Biện pháp bắt người đang bị truy nã trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25


1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HỢP
BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI ĐANG BỊ TRUY NÃ
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Quốc Toản

HÀ NỘI - 2012 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác
.

Luật tố tụng hình sự Việt Nam
6
1.1.1.

Quan niệm về biện pháp ngăn chặn và biện pháp bắt người 6
1.1.2.

Biện pháp bắt người đang bị truy nã 15
1.2. Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy
định về biện pháp bắt người đang bị truy nã
33
1.2.1. Trong thời kỳ phong kiến 33
1.2.2.

Thời kỳ từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 1988
35
1.2.3.

Quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đến trước
khi có Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
37
1.3. Biện pháp bắt người đang bị truy nã ở một số nước 40
Chương 2:
Những quy định của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự NĂM
2003 về biện pháp bắt người đang bị truy nã Và Thực
Tiễn áp dụng

45
2.1. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về biện


89
3.1. Nhu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành về bắt người đang bị truy nã và nâng cao hiệu
quả áp dụng
89
3.1.1.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa và công cuộc cải cách tư pháp
89
3.1.2.

Nhu cầu bảo vệ quyền con người 91
3.1.3.

Đòi hỏi nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm,
tình hình tội phạm phức tạp bỏ trốn
92
3.2. Những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp
luật
93
3.2.1.

Những kiến nghị hoàn thiện các quy định trong Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003 về biện pháp bắt người đang bị truy nã

94
3.2.2.


trong quá trình áp dụng biện pháp bắt người đang bị truy nã

111
3.3.5.

Tăng cường mối quan hệ phối hợp, trao đổi giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan, tổ chức hữu
quan

112
3.3.6.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
hoạt động bắt người đang bị truy nã

115
3.3.7.

Tăng cường công tác tuyên truyền, phát động phong trào
quần chúng nhân dân tham gia phát hiện và bắt giữ người
đang bị truy nã

116
3.3.8.

Đẩy mạnh việc vận động người đang bị truy nã ra đầu thú

117
3.3.9.


8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
2.1 Số liệu về đối tượng truy nã phát sinh theo từng năm 58
2.2 Số vụ, bị cáo bị Tòa án xét xử về tội trốn khỏi nơi giam
giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử từ năm
2006 - 2010
59
2.3 Số liệu kết quả xử lý đối tượng truy nã đã bị bắt và vận
động đầu thú
60
2.4 Số liệu các trường hợp trốn 76
2.5 Số liệu các trường hợp trốn do thay đổi biện pháp ngăn
chặn
83 9

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Bản chất của người phạm tội là luôn tìm cách lẩn trốn hòng thoát khỏi

Trong khoa học pháp lý, dưới những góc độ khác nhau, đã có nhiều
công trình khoa học nghiên cứu về BPNC nói chung và biện pháp bắt người
nói riêng như: Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Các biện pháp ngăn chặn và
những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
Nguyễn Duy Thuân (1999), Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự -
Những vấn đề về lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Lê
Cảm (2005), "Sự bất đắc dĩ phải gây thiệt hại để bắt người phạm tội quả tang
hoặc đang bị truy nã", Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản
trong khoa học Luật Hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội; Mai Bộ (2006), Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam
đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân; Ban chỉ
đạo Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm - Bộ Công an (2002), Công
tác truy nã - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội; Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp,
Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Tuy nhiên qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các sách chuyên khảo,
các luận án, các bài báo khoa học cho thấy, hầu hết đó là các công trình
nghiên cứu cơ bản về các BPNC nói chung, còn đối với chế định bắt người
đang bị truy nã, nhìn một cách tổng quan, chưa được quan tâm một cách đúng
mức. Những nghiên cứu về biện pháp bắt người đang bị truy nã chỉ dừng lại ở
những công trình nghiên cứu đơn lẻ chuyên ngành của cơ quan Công an là
chủ yếu hoặc là một phần nội dung của biện pháp bắt người nói chung. Có thể

