chính trị, tôn giáo hoặc ý thức
hệ. Hành vi này gây ra:
- Sự chết chóc, xâm hại trầm trọng hoặc gây nguy hiểm cho người;
- Thiệt hại nghiêm trọng tài sản;
14
- Gây tổn hại cho sức khỏe hoặc sự an toàn của công chúng;
- Gây trở ngại nghiêm trọng, làm gián đoạn hoặc phá hủy cơ sơ hạ tầng
chúng mới bị xử lý về tội khủng bố (Điều 202 Bộ luật hình sự).
Hầu hết các dấu hiệu: hành vi bạo lực có mục đích chính trị, tôn giáo,
lý tưởng... xuất hiện tại hầu hết các định nghĩa về khủng bố trong pháp luật
các nước. Không chỉ định nghĩa của Việt Nam, Liên bang Nga, Australia mà
trong định nghĩa của pháp luật Anh, Ấn Độ đều nhắc tới dấu hiệu này. Ví
dụ: Luật chống khủng bố năm 2000 của Anh định nghĩa:“Khủng bố là việc
sử dụng hay đe dọa sử dụng: a) bạo lực nhằm vào con người hay gây thiệt
hại nghiêm trọng đối với tài sản hay gây nguy hiểm đối với tính mạng của
người khác ngoài người thực hiện hành động đó hay gây nguy hại đối với sức
khỏe hay an toàn của công chúng hoặc một bộ phận công chúng hay nhằm
gây trở ngại hoặc phá hủy hệ thống điện và b) sử dụng hoặc đe dọa sử dụng
bạo lực nhằm gây ảnh hưởng với một chính quyền hay để hăm dọa công
chúng hoặc một bộ phận công chúng và c) sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo
lực nhằm mục đích thúc đẩy mục tiêu tư tưởng, tôn giáo hay chính trị” [16,
46].
Ở Ấn Độ, định nghĩa khủng bố được ghi nhận trong Luật Bảo vệ an
ninh quốc gia năm 1986, tại Chương I đoạn Y. Trong pháp luật của Ấn Độ,
người ta định nghĩa khủng bố bằng cách liệt kê các hành vi, bao gồm: việc
sử dụng bom, chất công phá, các chất nổ, chất gây cháy, các loại súng cầm
tay, các loại vũ khí độc hại, các chất độc, khí ga, hóa chất hoặc bất kỳ các
chất khác độc hại mà gây ra hoặc có khả năng gây ra cái chết, chấn thương
cho con người hoặc tiêu hủy tài sản hoặc phá vỡ bất kỳ nguồn cung cấp dịch
vụ thiết yếu cho cuộc sống của cộng đồng. Tính mục đích của các hành vi
16
này cũng được liệt kê, đó là: làm kinh sợ đến Chính phủ; gây kinh hoàng
trong dân chúng; làm dân chúng nổi giận; gây ảnh hưởng bất lợi đến sự hòa
hợp dân tộc
(1)
.
Mỹ là quốc gia chịu hậu quả nặng nề của khủng bố, nhất là ngày
trạng thái không trực tiếp phục vụ cho quân đội là khủng bố. Và người Mỹ
nêu ví dụ là vụ tấn công vào tàu quân sự USS Cole tại cảng Aden, Yemen
được coi là một vụ khủng bố cho dù tàu này là tàu quân sự [16, 57]. Định
nghĩa của Mỹ thực chất đưa ra tiêu chuẩn về một “cuộc chiến quân tử” giữa
quân đội quốc gia và du kích, giữa quân đội xâm lược, chiếm đóng và lực
lượng kháng chiến mà nếu tuân theo tiêu chuẩn này các lực lượng mà Mỹ
xem là đối phương ắt sẽ nhanh chóng bị đánh bại.
Ở các nước đã xây dựng luật riêng về chống khủng bố như Liên bang
Nga, Mỹ, Australia hay Anh… thì bên cạnh việc đưa ra định nghĩa về khủng
bố các nước này còn lập một bảng danh sách các tổ chức khủng bố. Các
bảng danh sách này được cập nhật thường xuyên bằng các đạo luật.
