Lời nói đầu
Quyền bào chữa là một quyền dân chủ trọng yếu của công dân. Để đảm bảo
cho ngời bị buộc tội thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền bào chữa của
mình thì cần thiết phải cho phép họ đợc nhờ ngời khác bào chữa cho họ. Chính vì
vậy mà ngay sau khi Chính quyền cách mạng đợc thành lập, ngày 10/10/1945 Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 46/SL trong đó qui định tạm thời duy trì các
tổ chức luật s của chế độ cũ nhằm kịp thời bảo đảm quyền bào chữa cho ngời bị
buộc tội. Và ngay cả trong những giai đoạn đất nớc phải trải qua cuộc kháng
chiến khốc liệt Nhà nớc ta vẫn luôn quan tâm tới việc duy trì các tổ chức luật s,
bào chữa viên nhân dân để làm nhiệm vụ bào chữa và bảo vệ quyền lợi cho ngời bị
buộc tội. Tuy rằng phải đến khi Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 đợc
ban hành thì vị trí, vai trò của ngời bào chữa mới chính thức đợc ghi nhận về mặt
lập pháp, nhng lịch sử tố tụng hình sự của nhà nớc ta nói riêng và trên thế giới nói
chung đã khẳng định vai trò to lớn của ngời bào chữa đối với việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân cũng nh đối với việc bảo đảm dân chủ trong hoạt
động tố tụng hình sự và quá trình giải quyết vụ án hình sự. Và có thể khẳng định
rằng các thế hệ ngời Việt Nam trớc đây cũng nh ở hiện tại và trong tơng lai sẽ
không thể quên vụ án Tống Văn Sơ (Nguyễn ái Quốc) ở Hồng Kông năm 1931
với sự giúp đỡ của luật s F.H Loseby và các cộng sự của ông.
Tuy vậy trong thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam trớc đây cũng nh hiện nay
vẫn tồn tại những đánh giá sai lệch về vai trò của ngời bào chữa trong tố tụng hình
sự. Nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật tố tụng cha tạo cho ngời bào chữa một
cơ sở pháp lý cần thiết để họ phát huy vai trò của mình. Và khi đó sự cho phép ng-
ời bị buộc tội quyền đợc nhờ ngời khác bào chữa sẽ trở thành vô nghĩa, có chăng
thì chỉ là sự thể hiện tính dân chủ về hình thức. Xuất phát từ sự nhìn nhận một
cách đúng đắn về vai trò của ngời bào chữa và với chủ trơng nâng cao chất lợng
tranh tụng tại phiên toà cũng nh nâng cao chất lợng của hoạt động tố tụng hình sự,
Nhà nớc ta đã chủ trơng tạo điều kiện thuận lợi để ngời bào chữa phát huy vai trò
1
của mình. Chủ trơng đó đã đợc thể chế thông qua các qui định trong BLTTHS
năm 2003 về ngời bào chữa.
nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm ngời bào chữa. Do vậy hiện nay trong
khoa học luật tố tụng hình sự tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm ng-
ời bào chữa. Nhìn chung các quan điểm đều dựa vào các qui định của BLTTHS để
đa ra khái niệm ngời bào chữa.
Quan điểm 1: Ngời bào chữa là ngời tham gia tố tụng với mục đích làm
sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc làm giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý
cần thiết
(1)
.
Quan điểm 2: Ngời bào chữa trong tố tụng hình sự là ngời tham gia tố tụng
để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ngời bị buộc
tội, giúp ngời bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Là ngời giúp
đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết về vụ án để cuối cùng Toà án ra
một bản án có căn cứ và đúng pháp luật
(2)
.
Quan điểm 3: Ngời bào chữa là ngời tham gia tố tụng theo yêu cầu của bị
can, bị cáo, của cơ quan tiến hành tố tụng (nếu thuộc trờng hợp bắt buộc) hoặc
theo yêu cầu của những ngời thân thích của bị can, bị cáo để bảo vệ các lợi ích
hợp pháp của bị can, bị cáo đồng thời giúp cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý để
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình tố tụng
(3)
.
