Báo chí trực tuyến ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHAN VĂN TÚ
B CHÍ TRỰC TUYẾN Ở
VIỆT NAM MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
(trong tương quan với các loại hình báo chí truyền thơng)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC
MÃ SỐ: 60.32.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐINH VĂN HƯỜNG

góc độ nghiệp vụ báo chí, chúng ta có thể thấy:
- Tổ chức đối thoại giữa nhà quản lý với ngƣời dân qua các kênh truyền
thông không phải là việc làm quá mới. Các hình thức diễn đàn, đối thoại đã có

(1) 8 kênh truyền hình VTC phát gồm 5 kênh của chính VTC, kênh âm nhạc MTV, kênh tin
tức BBC, và một kênh theo yêu cầu; còn 4 kênh phát thanh gồm 2 kênh của Đài Tiếng nói
Việt Nam, 1 kênh nhạc trẻ, và một kênh ca khúc cách mạng.
(2) DVB-H (Digital Video Broadcast – Handheld) là công nghệ phát sóng truyền hình kỹ thuật
số cho máy điện thoại di động. Hiện có nhiều công nghệ phát sóng truyền hình di động,
nhưng với công nghệ DVB – H, Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới sử dụng.
4
khá lâu trên báo in, phát thanh, truyền hình. Nhƣng so với báo trực tuyến, các
dạng thức nội dung nhƣ thế còn nhiều hạn chế về dung lƣợng thông tin, không
gian công chúng; thời gian, chủ thể, chủ đề đối thoại; tính chất trực tiếp, tính
chất tƣơng tác… Website Đảng Cộng sản Việt Nam đƣa nội dung này vào hoạt
động thể hiện rõ nét định hƣớng lớn trong công tác tƣ tƣởng thời kỳ đổi mới: mở
rộng hơn nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa. Qua đối thoại trực tuyến, lãnh đạo Đảng
và Nhà nƣớc sẽ nghe đƣợc nhiều tiếng nói, nguyện vọng và bức xúc của nhân
dân trong nƣớc, ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài để kịp thời tiếp thu bổ sung chính
sách và chỉ đạo giải quyết những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội.
- Việc VTC Mobile phát sóng dịch vụ truyền hình di động đánh dấu một
mốc lớn trong việc phát triển truyền thông trực tuyến ở Việt Nam. Dù chƣa thể
phổ biến ngay, song hiện nay, điện thoại di dộng ở Việt Nam không chỉ là thiết
bị liên lạc, hay chụp ảnh, ghi hình mà còn giúp ngƣời dân được thông tin và
được quyền thông tin. Truyền thông trực tuyến giờ đây không chỉ có “máy tính
nối mạng”. Xu thế hội tụ công nghệ cũng nhƣ tích hợp các loại hình truyền
thông đại chúng đang dần đi vào đời sống và ngày càng đáp ứng nhu cầu thông
tin đa dạng, phong phú.
Tuy mới ra đời 9 năm nhƣng báo chí trực tuyến ở Việt Nam đã và đang có
những bƣớc phát triển quá nhanh mà chúng ta chƣa kịp tổng kết đầy đủ. Tốc độ

hiện nay, doanh thu quảng cáo của báo chí trực tuyến ngày càng tăng.
Đó là những tiền đề quan trọng trong chặng đƣờng phát triển báo chí trực
tuyến những năm tới. Mặt khác, việc khai thác tốt thế mạnh và hiệu quả của báo
chí trực tuyến sẽ góp phần rất lớn trong việc đấu tranh trên mặt trận tƣ tƣởng –
văn hóa, đặc biệt, trong việc đấu tranh chống các luận điệu thù nghịch, chống
âm mƣu diễn biến hòa bình; góp phần mở rộng và phát triển nền dân chủ, nâng
cao dân trí và tạo cơ hội hƣởng thụ thông tin bình đẳng cho ngƣời dân.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, Internet nói chung và báo chí phát hành
trên mạng nói riêng vẫn còn những mặt trái, những hạn chế; vấn đề quản lý nhà