11
nói hiện nay ở Việt Nam chưa triển khai nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và
sâu sắc về biện pháp bắt người đang bị truy nã dưới góc độ lý luận và thực
tiễn áp dụng. Do đó, nguyên nhân của những tồn tại, bất cập trong thực tiễn
áp dụng những quy định về biện pháp bắt người đang bị truy nã chưa được
phân tích có hệ thống để đưa ra những kiến nghị, giải pháp đồng bộ.

tiễn, thống kê nhờ vậy những vấn đề liên quan tới biện pháp bắt người đang
bị truy nã được xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bảo đảm tính
đầy đủ, toàn diện, có hệ thống và xác thực.
5. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thông qua
công trình nghiên cứu này, tác giả mong muốn đóng góp vào việc hoàn thiện
pháp luật TTHS. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ
làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học
luật TTHS, tội phạm học và cán bộ làm công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp
luật
6. Những điểm mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống và
toàn diện về biện pháp bắt người đang bị truy nã trong luật TTHS Việt Nam.
Những điểm mới của luận văn là:
- Làm sáng tỏ hệ thống những vấn đề lý luận về chế định bắt người
đang bị truy nã trong luật TTHS Việt Nam;

13
- Phân tích một cách sâu sắc và đánh giá toàn diện về sự thể hiện của
biện pháp bắt người đang bị truy nã trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)
Việt Nam hiện hành;
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật
về biện pháp bắt người đang bị truy nã trong luật TTHS Việt Nam; nêu ra
những hạn chế, bất cập về mặt lập pháp, những tồn tại trong thực tiễn áp dụng
pháp luật cũng như nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó. Trên cơ sở
đó, luận văn đề xuất các giải pháp khả thi để hoàn thiện pháp luật nhằm nâng
cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật TTHS về BPNC bắt người đang bị
truy nã.
7. Kết cấu của luận văn

tra (CQĐT), Viện kiểm sát và Tòa án áp dụng đối với những người đó các
biện pháp cưỡng chế TTHS.
Các biện pháp cưỡng chế TTHS có khác nhau về tính chất và chức năng.
Một số biện pháp cưỡng chế TTHS chỉ được áp dụng trong những trường hợp
một người thực hiện những vi phạm pháp luật nhất định. Chẳng hạn trong khi
tiến hành xét xử, Tòa án có thể áp dụng biện pháp buộc những người vi phạm
trật tự phiên tòa rời khỏi phòng xử án hoặc phạt tiền đối với họ. Biện pháp
cưỡng chế này là những biện pháp trách nhiệm tố tụng.

15
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội
phạm, BLTTHS của Nhà nước ta đã quy định hàng loạt các biện pháp cưỡng
chế khác nhau nhằm những mục đích tố tụng nhất định. "Biện pháp cưỡng chế
trong tố tụng hình sự bao gồm các biện pháp được luật tố tụng hình sự quy
định, do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng nhằm thực hiện những mục đích tố
tụng nhất định" [42].
Căn cứ vào mục đích của chúng, có thể chia thành ba nhóm sau:
- Nhóm 1: Gồm những biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm,
ngăn ngừa người có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho quá
trình giải quyết vụ án như: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú,
bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;
- Nhóm 2: Gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập và ghi
nhận chứng cứ như: Khám xét người, khám xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc,
khám nghiệm hiện trường, xem xét dấu vết trên thân thể ;
- Nhóm 3: Gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho quá trình tiến
hành tố tụng được diễn ra bình thường và thuận lợi như: Kê biên tài sản, áp
giải bị can, bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng, những biện
pháp xử lý do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với người có hành vi
vi phạm nội quy phiên tòa [41].
Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế nêu trên thì BPNC là một

phạm tội, cũng như để đảm bảo việc thi hành án [1].
Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam - Khoa Luật trường Đại học
khoa học xã hội và nhân văn cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng
hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và
người cần bắt trong trường hợp khẩn cấp để kịp thời ngăn chặn tội
phạm của họ, ngăn chặn những người đó gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn [23].