Quan điểm 4: Ngời bào chữa là ngời đợc ngời bị tạm giữ, bị can, bị
(
Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt nam, Nxb Đại học quốc gia Hà
Nội, 2001,tr. 153.
(2) Trần Văn Bảy- Ngời bào chữa trong TTHS, Tạp chí Khoa học pháp lý-Đại học Luật TP
ngời bị tạm giữ; bị can; bị cáo; ngời bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự;
ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; ngời làm chứng; ngời bảo vệ
quyền lợi của đơng sự; ngời giám định; ngời phiên dịch đợc qui định tại Chơng IV
BLTTHS năm 2003- Chơng qui định chung về ngời tham gia tố tụng).
(
Đinh Văn Quế, Về chế định ngời bào chữa, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2/2004).
(2) Bình luận khoa học BLTTHS Việt Nam năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội- 2004, tr. 131.
4
Dấu hiệu này cho phép phân biệt ngời bào chữa với những ngời tiến hành tố
tụng (gồm:Thủ trởng, Phó thủ trởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trởng,
Phó viện trởng Viện kiếm sát, Kiểm soát viên; Chánh án, Phó chánh án Toà án,
Thẩm phán, Hội thẩm, Th ký toà án), những ngời trong các cơ quan hỗ trợ t pháp
(gồm: lực lợng cảnh sát bảo vệ phiên toà, dẫn giải ngời làm chứng đến phiên toà,
áp giải bị cáo đến phiên toà, thi hành bản án tử hình, thi hành bản án phạt tù;
những ngời trong các cơ sở y tế chuyên khoa thực hiện các quyết định của các cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc bắt buộc chữa bệnh đối với bị can, bị cáo; những
ngời làm việc trong các Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi ngời bị
kết án sống hay làm việc thực hiện việc giám sát, theo dõi, giúp đỡ ngời bị kết án
thi hành bản án không phải tù giam v.v) và những ngời khác đợc các cơ quan tiến
hành tố tụng mời (nh ngời chứng kiến trong một số hoạt động điều tra hoặc đại
diện cơ quan tổ chức khi khám xét nơi làm việc của ngời phạm tội, khám th tín,
điện tín, bu kiện, bu phẩm tại bu điện v.v.)
(1)
.
Hai, ngời bào chữa tham gia tố tụng hình sự với nghĩa vụ và mục đích là
để làm sáng tỏ những tình tiết xác định ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội,
những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp ngời
bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ.
Dấu hiệu này cho phép xác định rõ nhiệm vụ, mục đích tham gia tố tụng
hoặc đợc cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật s phân công Văn phòng luật
s cử hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt
trận cử để bào chữa cho bị can, bị cáo nếu vụ án thuộc trờng hợp bắt buộc phải có
ngời bào chữa nhng bị can, bị cáo không mời ngời bào chữa hoặc ngời đại diện
hợp pháp của bị can, bị cáo không bào chữa cho bị can, bị cáo và cũng không mời
ngời bào chữa họ. Và 2- họ phải không thuộc một trong những trờng hợp những
ngời không đợc bào chữa. Ngoài ra để trở thành ngời bào chữa trong tố tụnh hình
sự họ còn cần phải thoả mãn điều kiện về thủ tục là phải đợc cơ quan tiến hành tố
tụng chấp nhận bằng việc cấp giấy chứng nhận bào chữa.
Đó là những điều kiện do BLTTHS qui định. Ngoài ra để trở thành ngời
bào chữa thì luật s; ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào
(
Xem: Phạm Hồng Hải, Bảo đảm quyền bào chữa cho ngời bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 1999
(2) Xem: Hoàng Thị Sơn, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa cho ngời bị
buộc tội, Tạp chí Luật học số 5/2000.