(1) Trích Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển Bưu chính -
Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” do Thủ tướng Phan Văn
Khải ký ngày 18/10/2001
6
nƣớc về báo chí trực tuyến cũng nhƣ Internet còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó,
việc đào tạo đội ngũ làm báo trực tuyến chƣa đƣợc quy củ và hầu hết những
ngƣời làm báo trực tuyến hiện nay xuất thân từ những cơ quan báo chí truyền
thống, ít đƣợc trang bị nhiều kiến thức tác nghiệp phù hợp với đặc trƣng của loại
hình báo chí mới này… Quá trình phát triển báo trực tuyến ở Việt Nam - đôi
nơi, đôi chỗ - còn mang tính tự phát và những vấn đề lý luận về báo chí trực
tuyến chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều.
Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến báo chí trực tuyến đang là địa hạt
quá rộng, quá mới nhƣng cũng hết sức lí thú và cần thiết. Đó là một hƣớng tiếp
cận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, đồng thời, giúp cho việc sử dụng, khai thác
loại hình báo chí này đạt hiệu quả cao hơn… Từ những lý do trên, chúng tôi
quyết định chọn nội dung “tìm hiểu một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của
báo chí trực tuyến ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Các công trình khoa học nghiên cứu về lý luận báo chí trực tuyến ở Việt
Nam chƣa nhiều. Về phƣơng diện lịch sử báo chí, do chặng đƣờng phát triển

cũng nhƣ ở Việt Nam đều có sự phát triển Phù Đổng. Nó mang trên vai sức
mạnh tổng hợp của những loại hình báo chí truyền thống. Nó tích hợp sức mạnh
công nghệ của truyền thông hiện đại. Bản chất truyền thông của nó thể hiện khá
rõ nét nhƣng nó đem đến những đặc điểm mới, rất mới về phƣơng diện truyền
thông. Tìm hiểu, khái quát đƣợc những đặc trƣng chủ yếu của báo chí trực tuyến
là việc làm khó, đặc biệt là những đặc trƣng về vai trò nhà truyền thông – tâm lý
đặc điểm tiếp nhận của công chúng truyền thông có liên quan đến công nghệ, kỹ
thuật nhƣ ngôn ngữ liên kết siêu văn bản (hypertext), công nghệ RSS hoặc hình
thức weblog phổ biến gần đây. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ xin
dừng lại ở việc miêu tả và phân tích các đặc trưng cơ bản của báo chí trực tuyến
trong tƣơng quan so sánh với các loại hình báo chí truyền thống (báo in, phát
thanh, truyền hình) nhƣ tính toàn cầu, tính tƣơng tác, đặc trƣng cập nhật thông
tin phi định kỳ, đặc trƣng “trình bày” tác phẩm báo chí, đặc trƣng tích hợp các
8
phƣơng tiện truyền thông, khả năng lƣu trữ và tìm kiếm thông tin, đặc trƣng cá
nhân hóa thông tin v.v… Qua việc nhận diện các đặc trƣng chủ yếu của báo chí
trực tuyến, luận văn cố gắng làm rõ ý nghĩa: Internet đang từng bƣớc làm thay
đổi các cách thu thập, sản xuất và phân phối thông tin, đồng thời, làm rõ những
ƣu thế - hạn chế của báo trực tuyến trong thực tiễn đời sống báo chí ở Việt Nam.
Từ mục tiêu trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của
luận văn là:
+ Khảo sát, nghiên cứu cách tổ chức và hoạt động của hệ thống báo chí
phát hành trên mạng ở Việt Nam (nhƣ việc cập nhật thông tin hằng ngày, việc tổ
chức các diễn đàn, việc tích hợp các loại hình, việc trình bày website…) nhằm
góp phần nhận diện “tính trội” của các đặc trƣng của báo chí trực tuyến trong so
sánh với các loại hình báo chí truyền thống.
+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá các kết quả khảo sát và tổng kết những
thành tựu cũng nhƣ hạn chế của báo chí trực tuyến Việt Nam những năm qua,
đồng thời, phân tích các xu thế và dự báo xu hƣớng phát triển báo trực tuyến ở
Việt Nam trong những năm tới, đặc biệt là xu thế tích hợp các loại hình truyền