17
Cuốn Giáo trình Luật TTHS Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội
thì:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng
hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với
những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm
tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội,
ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành
động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án
hình sự [41].
Còn theo cuốn "Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự"
thì BPNC là một loạt biện pháp do CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa án áp dụng
đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị kết
án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn
cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội [42].
Có thể thấy các khái niệm trên chỉ phản ánh được phần nào của
BPNC. Nhằm xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh trong đó bao hàm những
dấu hiệu đặc trưng như mục đích áp dụng, thẩm quyền áp dụng, đối tượng áp
dụng, căn cứ và mục đích áp dụng để từ đó hiểu và vận dụng đúng đắn trong
thực tiễn. Vì vậy, có thể hiểu rằng:
BPNC là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS do các chủ thể có

thể của công dân có thể bị tác động trong những trường hợp cần thiết do yêu cầu
của cuộc đấu tranh chống tội phạm và trong khuôn khổ pháp luật quy định.
Bắt người trong TTHS là việc bắt người phạm tội theo các quy định
của pháp luật TTHS. Bắt người trong trường hợp này do chủ thể sử dụng
quyền lực nhà nước nhằm đạt được mục đích tố tụng.
Theo Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa thì:
Bắt là một trong những biện pháp ngăn chặn mà Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng khi có căn cứ chứng tỏ

19
bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc
sẽ tiếp tục phạm tội cũng như khi thấy cần thiết để đảm bảo thi
hành án [48].
Trong giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật Hà
Nội thì:
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với
người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi
phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
[41].

Có thể thấy, cả hai cách hiểu như trên về bắt người trong TTHS là
chưa đầy đủ. Theo cách hiểu thứ nhất chưa bao hàm hết mục đích, phạm vi
đối tượng áp dụng của biện pháp này đồng thời cũng không xác định thẩm
quyền quyết định áp dụng, thẩm quyền bắt, không phù hợp với tinh thần các
Điều 79, 80, 81, 82 BLTTHS. Còn theo cách hiểu thứ hai cũng chưa xác định
được thẩm quyền quyết định bắt. Theo tôi, khái niệm bắt người trong Luật
TTHS phải thể hiện đầy đủ bản chất, nội dung, căn cứ áp dụng, mục đích,

không có bắt người độc lập (bắt chỉ để bắt) mà thường gắn với một mục đích
nhất định nào đó, từ đó cho thấy bắt người thường là BPNC đi liền trước hoặc
là tiền đề cho việc áp dụng BPNC khác.
Việc quy định biện pháp bắt người trong TTHS thể hiện đường lối,
chính sách của Nhà nước ta trong việc xử lý những hành vi phạm tội. Bắt
người cùng với các BPNC khác góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội
bằng pháp luật, là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm
quyền tác động đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân trong

21
những trường hợp cần thiết, nhằm mục đích của TTHS. Mặt khác, việc quy
định biện pháp bắt người còn thể hiện thái độ kiên quyết, triệt để của Nhà
nước trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Quy định và áp dụng biện pháp bắt người có ý nghĩa rất lớn trong thực
tiễn. Việc bắt người sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố
tụng giải quyết được những nhiệm vụ đặt ra trong các giai đoạn tố tụng một
cách chính xác, nhanh chóng. Thông thường khi thực hiện tội phạm hoặc
ngay cả trường hợp đang chuẩn bị thực hiện tội phạm, người phạm tội đã ít
nhiều nhận thức được những hậu quả mà mình phải gánh chịu, do vậy họ thư-
ờng tính toán những phương án cần thiết để trốn tránh pháp luật hoặc gây khó
khăn cho việc điều tra, xử lý tội phạm mà họ thực hiện. Việc bắt các đối t-
ượng này để hạn chế tự do của họ, làm rõ hành vi phạm tội của họ một cách
khách quan là cần thiết và trong nhiều trường hợp là cấp bách không thể trì
hoãn (trường hợp phạm tội quả tang, khẩn cấp), nó giúp cơ quan có thẩm
quyền không chỉ kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành vi
phạm tội bỏ trốn mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án.
Việc quy định một cách cụ thể, rõ ràng các trường hợp bắt người về
đối tượng, thẩm quyền, căn cứ, thủ tục bắt là cơ sở pháp lý vững chắc để xử
lý hành vi vi phạm pháp luật khi áp dụng biện pháp bắt người. Việc bắt người