6
chữa viên nhân dân phải đáp ứng các điều kiện khác do các văn bản pháp luật
khác qui định, chẳng hạn Luật s phải đáp ứng các điều kiện do Pháp lệnh luật
s năm 2001 và các văn bản hớng dẫn qui định; ngời đại diện hợp pháp của ngời bị
tạm giữ, bị can, bị cáo phải đáp ứng các qui định của Bộ luật dân sự năm 1995 về
đại diện; còn bào chữa viên nhân dân thì cho đến nay vẫn cha có một văn bản
pháp luật nào qui định.
Trên cơ sở phân tích các dấu hiệu đặc trng của ngời bào chữa theo qui định
của BLTTHS hiện hành có thể đa ra một định nghĩa khái quát về ngời bào chữa
trong tố tụng hình sự nh sau: Ngời bào chữa trong tố tụng hình sự là ngời đáp
ứng đủ các điều kiện do pháp luật qui định tham gia tố tụng hình sự với nghĩa
vụ và với mục đích là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án chứng minh ngời
bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc những tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của họ và giúp họ về mặt pháp lý cần thiết khác để bảo vệ quyền và lợi
hình sự cùng với quan niệm cho rằng quá trình giải quyết vụ án hình sự ở nớc ta
trải qua các khâu rất chặt chẽ nên ngời bào chữa không thể có cơ hội để đa vụ án
theo hớng có lợi cho những ngời bị buộc tội vì vậy mà xuất hiện tâm lý không cần
thiết phải mời ngời bào chữa, nhất là mời luật s vừa không mang lại kết quả gì vừa
tốn kém tiền của. Về phía ngời bào chữa đôi khi vẫn có ngời không thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình, không tận tâm với công việc,vô trách nhiệm với ngời đợc
mình bảo vệ thậm chí nhận bào chữa chỉ vì lợi ích cá nhân nên thay vì làm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho đối tợng đợc mình bảo vệ thì họ lại trở thành ngời buộc
tội thứ hai hoặc làm tăng trách nhiệm hình sự của đối tợng đợc họ bảo vệ. Vì vậy
tự họ đã không thể hiện đợc vai trò quan trọng cũng nh không khẳng định đợc vị
trí của mình trong lĩnh vực tố tụng hình sự nói riêng và trong hoạt động xã hội nói
chung.
Mặc dù còn tồn tại những cách nhìn nhận sai lệch về vị trí của ngời bào
chữa nhng lịch sử tố tụng hình sự của thiết chế nhà nớc dân chủ đã chứng minh sự
tham gia của ngời bào chữa vào quá trình giải quyết vụ án hình sự là đòi hỏi
8
khách quan để đảm bảo dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng và
trong xã hội nói chung bởi sự tham gia của ngời bào chữa sẽ tạo ra một sự kiềm
chế, đối trọng cần thiết đối với các chủ thể tiến hành tố tụng đảm bảo cho việc
giải quyết vụ án hình sự đợc đúng đắn, hạn chế sự vi phạm quyền lợi của ngời bị
buộc tội.
Và không phải vì ý muốn chủ quan mà các nhà cầm quyền trong các nhà
nớc dân chủ Hy lạp cổ đại đã cho phép ngời bị buộc tội quyền đợc nhờ ngời thân
thuộc của mình bào chữa trớc toà án- cho phép ngời bào chữa tham gia vụấn hình
sự , tuy rằng khi đó sự tham gia của ngời bào chữa chỉ xuất hiện từ sự nhiệt tình
vì sự thật và công lý
(1)
nhằm minh oan cho bạn bè hoặc ngời thân bị giai cấp
thống trị bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách độc đoán
(2)
bao gồm: ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ngời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, ngời làm chứng, ngời bào chữa. Trong khoa học luật tố tụng hình sự ngời bào
chữa đợc xếp vào nhóm những ngòi tham gia tố tụng để bảo đảm công lý
(2)
hoặc
nhóm những ngòi tham gia tố tụng để giúp đỡ ngời có quyền và lợi ích liên quan
(3)
bao gồm ngời bào chữa và ngời bảo vệ quyền lợi của đơng sự. Tuy nhiên quan
điểm cho rằng ngời bào chữa là ngòi tham gia tố tụng để bảo đảm công lý phản
ánh đợc đầy đủ hơn chức năng, nhiệm vụ, vai trò của ngời bào chữa trong tố tụng
hình sự vì ngời bào chữa tham gia tố tụng không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà còn giúp các cơ quan, ngời tiến hành
tố tụng làm rõ những tình tiết liên quan đến vụ án, tránh đợc những sai lầm có thể
mắc phải trong quá trình giải quyết vụ án, mặt khác ngời bào chữa còn giúp những
ngời tham gia tố tụng khác những mặt pháp lý cần thiết
(4)
.