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học:
Luận văn mong muốn góp phần bƣớc đầu tìm hiểu về các đặc trƣng của
báo trực tuyến đứng ở góc độ lý luận báo chí. Đồng thời, thông qua việc khảo
sát hệ thống báo chí phát hành trên mạng internet ở Việt Nam, luận văn cố gắng
khái quát đƣợc những đặc điểm có tính quy luật của quá trình hình thành và phát
triển “báo mạng” ở Việt Nam nhìn từ góc độ lịch sử báo chí. Cũng thông qua
luận văn, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất cách định danh một số khái niệm hiện
còn chƣa thống nhất: Phân biệt sự khác biệt giữa báo chí trực tuyến với tƣ cách
một loại hình báo chí và các dạng website của các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp, cá nhân; phân biệt cách định danh của một số khái niệm hiện chƣa thống

(1) Website www.alexa.com ra đời từ năm 1996, chuyên theo dõi, đo lường tần suất truy cập
và xếp thứ hạng của tất cả Website trên Internet theo Top 500/ 10.000/ 100.000. Alexa hiện
được xem là dịch vụ đánh giá website đáng tin cậy.
10
nhất “trang thông tin điện tử trên mạng internet”, “cổng thông tin điện tử
(portal)”, các cách gọi báo mạng, báo điện tử, báo trực tuyến v.v…
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Thông qua việc miêu tả, phân tích các đặc trƣng của báo chí trực tuyến,
luận văn sẽ cố gắng đề ra một số giải pháp khai thác thế mạnh và hạn chế các
nhƣợc điểm của loại hình báo chí này trong việc thu thập thông tin, tổ chức sản
xuất chƣơng trình, phân phối thông tin, góp phần vào việc xây dựng phƣơng
pháp tác nghiệp đối với các tòa soạn và phóng viên báo trực tuyến. Và từ việc
phân tích những mặt tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển báo chí trực tuyến
ở Việt Nam 9 năm qua cũng nhƣ dự báo về xu hƣớng phát triển Internet và báo
trực tuyến, luận văn xin đƣợc đề xuất một số biện pháp cải tiến công tác quản lý
nhà nƣớc về báo chí đối với loại hình báo chí này.
Chúng tôi cũng hy vọng luận văn sẽ đóng góp đƣợc một vài tƣ liệu, tài
liệu tham khảo cho các cơ quan báo chí, ngƣời làm báo trực tuyến và những ai

2.2. Một số đặc điểm trong tiến trình phát triển báo chí trực tuyến ở VN:
2.2.1. Phát triển gắn liền với thành tựu khoa học - công nghệ:
2.2.2. Phát triển từ những cơ quan báo chí truyền thống
2.2.3. Phát triển song hành cùng với sự thu hút ngày càng nhiều
công chúng trẻ và người Việt Nam ở nước ngoài:
2.2.4. Phát triển song hành với trình độ báo chí trực tuyến thế giới
2.3. Những báo trực tuyến tiêu biểu:
2.3.1. Báo Nhân Dân điện tử
2.3.2. Báo trực tuyến VnExpress
3. Những thành tựu và hạn chế của báo chí trực tuyến Việt Nam
3.1. Thành tựu
3.2. Hạn chế
CHƢƠNG III: XU THẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN BÁO CHÍ TRỰC TUYẾN Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI
1. Xu thế phát triển của báo chí trực tuyến
1.1. Một sự phát triển vƣợt bậc về Internet
1.2. Một tƣơng lai hoàng kim của báo trực tuyến
1.3. Doanh thu quảng cáo của báo trực tuyến sẽ tăng
1.4. Xu thế hội tụ công nghệ và tích hợp các loại hình truyền thông
1.5. Chân dung công chúng truyền thông trực tuyến
2. Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển báo trực tuyến hiện nay:
2.1. Xây dựng nội dung phù hợp với đặc trƣng của loại hình
2.2. Vấn đề bản quyền
2.3. Vấn đề hạ tầng viễn thông
2.4. Vấn đề nhân lực
2.5. Vấn đề cơ chế chính sách
3. Một số giải pháp chủ yếu trong việc phát triển báo chí trực tuyến ở Việt Nam
3.1. Giải pháp quản lý
3.2. Giải pháp nhân lực
3.3. Giải pháp công nghệ


