Sửa đổi hiến pháp ở việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua lần sửa đổi hiến pháp 2013 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HÀ

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
QUA LẦN SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HÀ

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
QUA LẦN SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 2013

Chuyên ngành
Mã số

: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Hà

1


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................1
MỤC LỤC ..................................................................................................................2
DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT..........................................5
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................6
1. Tính cấp thiết ..................................................................................................6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................................7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................10
6. Ý nghĩa khoa học và điểm mới của luận văn .............................................10
7. Bố cục của Luận văn ....................................................................................11
CHƢƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP ..........................12
1. Khái quát chung về sửa đổi hiến pháp .......................................................12
1.1. Khái niệm sửa đổi hiến pháp .............................................................12
1.2. Lý do sửa đổi hiến pháp .....................................................................13
1.3. Giới hạn, phạm vi sửa đổi hiến pháp ................................................14
1.4. Quy trình sửa đổi hiến pháp ..............................................................15
2. Sửa đổi hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam ..................................17
2.1. Sửa đổi Hiến pháp 1946 .....................................................................17
2.2. Sửa đổi Hiến pháp 1959 .....................................................................20
2.3. Sửa đổi Hiến pháp 1980 .....................................................................21

2.6.3. Về hiệu lực và việc sửa đổi hiến pháp .............................................79
CHƢƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH SỬA
ĐỔI HIẾN PHÁP Ở NƢỚC TA HIỆN NAY .......................................................81
3.1. Hoàn thiện quy trình sửa đổi hiến pháp ở nƣớc ta hiện nay .................81
3.1.1. Quan điểm hoàn thiện ......................................................................81
3.1.2. Giải pháp hoàn thiện ........................................................................82
3.2. Đảm bảo sự tham gia rộng rãi và thực chất của nhân dân trong quá
trình sửa đổi hiến pháp ....................................................................................86
3.2.1. Quan điểm .........................................................................................86
3.2.2. Giải pháp ...........................................................................................88

3


KẾT LUẬN ..............................................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................102
PHỤ LỤC I ............................................................................................................105

4


DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

DTSĐHP

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp


cơ quan trong bộ máy Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Với vai trò
và nội dung quan trọng như vậy, Hiến pháp được coi là nền tảng pháp lý của quốc gia,
là đạo luật cơ bản của Nhà nước và có giá trị tối thượng. Vì vậy, việc xây dựng hiến
pháp và sửa đổi hiến pháp là công việc trọng đại của quốc gia.
Cải cách sâu rộng về hiến pháp cũng là một trong những hoạt động nhằm thích
ứng với sự phát triển của xã hội và hiện đại hóa Nhà nước. Một hiến pháp hiện đại
bên cạnh các quy định về tổ chức Nhà nước còn phải chứa đựng các quyền con
người cơ bản và các quyền cơ bản của công dân mà nhân dân đòi hỏi thực hiện. Hệ
thống chính trị thiết lập cho người dân các quyền, yêu cầu Nhà nước phải giải quyết
và chịu trách nhiệm về những hành vi trái với pháp luật của mình. Thông qua một
bản hiến pháp có hiệu lực và hiệu quả, được người dân thông hiểu và chấp nhận thì
niềm tin và ý thức của người dân đối với Nhà nước pháp quyền mới được nâng cao,
chỉ khi nào người dân được đảm bảo rằng, họ không chỉ có các quyền, mà kể cả
trong trường hợp tranh chấp, họ vẫn được bảo vệ các quyền đó, thì họ mới sẵn sàng
cống hiến và phụng sự Nhà nước pháp quyền.
Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã được áp
dụng trong thực tiễn. Tuy nhiên, từ đó đến nay đất nước đã có nhiều thay đổi, nhất
là về kinh tế - xã hội, do đó bản Hiến pháp này cần được nghiên cứu sửa đổi. Báo
cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Khẩn trương nghiên cứu
sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù
hợp với tình hình mới”. Theo đó, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tại kỳ họp thứ