Để làm rõ hơn về vị trí của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự cần đặt ngời
bào chữa trong mối quan hệ với các cơ quan, ngời tiến hành tố tụng; với ngời bị
tạm giữ, bị can, bị cáo và với những ngời tham gia tố tụng khác.
Trong quan hệ với Cơ quan điều tra, sự có mặt của ngời bào chữa trong
các hoạt động điều tra không hề gây cản trở cho hoạt động đúng đắn của các Điều
tra viên. Bởi lẽ ngời bào chữa không đợc phép xoá bỏ các dấu vết về vụ án nhằm
che giấu hành vi của ngời đang bị điều tra, tạo dựng các chứng cứ nhằm mục đích
gỡ tội cho họ, vì ngời bào chữa có nghĩa vụ phải tôn trọng sự thật, không đợc phép
mớm cung cho ngời đang bị điều tra, mua chuộc, cỡng ép hoặc xúi giục ngời khác
khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật
(1)
Nh vậy có thể khẳng định sự tham gia của ngời bào chữa trong các hoạt
động điều tra không những không gây khó khăn trở ngại cho các Điều tra viên mà
còn giúp họ hoàn thành nhiệm vụ một cách đúng pháp luật, đa ra kết luật điều tra
có căn cứ và đúng thời hạn luật định. Tuy vậy sự tham gia của ngời bào chữa
trong các hoạt động điều tra lại phụ thuộc vào sự đồng ý, cho phép của Điều tra
viên hoặc của Thủ trởng Cơ quan điều tra. Điều đó tạo ra vị thế bị động của ngời
bào chữa khi họ muốn tham gia vào các hoạt động điều tra của các cơ quan điều
tra, trong khi với chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình họ xứng đáng đợc hởng
một vị thế chủ động.
Trong quan hệ với Viện kiểm sát, về hình thức thì dờng nh ngời bào chữa
luôn chống lại Viện kiểm sát. Bởi lẽ quan điểm của ngời bào chữa luôn khác thậm
chí đối nghịch hoàn toàn với quan điểm của Viện kiểm sát. Khi Viện kiểm sát ra
quyết định truy tố thì luôn theo hớng khẳng định bị cáo phạm tội với đề nghị
11
khung hình phạt cụ thể áp dụng đối với bị cáo và luôn bảo vệ bản cáo trạng mà
mình đã đa ra. Còn ngời bào chữa thì theo hớng khẳng định bị cáo vô tội hoặc
phạm tội khác nhẹ hơn hoặc phạm tội thuộc khung hình phạt nhẹ hơn. Tuy nhiên
nếu quan điểm của ngời bào chữa có đầy đủ căn cứ thì đã giúp cho Viện kiểm sát
hạn chế làm oan ngời bị truy tố, đồng thời theo qui định của pháp luật ngời bào
chữa có trách nhiệm giao cho Viện kiểm sát tài liệu đồ vật liên quan đến vụ án
mà mình thu thập đợc tuỳ theo giai đoạn tố tụng
(1)
và việc tranh luận về bản cáo
trạng sẽ giúp cho Viện kiểm sát đa ra lời buộc tội có căn cứ đảm bảo truy tố đúng
ngời đúng tội hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình với chức năng công tố. Trong tr-
ờng hợp quan điểm của ngời bào chữa không có cơ sở thì cho dù họ có cố gắng
bảo vệ cho lí lẽ không thuyết phục của mình cũng không làm ảnh hỏng đến bản
cáo trạng có căn cứ mà Viện kiểm sát đã đa ra và họ cũng không thể trở thành lực
lợng đối nghịch gây khó khăn cho Viện kiểm sát, có chăng thì Kiểm sát viên chỉ