(1) Dẫn theo “Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” (Ban hành kèm theo Quyết định
số 219/2005/QĐ-TTg ngày 09/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ)
(2) TCP viết tắt cụm “Tranmission Control Protocol”, IP viết tắt cụm “Internet Protocol” : Giao
thức kiểm soát và truyền dữ liệu qua Internet. Theo tác giả Nguyễn Sơn Minh trong bài
“Internet radio – Đài Phát thanh của tương lai” thì hiện nay, đại học Bắc California đang thử
nghiệm một giao thức mới cho Internet là BIC với tốc độ đường truyền cao gấp 15.000 lần
công nghệ dial-up (“Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, tập 6, Khoa Báo chí
trường Đại học KHXH và NV Hà Nội xuất bản - NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2005)
13
là kho tài nguyên thông tin liên tục phát triển trên hành tinh.
Theo con số thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), tính
đến tháng 6 năm 2006, trên toàn thế giới đã có hơn 1 tỷ ngƣời sử dụng Internet
(con số này ở Việt Nam là 13.157.156, đạt 15.83 % dân số). Internet ngày nay là
một phần không thể thiếu trong cuộc sống của nhiều ngƣời trên thế giới. (
1
)
1.2. Internet nhìn từ lý luận báo chí – truyền thông:
1.2.1. Truyền thông và truyền thông đại chúng:
Một cách chung nhất, “truyền thông (communication) là quá trình liên tục
trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo ra sự liên kết lẫn
nhau để dẫn tới sự thay đổi hành vi và nhận thức” (
2
).
Lý thuyết truyền thông chỉ ra thuộc tính của quá trình của truyền thông và
đƣa ra mô hình để khái quát quá trình ấy: ngƣời phát tin – kênh truyền thông –
ngƣời nhận tin. Đây đƣợc xem là mô hình truyền thông căn bản mà Harol D.
Lasswell nêu lên (“Ai nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai, và hiệu quả ra ra sao?”)
(
3

chức năng truyền thông, tùy vào mục đích của ngƣời sử dụng, điều mà các
phƣơng tiện truyền thông trƣớc nó (nhƣ báo in, phát thanh, truyền hình) hầu nhƣ
không làm đƣợc.
Internet, có khả năng làm chức năng phƣơng tiện truyền thông liên cá
nhân, mà biểu hiện tiêu biểu là thƣ điện tử (e-mail), điện thoại internet (internet
phone), chat, phòng chat (chat room), diễn đàn (forum), website nội bộ, weblog
(một dạng nhật ký, website cá nhân trên mạng Internet) Internet có chức năng
tạo môi trƣờng liên lạc tuyệt vời và rẻ tiền cho các cá nhân hay tổ chức giao dịch
với nhau tƣơng tự nhƣ những kỹ thuật truyền thông liên cá nhân truyền thống
hiện nay vẫn còn trong đời sống: gửi thƣ, điện thoại, telex hay fax… (
1
) Internet
còn đảm nhiệm chức năng của một phƣơng tiện truyền thông tập thể. Nhiều cơ
quan và công ty đã ứng dụng việc thiết lập những mạng cục bộ hoặc những trang
chủ internet diện rộng vào việc quản lý và giao dịch thông tin trong nội bộ đơn
vị hay nội bộ ngành của mình, vƣợt qua những ngăn cách về không gian địa lý

(1) Nhưng khả năng liên lạc của các phương tiện cũ (như điện thoại, telex hay fax…) không
thể có nhiều tiện ích phong phú như Internet. Fax không thể giúp chúng ta gửi một bức ảnh
màu, một đoạn âm thanh, một video clip, một văn bản số hóa (văn bản này có thể sửa chữa
được) cho người bạn thân nhưng thư điện tử làm được. Thư điện tử còn làm hơn thế nữa:
chỉ cần một cái click chuột là chúng ta có thể gửi đến hàng triệu địa chỉ khác nhau ở trên cả
hành tinh một bức thư (có kèm hình ảnh, âm thanh, văn bản) với cùng một chi phí thấp
giống như bức thư đó được gửi cho một người ở rất gần chúng ta.
15
hay thời gian (
1
).
Và chức năng quan trọng của Internet là chức năng của một phương tiện
truyền thông đại chúng. Ngày nay, với Internet, con ngƣời trên khắp hành tinh