6


nhất, đã thành lập Ủy Ban DTSĐHP năm 2013 để chuẩn bị các kế hoạch tổng thể
cho lần sửa đổi toàn diện thứ hai Hiến pháp 1992.
Song qua thực tiễn sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cho thấy quy trình sửa đổi
còn nhiều bất cập; các ý kiến của nhân dân chưa được ghi nhận đúng và đủ trong

của một bản hiến văn. Chính vì vậy, sửa đổi hiến pháp là đợt sinh hoạt chính trị
quan trọng của một quốc gia. Bởi thế, có rất nhiều các công trình, bài viết chứa
đựng nhiều tâm huyết của các tác giả về hiến pháp nói chung, về lĩnh vực sửa đổi
hiến pháp nói riêng. Trong số đó phải kế đến một số công trình tiêu biểu như:
Trước hết, đó là những công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Đăng Dung.
Ông là một trong những nhà giáo dành nhiều tâm huyết của mình cho khoa học
Luật Hiến pháp. Ông đã viết nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều sách tham
khảo có giá trị về hiến pháp nói chung, về vấn đề sửa đổi hiến pháp nói riêng. Trong
số đó phải kể đến các Giáo trình Luật Hiến pháp do ông chủ biên (các năm 2007,
2013…); sách chuyên khảo “Những vấn đề về hiến pháp và sửa đổi hiến pháp”
(2012); sách chuyên khảo “ABC về Hiến pháp” (2013) và là đồng tác giả của rất
nhiều công trình nghiên cứu khoa học, sách tham khảo, rất nhiều bài viết trên các
tạp chí, các trang báo điện tử…;
Cùng với đó là hàng loạt các tài liệu nghiên cứu về hiến pháp và sửa đổi hiến
pháp của các tác giả như: Sách chuyên khảo : “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 –
Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2 tập) (2012) của đồng các tác giả GS.TS Phạm
Hồng Thái, Nguyễn Sỹ Dũng, GS.TS Nguyễn Đăng Dung, PGS.TS Vũ Công Giao,
Hoàng Minh Hiếu, TS. Đặng Minh Tuấn; Sách chuyên khảo “Hiến pháp: những
vấn đề lý luận và thực tiễn”(2011) của đồng các tác giả GS.TS Nguyễn Đăng Dung,
GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS. TS Vũ Công Giao; Sách tham khảo “Bình luận
khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013” (2014)
của nhiều tác giả, chủ biên là GS.TSKH Đào Trí Úc – PGS.TS Vũ Công Giao; Sách
tham khảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sửa đổi hiến pháp ở Việt
Nam” của PGS.TS Nguyễn Như Phát (2012); Sách tham khảo “Luận về sửa đổi
Hiến pháp năm 1992” của TS Võ Trí Hảo (2013); Sách tham khảo “Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về xây dựng và ban hành hiến pháp” của GS.TS Trần Ngọc
Đường (2013); Sách tham khảo “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp năm 1992” của GS.TS Võ Khánh Vinh (2013); “Sự tham gia của

8

đổi Hiến pháp năm 2013 để tìm ra một số điểm mới quan trọng cũng như những vấn

9


đề cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi trong Hiến pháp 2013 đáp ứng yêu cầu đặt ra. Từ
đó, đưa ra những giải pháp cần thiết đối với vấn đề sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam
hiện nay trong điều kiện phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh của nước ta.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn có nội dung rộng và phức tạp. Trong khuôn khổ chuyên ngành
Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận văn chỉ tập trung phân tích những
vấn đề lý luận cơ bản về sửa đổi hiến pháp; phần thực trạng sửa đổi hiến pháp năm
2013, luận văn đi sâu hơn vào việc phân tích quá trình lấy ý kiến nhân nhân đối với
DTSĐHP, những vấn đề còn tồn tại, bất cập để tìm ra nguyên nhân; một số điểm
mới quan trọng về tổ chức quyền lực Nhà nước, về quyền con người, quyền công
dân cũng như những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi trong Hiến pháp 2013
đáp ứng các yêu cầu đặt ra, trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm và những giải pháp cần
thiết đối với vấn đề sửa đổi hiến pháp trong điều kiện ở nước ta hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật; Các quan điểm của Đảng về sửa đổi hiến pháp, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Luận văn
cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp, các luật và Điều ước quốc tế
quy định các vấn đề mà Hiến pháp hiến định và các văn bản pháp luật khác quy
định về sửa đổi hiến pháp. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp hệ thống, phương pháp luật học so sánh… để làm sáng tỏ những nội
dung cần nghiên cứu của luận văn.



CHƢƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
1. Khái quát chung về sửa đổi hiến pháp
1.1. Khái niệm sửa đổi hiến pháp
Thuật ngữ “Hiến pháp” có gốc La tinh là “Constitutio” xuất hiện từ rất xa xưa
với nghĩa: xác định, quy định [5, tr71]. Nhà nước La Mã cổ đại dùng thuật ngữ này
để chỉ các văn bản quy định của Nhà nước. Nhưng với nghĩa hiện nay, Hiến pháp
được hiểu là một đạo luật cơ bản của một quốc gia do cơ quan quyền lực Nhà nước
cao nhất ban hành, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động
của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Mọi cá nhân,
cơ quan và tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ hiến pháp. [7, tr13]
- Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành, thì
sửa đổi được hiểu là “Thay đổi, thêm bớt cho phù hợp với yêu cầu đã khác
trước”.[26, tr1128]
- Cũng theo cuốn từ điển này, thì Hiến pháp được hiểu là “đạo luật cơ bản
của nhà nước quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ công
dân, tổ chức bộ máy nhà nước”.[26, tr565]
- Theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nhà xuất bản
Đại Học Quốc gia thì Sửa đổi hiến pháp là “việc điều chỉnh hoặc bổ sung thêm một
số điều khoản vào Hiến pháp hiện hành”. [23, tr412]
- Theo cuốn giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội thì Sửa đổi hiến pháp là một quy trình đặc biệt đặt ra các quy tắc trong
việc sửa đổi hiến pháp. Việc sửa đổi hiến pháp đặt ra khi đã có Hiến pháp, tức là sửa
đổi những quy định của bản Hiến pháp hiện hành. Nguồn gốc của việc sửa đổi
thường xuất phát từ việc những quy định Hiến pháp hiện hành không còn phù hợp với
những thay đổi của đời sống thực tiễn, nhưng cũng có thể xuất phát từ một sự áp đặt
từ bên ngoài hoặc do ý chí chủ quan của một/hoặc một nhóm người”. [5, tr95]
- Cũng liên quan đến khái niệm sửa đổi hiến pháp, trong cuốn ABC về Hiến

quan điểm, mong muốn, sự ấn định của thế hệ trước, dù có những điểm phù hợp
cần kế thừa”[7, tr42].
Như vậy, dù là bản hiến văn ra đời rất phù hợp với xã hội đương thời hay bản
hiến văn ngay từ khi ra đời đã mang trong mình những khiếm khuyết thì theo thời

13


gian bản hiến văn đó đều phải sửa đổi để phù hợp với xã hội đương thời và những
nhu cầu thực tiễn của con người.
1.3. Giới hạn, phạm vi sửa đổi hiến pháp
Việc sửa đổi hiến pháp là sự kiện hệ trọng của đời sống xã hội, do vậy, các
nhà lập hiến cũng vạch ra những giới hạn nhằm đảm bảo sự ổn định chính trị quốc
gia cũng như bản chất của thể chế chính trị. Nhìn chung, người ta khái quát thành ba
loại giới hạn của việc sửa đổi hiến pháp như sau:
Một là, giới hạn về thời gian: Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi trong một
thời gian xác định. Đó thường là khoảng thời gian được dành cho việc hình thành
các thiết chế hiến định sau khi hiến pháp sửa đổi được ban hành; do vậy, rất cần duy
trì sự ổn định về mặt thể chế (Hiến pháp Hy Lạp năm 1975, Bồ Đào Nha năm 1976,
Philippines năm 1987, Brazil năm 1988...). Về điểm này, hợp lý nhất là nên cấm
sửa đổi hiến pháp trong thời hạn 5 năm kể từ khi được ban hành, trừ những thay đổi
mang tính chất biên tập (về mặt kỹ thuật); [10]
Hai là, giới hạn về tình huống (hoàn cảnh): Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi
khi xuất hiện những tình huống nhạy cảm về chính trị như khủng hoảng chính phủ,
an ninh quốc gia bị đe dọa, chủ quyền lãnh thổ bị xâm phạm, tình trạng chiến tranh,
thảm họa về thiên tai, dịch bệnh… (Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978, Rumani
Năm 1991, Pháp...); [10]
Ba là, giới hạn về nội dung: Theo đó, hiến pháp bị cấm sửa đổi một số nội
dung có liên quan đến việc xác định nền tảng của chế độ Nhà nước như bản chất
dân chủ của thể chế chính trị, hình thức chính thể, hình thức cấu trúc Nhà nước, chủ