Bên cạnh các nước định nghĩa về khủng bố một cách cụ thể trong Bộ
luật hình sự thì có một nhóm nước khác không đưa ra định nghĩa khủng bố,
ví dụ Thụy Điển, Trung Quốc, Nhật Bản… Có ý kiến cho rằng “trong Bộ
luật hình sự Nhật Bản, tội khủng bố không được quy định riêng mà được quy
định trong nhiều điều luật như Điều 108: Tội gây hỏa hoạn đối với những
công trình xây dựng, phương tiện đang có người; Điều 109: Tội gây hỏa
hoạn đối với công trình xây dựng, phương tiện không có người ở; Điều 117:
Tội gây nổ; Điều 119: Tội làm hư hỏng các công trình, phương tiện bằng
cách gây lũ lụt; Điều 126: Tội lật đổ tàu hỏa… Tương tự như vậy, trong Bộ
luật hình sự Vương quốc Thụy Điển, tội khủng bố không được quy định riêng
mà nằm rải rác tại các Điều 1, 2, 3, 4, 5, 5a, 8, 8a Chương XIII” [30, 64].
Tuy nhiên, theo chúng tôi thì không có căn cứ nào để cho rằng các hành vi
nêu trên tại Bộ luật hình sự Nhật Bản và Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy
Điển là khủng bố. Nếu cho rằng các hành vi đó là khủng bố thì đã đánh đồng
các hành vi phạm tội khủng bố và các hành vi cấu thành các tội “xâm phạm
an toàn công cộng” bình thường khác. Thực tế Chương XIII Bộ luật hình sự
18
Vương quốc Thụy Điển quy định về “Các tội xâm phạm an toàn công cộng”,
ví dụ tại Điều 1 Chương này quy định: “Người nào phát hỏa gây nguy hiểm
loại hành vi này có thể là con người hoặc tài sản. Thứ ba, các hành vi khủng
bố bao giờ cũng gắn liền với mục đích chính trị, tôn giáo... được thực hiện
nhằm gây hoảng sợ cho người chứng kiến từ đó ép buộc Chính phủ hoặc bộ
phận dân chúng phải hành động hoặc không hành động theo yêu cầu của cá
nhân, tổ chức thực hiện hành vi.
1.1.1.3. Định nghĩa khủng bố theo quy định tại các điều ước quốc tế
về đấu tranh chống khủng bố
Hiện nay, trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên
(ICAO, IMO, IAEA…) có 13 điều ước quốc tế đa phương về chống khủng
bố đã được thông qua. Công ước chung về chống khủng bố quốc tế mặc dù
được tiến hành xây dựng từ năm 1996
(2)
đến nay vẫn đang nằm dưới dạng
Dự thảo vì đang còn nhiều ý kiến bất đồng xung quanh vấn đề định nghĩa
khủng bố. Ở cấp độ khu vực cũng có 8 điều ước quốc tế được ký kết. Ngoài
ra còn rất nhiều các hiệp định quốc tế song phương và các nghị quyết của
Đại hội đồng, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về các biện pháp chống khủng
bố. Với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tế về chống khủng bố
tương đối lớn tuy nhiên chưa văn bản nào đưa ra được định nghĩa rõ ràng,
toàn diện về khủng bố.
Có thể nói, định nghĩa về khủng bố đầu tiên xuất hiện tại một điều
ước quốc tế đa phương là định nghĩa được nêu ra trong Công ước về ngăn
ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế năm 1937 (còn gọi là Công ước Giơnevơ
1937). Theo Công ước Giơnevơ 1937 thì khủng bố là việc thực hiện các
hành vi phá hoại, hành vi gây nguy hiểm cho nhiều người, việc vận chuyển,
chuyển giao, cố ý sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả mạo, các hành vi ám sát
2()
Cho đến cuối năm 2006, Liên Hợp quốc đã đi đến một Dự thảo Công ước tương đối hoàn chỉnh.