năng xử lý, sắp xếp khối lƣợng thông tin khổng lồ đó một cách khoa học để sử
dụng và trao đổi với nhau một cách nhanh chóng. Và Internet cũng tạo ra một
loại hình truyền thông đại chúng mới với ý nghĩa là hoạt động thông tin mang
tính chính trị - xã hội, nghề nghiệp thuộc lĩnh vực chính trị, tƣ tƣởng, văn hóa -
tinh thần của xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội cũng
nhƣ công nghệ.
Và đó cũng là lý do mà số ngƣời sử dụng Internet trên thế giới cũng nhƣ ở
Việt Nam ngày càng tăng lên.
Thống kê số lượng người sử dụng Internet trên thế giới tính đến tháng 6 năm 2006
Châu lục
Dân số (ngƣời)
Số ngƣời sử dụng
Tỷ lệ %
Nguồn
Thế giới
6499697060
1041661286
16.02
IWS (1)
Châu Úc
33956977
17872707
52.63
IWS
Châu Mỹ
885381908
307433522
34.72
IWS
Châu Âu

châu lục tính đến tháng 6 năm 2006

1.2.3. Những hạn chế của Internet – nhìn từ góc độ truyền thông:
Với khả năng cung cấp lƣợng thông tin khổng lồ, nhanh nhất, hiệu quả
nhất, có tác động lớn nhất; với lợi thế tích hợp khả năng của các phƣơng tiện

(1) Internet world statistics
17
truyền thông đại chúng khác, thông tin trên mạng Internet ngày càng phong phú,
đa dạng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của công chúng trong nƣớc và trên thế
giới; tạo cơ hội thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ giao lƣu, hội nhập quốc tế,
tăng cƣờng sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và bạn bè trên thế
giới. “Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ ngƣời sử dụng Internet/100 dân của nƣớc ta so
với các nƣớc trong khu vực và thế giới còn ở mức thấp; kỹ thuật mạng tuy đã
đƣợc thay đổi hiện đại, nhƣng hệ thống quản lý điều hành còn nhiều hạn chế,
chất lƣợng chƣa cao; thông tin đƣa trên mạng Internet còn thiếu chọn lọc, thiếu
tập trung, chất lƣợng nội dung thông tin còn thấp; công tác quản lý mạng, quản
lý nội dung thông tin đƣa trên mạng và việc khai thác thông tin trên mạng
Internet còn nhiều thiếu sót, còn thiếu các chế tài, cơ chế chính sách đối với sự
phát triển Internet.” (
1
)
Internet đã bị lợi dụng để truyền bá thông tin xấu, hình ảnh đồi truỵ, thông
tin chống phá quốc gia Internet nhƣ con dao hai lƣỡi: Nếu không quản lý tốt
thông tin trên mạng, sẽ gây tác động xấu. Ngƣợc lại, nếu sử dụng tốt thông tin sẽ
giúp ích cho việc thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển Có ngƣời ví Internet
nhƣ một cái "chợ trời": Bên cạnh “hàng rẻ” mà hữu dụng còn vô số thông tin vô
bổ đƣợc đƣa vào một cách tùy hứng, vô trách nhiệm, gây không ít khó khăn cho
những ngƣời có nhu cầu tìm kiếm tri thức nghiêm túc. Gần đây, đã xảy ra (và nó
sẽ còn xảy ra) tình trạng vi phạm bảo mật thông tin và các bí mật dịch vụ trên