đảm phù hợp, cập nhật với những đổi thay của xã hội. Có nghĩa là, quy trình sửa đổi
hiến pháp bao giờ cũng có sau quy trình ban hành hiến pháp. Chính vì vậy, nó được
chú ý hơn về mặt chủ thể, quy trình và cách thức tiến hành.
Quy trình sửa đổi hiến pháp được hiểu một cách chung nhất là trình tự, thủ tục
sửa đổi được quy định thành các khâu, các bước tiến hành chặt chẽ với những chuẩn
mực chung theo những đòi hỏi dân chủ và tiêu chí của Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Thông thường quy trình sửa đổi hiến pháp được tiến hành theo trình tự, thủ tục
rất quy củ và chặt chẽ như sau:

15


Chủ thể và sáng quyền sửa đổi hiến pháp: Chủ thể có thẩm quyền sửa đổi hiến
pháp là chủ thể đặc biệt, gần như chủ thể ban hành hiến pháp. Một số nước quy định
phải do nhân dân quyết định, thông qua hình thức trưng cầu ý dân (như Pháp, Nga,
Thái Lan, Philippin…). Tuy nhiên, đa số các nước quy định cho các cơ quan đại
diện (Đại hội nhân dân, Quốc hội/Nghị viện lập pháp) thực hiện việc này với thủ tục
đa số đặc biệt 2/3 hoặc 3/4 trên tổng số đại biểu. Nhiều nước còn kèm theo thủ tục
sau đó là phải được nguyên thủ quốc gia (Vua, Tổng thống) xem xét công bố hoặc
đưa ra cho nhân dân phúc quyết (như là phê chuẩn). [10]
Sáng kiến đề nghị và quyết định việc sửa đổi hiến pháp: quyền này thuộc
nhiều chủ thể khác nhau từ nghị viện và các đại biểu, các đảng phái chính trị, chính
phủ (ngành hành pháp) cho đến nhân dân, cử tri như ở Thụy Sỹ, Cộng hòa liên bang
Đức, một số bang của Mỹ. [10]
Soạn thảo DTSĐHP: Việc soạn thảo dự thảo sửa đổi hiến pháp thường được
giao cho một Hội nghị hiến pháp bao gồm đại diện rộng rãi các tầng lớp, đảng phái
và các lãnh thổ (bang, tỉnh) - do nhân dân bầu ra. Ngoài hình thức Hội nghị hiến
pháp, kinh nghiệm thế giới cho thấy, thành lập Ủy ban sửa đổi hiến pháp cũng là
một giải pháp trong việc thảo luận và soạn thảo dự án sửa đổi hiến pháp. Ưu điểm
của hình thức Ủy ban sửa đổi hiến pháp là nó cho phép tập hợp được trí tuệ của các

nhà lập pháp lựa chọn phương pháp phù hợp nhất trong từng hoàn cảnh nhất định.
2. Sửa đổi hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam
2.1. Sửa đổi Hiến pháp 1946
Hiến pháp năm 1946 ra đời là kết quả của một cuộc trường kỳ đấu tranh gian
khổ và anh dũng của dân tộc ta từ hàng chục năm trước. Nó đã thừa hưởng những
tinh thần, những lý tưởng, những nguyên tắc mà cách mạng đã vạch ra. Do đó, Hiến
pháp năm 1946, về căn bản có tính tiến bộ rõ rệt.
Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 ra đời ngay sau khi Cách mạng tháng Tám
vừa thành công, Chính phủ và nhân dân ta đang phải đương đầu với rất nhiều khó
khăn ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Việc thực hiện Hiến pháp năm 1946 một
mặt đem lại những hiệu quả tích cực cả về kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng mặt
khác, trong điều kiện nước ta chưa thống nhất. Việc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn
tổ chức ở miền Bắc của nước ta đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Ý thức chính
trị nói chung của tầng lớp nhân dân tuy đã được nâng cao, nhưng tự do dân chủ