20
nguyên thủ quốc gia và các nhà lãnh đạo của quốc gia khác…[24, 47]. Tuy
năm 1999 bên cạnh việc định nghĩa hành vi tài trợ khủng bố đã gián tiếp quy
định thế nào là khủng bố. Theo Công ước này thì khủng bố là bất kỳ hành vi
nào cấu thành tội phạm được quy định tại các công ước về đấu tranh chống
khủng bố còn lại (được quy định tại phụ lục) hoặc “bất kỳ hành vi nào khác
với ý định giết hại hoặc làm bị thương nghiêm trọng đến thân thể thường dân,
hoặc bất kỳ người nào khác không tham gia vào chiến sự trong bối cảnh xung
đột vũ trang, nếu mục đích của hành vi này về bản chất hoặc bối cảnh xảy ra
là nhằm hăm doạ dân chúng hay ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức
quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kỳ hành vi nào” (Điều 2). 12
công ước quốc tế về trừng trị khủng bố còn lại chỉ đưa ra định nghĩa về từng
hành vi phạm tội cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước, ví dụ,
khủng bố bằng bom là việc: “ném, đặt làm nổ hoặc kích nổ một cách bất hợp
pháp và cố ý một thiết bị gây nổ hoặc gây chết người khác tại, vào, hoặc
chống lại một địa điểm công cộng, một trang thiết bị của nhà nước hoặc
Chính phủ, một hệ thống giao thông công cộng hoặc cơ sở hạ tầng” (Điều 2
Công ước năm 1997 về việc trừng trị việc khủng bố bằng bom). Theo Công
ước về ngăn ngừa các hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005 thì “một người
bị coi là phạm tội khủng bố hạt nhân nếu người đó, một cách có chủ định và
bằng con đường bất hợp pháp sở hữu nguyên liệu phóng xạ, chế tạo hay sở
hữu thiết bị hạt nhân với mục đích gây thương vong lớn hay nhằm phá hoại
cơ sở hạ tầng hay môi trường; sử dụng nguyên liệu hay thiết bị phóng xạ, sử
dụng hoặc phá hoại cơ sở hạt nhân để tạo ra sự rò rỉ phóng xạ gây thương
vong lớn, nhằm phá hoại cơ sở hạ tầng hay môi trường để ép buộc thể nhân
hay pháp nhân, tổ chức quốc gia hay quốc gia phải thực hiện hay không thực
22
hiện hành động nào đó” (Điều 2 Công ước). Các hành vi này bị ngăn chặn và
trừng trị mà không cần kèm theo bất cứ mục đích gì là dấu hiệu định tội tuy
nhiên, có một số công ước quy định tính mục đích là một trong những tình
tiết làm tăng thêm tính chất nghiêm trọng của hành vi, ví dụ Điều 5 Công
ước trừng trị việc khủng bố bằng bom năm 1997 nhấn mạnh việc ngăn chặn
Cebu, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đã ký Hiệp ước
chung về chống khủng bố (ASEAN Convention on Counter Terrorism). Tại
Điều 2 Hiệp ước này quy định về “Những hành vi phạm tội khủng bố” đã ghi
nhận các hành vi theo 13 Công ước đa phương về đấu tranh chống khủng bố
trong khuôn khổ Liên hợp quốc: “Đối với các mục đích của Công ước này,
tội phạm có nghĩa là bất kỳ hành vi phạm tội trong phạm vi được liệt kê như
sau:
- Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay năm 1970
ký tại La Haye;
- Công ước về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn
hàng không dân dụng năm 1971 tại Montreal;
- Công ước về ngăn chặn và trừng trị các tội phạm chống lại những
người được bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao năm 1973, ký tại
New York;
- Công ước về chống bắt cóc con tin năm 1979 ký tại New York;
- Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân năm 1979 ký tại Viên;
- Nghị định thư về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại cảng
hàng không dân dụng quốc tế năm 1988 ký tại Montreal;
- Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn
hành trình hàng hải năm 1988 ký tại Rome;
24
- Nghị định thư về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại những
công trình trên thềm lục địa năm 1988 ký tại Rome;
- Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom năm 1997 ký tại New York;
- Công ước về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố năm 1999 ký tại New
York;
- Công ước năm 2005 (sửa đổi Công ước năm 1980) về bảo vệ an toàn
vật liệu hạt nhân ký tại Viên;
- Công ước về trừng trị các hành vi khủng bố bằng hạt nhân năm 2005
ký tại New York;