Lịch sử báo chí chỉ ra rằng sự hình thành và phát triển của một loại hình
báo chí thƣờng gắn liền với những phát minh công nghệ. Báo in ra đời đầu thế
kỷ XVII sau khi Johann Gutenberg (1400-1468) phát minh ra máy in bằng
khuôn đúc; Phát thanh ra đời năm 1920 sau khi nhân loại phát minh ra đèn phát
sóng và phát minh của nhà khoa học ngƣời Canada Reginald Fessenden vào năm
1906 về cơ chế phát sóng giọng nói và âm nhạc; "Báo hình" đầu tiên từ thập
niên 1940 cũng nhờ những phát minh công nghệ truyền dẫn trƣớc đó. Mỗi phát
kiến đó đƣa ra những phƣơng tiện chuyển tải mới cho hoạt động truyền thông
đại chúng. 1983, ngƣời Mỹ sáng tạo ra thuật ngữ “internet” sau khi phát kiến
mạng toàn cầu này trên cơ sở kết nối một số mạng đã có từ trƣớc nhƣ Arpanet
(lập năm 1969, kết nối dữ liệu giữa Bộ quốc phòng Mỹ và một số trƣờng đại học
ở Mỹ), Usenet (1979, kết nối giữa các đại học) hay CSNet (1982)… Sau đó 4

(1) Technological determinism: Có người dịch là thuyết “kỹ thuật tất định luận”
19
năm, với sự ra đời của công nghệ world wide web (
1
), Internet mới thực sự phát
triển mạnh trên toàn thế giới và báo chí internet (báo chí phát hành trên mạng)
đã ra đời.
Hiểu một cách chung nhất, báo chí trực tuyến là loại hình báo chí phát
hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ world wide web, với ngôn ngữ
HTML (
2
), dành cho công chúng sử dụng Internet.
Hiện nay chúng tôi chƣa biết đích xác website báo chí đầu tiên trên thế
giới “online” trên mạng Internet vào năm nào. Có tài liệu cho rằng đó website
phát hành trên Internet ngày 6/8/1991. Nhƣng theo TS.
Nguyễn Thị Thoa (Phó chủ nhiệm Khoa Phát thanh – Truyền hình, phụ trách bộ
môn Báo mạng điện tử, Học viện Báo chí – Tuyên truyền) thì "tờ báo điện tử

“Báo chí trên mạng, hàng ngày cung cấp những nội dung thông tin khổng
lồ, với 79% các báo thế giới đã có báo điện tử. Ở các nƣớc đang phát triển, tỷ lệ
đọc báo, nghe radio, xem truyền hình ngày càng giảm sút, thay vào đó là những
trang báo điện tử nói riêng và các website nói chung vừa nhanh, vừa ngắn gọn
và phong phú về mọi lĩnh vực… Công trình nghiên cứu mới đây nhất, công bố
ngày 21/6/2005, của Hiệp hội Quảng cáo tƣơng tác Châu Âu (EIAA), tiến hành
phỏng vấn qua điện thoại 7.000 thanh niên lứa tuổi 15 -24 tại 8 nƣớc Châu Âu
cho thấy: 46% ngƣời đƣợc hỏi cho biết đã giảm bớt thời gian xem truyền hình,
22% ít nghe radio hơn, 33% giảm đọc báo, một tỷ lệ giảm sút tƣơng tự cũng
diễn ra đối với việc sử dụng điện thoại (34%) và đọc sách (32%)” (
1
)
Các hình thức báo chí trực tuyến ngày càng phong phú cùng với sự phát
triển của công nghệ. Ngay đến tin nhắn điện thoại (SMS, MMS) cũng đƣợc khai
thác nhƣ một phƣơng tiện truyền thông trực tuyến. Nhiều tổ chức báo chí, phát
thanh – truyền hình trên thế giới đã tận dụng ƣu thế của tin nhắn để phát các gói
tin hằng ngày cho khách hàng. Ở Việt Nam, Tổng công ty truyền thông đa
phƣơng tiện VTC đang chuẩn bị đƣa ra dịch vụ bán các gói tin qua điện thoại di
động (thông qua tin nhắn trả về cho khách hàng gửi tin nhắn đặc biệt yêu cầu
dịch vụ). Tại Ấn Độ, Công ty Times Internet, chi nhánh của Nhật báo Times of
India, mỗi tháng phát hành qua mạng điện thoại di động 30 triệu thông tin dƣới
dạng tin nhắn (SMS). Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, ngày càng có nhiều ngƣời tìm
hiểu tin tức thông qua điện thoại di động. Hình thức tin thƣ (newsletter), và đặc
biệt là sự ra đời của weblog cuối những năm 1990 và sự bùng nổ của nó thời
gian gần đây cũng đã vƣợt qua phạm vi của truyền thông liên cá nhân để đến với