có sự thay đổi đã không tránh khỏi những hạn chế, vướng mắc do sự thay đổi
của tình hình kinh tế - xã hội và những diễn biến phức tạp của tình hình tội
phạm. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh chống và phòng
ngừa tội phạm cũng như yêu cầu của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa và việc bảo đảm các quyền dân chủ của công dân, kế thừa có chọn lọc các
quy định về bắt người trong các văn bản pháp luật trước đây, nhất là quy định
của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 quy định ba trường hợp bắt
người sau:

23
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam;
- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp;
- Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
Với ba trường hợp nêu trên là quy định chung để khi có căn cứ thuộc
trường hợp nào thì cơ quan, người có thẩm quyền do luật định có thể áp dụng.
Song căn cứ vào Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân, các quy định đối với người chưa thành niên, các quy định
đối với người nước ngoài, khi chủ thể thuộc các trường hợp này còn phải vận
dụng thêm các quy định mang tính cá biệt để áp dụng BPNC cũng như áp
dụng các quy định trong BLTTHS được đúng đắn. Việc áp dụng các biện
pháp bắt cũng phải quán triệt các nguyên tắc chung, các chủ trương, đường lối
chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển nền
kinh tế - xã hội của đất nước ta.
1.1.2. Biện pháp bắt người đang bị truy nã
1.1.2.1. Khái niệm biện pháp bắt người đang bị truy nã
Để đảm bảo tính chính xác, khách quan, nhanh chóng và xử lý nghiêm
minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, với phương châm "không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội", các cơ quan và người có thẩm quyền theo
quy định của BLTTHS được phép áp dụng BPNC quy định tại Điều 79
BLTTHS. Nội dung của điều luật là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bắt

của lực lượng Công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm nhằm phát hiện, tìm kiếm, bắt giữ người có hành vi phạm tội
đang lẩn trốn theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ
cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phạt tù hoặc tử
hình [48].

25
Theo Từ điển nghiệp vụ phổ thông: "Truy nã tội phạm là tìm bắt kẻ
phạm tội đang lẩn trốn mà chưa biết kẻ đó trốn ở đâu theo lệnh truy nã của cơ
quan có thẩm quyền" [44].
Theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì:
Truy nã tội phạm là truy bắt người phạm tội đang lẩn trốn
theo quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền. Truy nã tội
phạm là một hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự, được thực
hiện bằng cách áp dụng tổng hợp các biện pháp công tác, nhằm phát
hiện, bắt giữ bị can, bị cáo, người bị kết án phạt tù hoặc tử hình,
phạm nhân đang lẩn trốn phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án [43].
Còn theo tác giả Đỗ Hùng thì "Truy nã tội phạm là một hoạt động nghiệp
vụ pháp lý rất quan trọng và là một bộ phận không thể thiếu được trong cuộc
đấu tranh chống tội phạm nhằm phát hiện, bắt giữ người phạm tội bỏ trốn,
phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và thi hành án phạt tù"
[21].
Trong Giáo trình truy nã - truy tìm của trường Đại học Cảnh sát nhân
dân thì: "Truy nã tội phạm là một công tác nghiệp vụ của cơ quan Công an
được tiến hành bằng mọi biện pháp cần thiết nhằm bắt lại những kẻ đang trốn
tránh pháp luật theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền" [40].
Theo Giáo trình Luật TTHS, trường Đại học Luật Hà Nội thì: "Người
đang có lệnh truy nã là người thực hiện hành vi phạm tội đã có lệnh bắt hoặc
đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang thi hành án phạt tù tại trại giam thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status