17


chưa được hoàn toàn phát huy và đảm bảo. Những nguyện vọng và yêu cầu chính
đáng của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của nhân dân lao động chưa được ghi
nhận đầy đủ. Nội dung bản Hiến pháp 1946 đã có nhiều điểm không theo thực tế,
thiếu chính xác. Biểu hiện: (1) Chưa xác định rõ ràng chủ thể lãnh đạo trong bộ máy
Nhà nước. (2) Chưa hiến định đúng hướng đi từ chế độ dân chủ nhân dân tiến lên
chủ nghĩa xã hội là hai bước không thể tách rời trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội của nước ta. (3) Chưa hiến định Chế độ kinh tế. (4) Chưa hiến định rõ ràng
quyền và nghĩa vụ của công dân. (5) Bộ máy Nhà nước còn nhiều bất cập: vai trò
của Quốc hội mờ nhạt; chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ - Nghị viện chồng chéo;
mối quan hệ Chính phủ - Quốc hội không rõ ràng; các thể chế khác chưa thống
nhất; Chưa phân định rõ các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp… [30]

trong những năm qua và nêu rõ nhiệm vụ cách mạng mới trong giai đoạn lịch sử
mới. (1) Về tính chất Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hiến pháp sửa đổi
khẳng định “ Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên
minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Đồng thời khẳng định nước ta là
một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam
đều bình đẳng về nghĩa vụ; chính sách dân tộc của chúng ta nhằm thực hiện sự bình
đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xã hội. (2) Đường
lối chung tiến lên chủ nghĩa xã hội: nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến dần từ
chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo kinh tế
quốc dân theo chủ nghĩa xã hội. (3) Mặc dù tên gọi chính thể không thay đổi (Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa), nhưng đây là bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam mang
nhiều dấu ấn của việc tổ chức nhà nước XHCN: quy định Quốc hội là cơ quan
quyền lực cao nhất của Nhà nước (tập quyền). Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền
lực của Nhà nước ở địa phương. Cùng với đó, hiến pháp sửa đổi cũng nêu rõ, tất cả
quyền lực Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân
sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. (4) Quyền lợi và nghĩa vụ cơ
bản của công dân, Hiến pháp sửa đổi khẳng định: Công dân nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa có quyền làm việc; có quyền nghỉ ngơi; có quyền tự do thân thể; có

19


quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình; có quyền bầu cử, ứng
cử…; đồng thời cũng nêu rõ nghĩa vụ của công dân: tuân theo hiến pháp, pháp luật,
kỷ luật lao động, trật tự công cộng và những quy tắc sinh hoạt xã hội, tôn trọng tài
sản công cộng, đóng thuế theo pháp luật, làm nghĩa vụ quân sự bảo vệ tổ quốc. [30]
Hiến pháp sửa đổi với nhiều điểm mới phù hợp với tình hình hiện tại sau khi
được Quốc hội thông qua trở thành Hiến pháp mới của nước ta - Hiến pháp năm
1959 gồm 10 chương chia làm 72 điều, thêm chương II – Chế độ kinh tế (so với

1959, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI, bản Báo cáo của UBDTSĐHP của Quốc
hội đã được trình bày, nêu rõ sự cần thiết phải có hiến pháp của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; nội cung cơ bản của dự thảo hiến pháp; Cuộc thảo luận dự
thảo hiến pháp trong cán bộ và nhân dân và những việc phải làm để đảm bảo hiến
pháp mới được thi hành. [30]
Nội dung bản dự thảo hiến pháp nêu rõ 6 vấn đề: Tính chất của Nhà nước
(Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước chuyên chính
vô sản”); Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam (Điều 4: “Đảng cộng sản
Việt Nam… là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”); Quyền làm chủ tập thể của
nhân dân lao động ở nước ta; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Cơ cấu tổ
chức Nhà nước và vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
DTSĐHP đã được thảo luận và đưa ra lấy ý kiến toàn thể cán bộ, nhân dân.
Nhân dân với cương vị là người chủ tập thể cuả đất nước, đã tích cực tham gia xây
dựng đạo luật cơ bản có tầm quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nước nhà
và lợi ích của toàn dân.
Hiến pháp 1959 sau khi sửa đổi trở thành Hiến pháp mới của nước ta- Hiến
pháp 1980. Hiến pháp 1980 được Quốc hội biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ bảy,
Quốc hội khóa VI ngày 18 tháng 12 năm 1980 gồm 12 chương, 147 điều trên cơ sở
kế thừa và phát triển Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 do chủ tịch Hồ Chí Minh
trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng trở thành đạo luật cơ bản của Nhà nước, là Hiến
pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước.
2.3. Sửa đổi Hiến pháp 1980
Hiến pháp năm 1980 được Quốc hội khóa VI thông qua ngày 18 tháng 12 năm
1980 là đạo luật cơ bản của Nhà nước đã thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản

21


Việt Nam được đề ra trong Nghị quyết Đại hội lần thứ IV (tháng 12 năm 1976) của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status