(1) Đỗ Anh Đức – (sđd, trang 79)
21
truyền thông đại chúng. Weblog, còn gọi là blog, một dạng website cá nhân,
nhƣng nó đƣợc phát hành và tƣơng tác nhƣ một “tờ báo điện tử”, đặc biệt là với

(2) Tên gọi báo mạng điện tử hiện đang được sử dụng tại Học viện Báo chí – Tuyên truyền.
Theo thông tin chúng tôi có được, một cuốn giáo trình về loại hình báo chí này sắp được
Học viện xuất bản mang tên “Nhập môn báo mạng điện tử”
(3) Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay trong ngôn ngữ Trung Quốc, Internet được gọi là
“võng thị”, báo chí Internet cũng được gọi “điện tử báo”. Có khả năng tên gọi báo chí Internet
ở Việt Nam bị ảnh hưởng người Trung Quốc chăng?
22
“báo online” hay “báo trực tuyến” (
1
) Trong luận văn này, chúng tôi xin đƣợc
sử dụng khái niệm “báo trực tuyến” vì những lý do sau:
- Thuật ngữ “điện tử” không làm rõ đặc điểm của báo chí phát hành trên
mạng nhƣ thuật ngữ “trực tuyến”. Theo định nghĩa của các từ điển tin học, khái
niệm “trực tuyến” hiểu theo nghĩa phổ biến nhất dùng để chỉ trạng thái của một
máy tính khi đã kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt động (
2
). Ngƣời
khai thác, sử dụng báo trực tuyến phải ở trong trạng thái “trực tuyến”. Hay nói
một cách nôm na, chỉ có thể sử dụng báo trực tuyến với một thiết bị đƣợc kết nối
với mạng Internet.
- Thuật ngữ “trực tuyến” vốn đƣợc sử dụng đầu tiên ở Mỹ, quê hƣơng của
Internet, và đã trở thành một thuật ngữ quốc tế.
- Thuật ngữ “trực tuyến” hiện cũng đƣợc sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực
truyền thông để chỉ các khái niệm có cùng đặc điểm nhƣ: “xuất bản trực tuyến”
(online publishing); “phƣơng tiện truyền thông trực tuyến” (online media); “nhà
báo hoạt động trong lĩnh vực báo chí trực tuyến” (online journalist); “báo chí
học trực tuyến” (online journalism); “Phát thanh trực tuyến” (online Radio);
“Truyền hình trực tuyến” (online Television)
- Khái niệm “điện tử” có ý nghĩa khác với khái niệm “trực tuyến”. Ví dụ
thuật ngữ “electronic publishing” (xuất bản điện tử) (

Ví dụ: Báo Nhân dân điện tử, báo Tuổi trẻ online, Website Đảng Cộng sản Việt
Nam v.v… Tuy nhiên, đây đó cũng còn một cách hiểu khác, thể hiện qua những
phát biểu hoặc nội dung trên một số bài báo. Theo đó, chỉ có những báo trực
tuyến độc lập với báo in (về mặt tổ chức, nhân sự, tài chính ), hoặc những tờ
báo trực tuyến độc lập hoàn toàn (nghĩa là không có bản in tƣơng ứng) nhƣ
VnExpess, VietnamNet, VDC media mới đƣợc xem là báo điện tử. Bản phát
hành trên mạng của một tờ báo in nhƣ laodong.com.vn; nhandan.com.vn
không phải là báo điện tử mà chỉ là trang tin điện tử của báo Lao động, báo
Nhân dân.
Ngay cả cách đặt tên báo cho một số báo trực tuyến ra đời sau 2003 cũng
có một sự thay đổi: Thanh niên online, Tiền Phong online… chứ không phải
Thanh niên điện tử, Tiền Phong điện tử… Sự chƣa thống nhất này bắt nguồn từ
việc chƣa xác định tiêu chuẩn thế nào là một báo trực tuyến.
Căn cứ Luật Báo chí và các quy định khác của Nhà nƣớc về báo chí, dựa
trên thực tiễn phát triển báo trực tuyến ở Việt Nam, có thể tạm xác định một số
tiêu chuẩn cho báo trực tuyến nhƣ sau:
1. Chủ thể của nội dung thông tin phải là các tổ chức đƣợc phép hoạt động
24
nhƣ một cơ quan báo chí theo Luật báo chí hiện hành. Hay nói cách khác, yếu tố
quan trọng đầu tiên là yếu tố pháp lý cho hoạt động báo chí của bản thân tổ chức
đó. Khi một tổ chức đƣợc phép ra báo thì website của tổ chức đó đƣợc coi là
một tờ báo trực tuyến, bất kể nó có bản in tƣơng ứng hay không (
1
).
2. Báo trực tuyến phải có sự độc lập tƣơng đối trên mạng Internet so với
bản báo in, hoặc chƣơng trình phát thanh – truyền hình của cùng cơ quan chủ
quản, hoặc phải có ranh giới giữa thông tin của báo trực tuyến với thông tin của
trang web mà nó cùng chung tên miền.
3. Nội dung thông tin phải đƣợc truyền bá tới đông đảo công chúng sử
dụng Internet, nghĩa là bất kỳ ai sử dụng mạng Internet đều có thể truy cập.

mới. Thông tin đƣợc cập nhật liên tục lên mạng nên hết sức nhanh chóng, phong
phú và đa dạng. Báo trực tuyến VnExpress có một khẩu hiệu (slogan) ngay trên
thanh tiêu đề của trang chủ “VnExpress – cập nhật nhiều lần trong ngày”. Việc
cập nhật thông tin có khi đồng thời với sự kiện nhƣ truyền hình, phát thanh trực
tuyến. Việc cập nhập thông tin có thể tiến hành bất cứ nơi đâu trên thế giới, trừ
phi nơi đó không thể đăng nhập vào Internet. Nếu báo in còn phải chờ đợi khâu
in ấn, phát hành qua các mạng lƣới của báo mới đến đƣợc với độc giả thì báo
trực tuyến chỉ cần một động tác click chuột, thông tin có thể đến ngƣời sử dụng.
Một nghiên cứu của Đại học Texas (Mỹ) qua phân tích trang chủ của
30/100 tờ báo trực tuyến lớn nhất nƣớc Mỹ cho thấy tần suất cập nhật thông tin
khá cao: Long Island Newsday: 202,7 lần/ngày; USA Today: 148,2 lần/ngày;
Houston Chronicle: 138,4 lần/ngày; Chicago Tribune: 133 lần/ngày; New York
Times: 127,5 lần/ngày; Los Angeles Times: 121,3 lần/ngày; Washington Post:
115,3 lần/ngày; Wall Street Journal: 85,9 lần/ngày v.v… Nghiên cứu này cũng
chỉ ra các nội dung đƣợc cập nhật thƣờng xuyên là mục tin nóng, chỉ số chứng
khoán, thời tiết và những thay đổi tập trung chủ yếu vào buổi sáng và chiều, hai
thời điểm mà các báo trực tuyến thu hút đƣợc đông bạn đọc nhất (
1
).
Khi một sự kiện diễn ra trong một quá trình dài, trải ra trên nhiều không
gian, báo trực tuyến có ƣu thế cập nhật hơn hẳn các loại hình báo chí truyền
thống. Đây là một lợi thế mà báo in, thậm chí cả phát thanh, truyền hình cũng
không thể theo kịp. Ví dụ trong giải vô địch bóng đá thế giới World Cup 2006,

(1) Theo Internetweek (2/8/2004)
26
có những ngày, các sự kiện bóng đá cùng một lúc diễn ra ở nhiều thành phố
khác nhau. Phát thanh – truyền hình dù có lợi thế truyền trực tiếp (live) nhƣng
không thể đồng thời quán xuyến đƣợc tín hiệu ở nhiều không gian sự kiện.
Trong khi đó, một website báo trực tuyến, với khả năng nhiều cửa sổ, nhiều lớp,

khoảng thời gian nhất định. Thuật ngữ kỹ thuật gọi là delay (độ trễ). Thường độ trễ chừng 3
– 8 giây nên không thể đồng thời với sự kiện.

Trích đoạn Vấn đề hạ tầng viễn thông: Vấn đề nhân lực Giải pháp quản lý: Giải pháp nhân lực Giải pháp công nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status