mất thời gian và công sức để bảo vệ quan điểm của mình bởi khi đó các lý lẽ mà
giúp cho Hội đồng xét xử
nhìn nhận về vụ án một cách toàn diện hơn, tránh đợc việc xem xét phiến diện
một chiều- nguyên nhân chủ yếu dẫn đến làm oan ngời vô tội. Qua đó đảm bảo
cho phán quyết về vụ án là công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, bảo đảm xét
xử đúng ngời đúng tội, hạn chế oan, sai. Đồng thời trong quá trình thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình ngời bào chữa có thể kịp thời phát hiện những biểu
hiện sai phạm của Thẩm phán, Hội thẩm, Th ký toà án hoặc những yếu tố làm ảnh
hởng đến sự công tâm, vô t, khách quan trong quá trình thực hiện chức năng
nhiệm vụ của các chủ thể này từ đó đa ra các yêu cầu, kiến nghị theo qui định của
pháp luật góp phần giúp cho Toà án thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quan trọng
của mình. Trong trờng hợp quan điểm của ngời bào chữa đợc Hội đồng xét xử
quan tâm đúng mức sẽ giúp cho ngời bào chữa hoàn thành sứ mệnh và phát huy đ-
ợc vai trò của mình. Ngợc lại nếu ý kiến, quan điểm của ngời bào chữa không đợc
toà án lu tâm không những làm mờ nhạt vị trí, vai trò của ngời bào chữa dẫn đến
những nhìn nhận, đánh giá không đúng về vị trí, vai trò của họ mà còn xâm phạm
đến quyền lợi hợp pháp của bị cáo.Tóm lại trong mối quan hệ với các chủ thể tiến
hành tố tụng mặc dù quan điểm của ngời bào chữa luôn trái ngợc với quan điểm
của các chủ thể tiến hành tố tụng thì cũng không có nghĩa là ngời bào chữa chống
(
Xem Điều 58 khoản 1 BLTTHS năm 2003.
(2) Xem Điều 58, khoản 3, điểm a BLTTHS năm 2003.
(3) Xem Điều 58, khoản 2, điểm h BLTTHS năm 2003.
13
lại các chủ thể này- chống lại Nhà nớc mà là họ đang thực hiện nhiệm vụ cao cả
đợc pháp luật giao phó.
Về mối quan hệ giữa ngời bào chữa với ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo-
những ngời đợc ngời bào chữa bảo vệ, một số tác giả cho rằnh ngời bào chữa là
ngời đại diện của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho
họ. Quan điểm khác cho rằng ngời bào chữa là chủ thể độc lập trong tố tụng hình
sự đồng thời là ngời đại diện cho lợi ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị
về hớng bào chữa chẳng hạn ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo khẳng định mình vô
tội nhng qua xem xét các tình tiết, sự việc của vụ án ngời bào chữa nhận thấy ngời
bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã phạm tội hoặc ngợc lại vì một lý do nào đó mà ngời
bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhận tội nhng ngời bào chữa lại khẳng định họ vô tội.
Thực tiễn đã xảy ra những trờng hợp nh vậy, tuy nhiên giữa ngời bào chữa và ngời
bị tạm giữ, bị can, bị cáo thờng có sự thống nhất về hớng bào chữa- đây là một
trong những yêu cầu để việc bào chữa đạt hiệu quả. Trờng hợp xảy ra bất đồng
quan điểm giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà họ không tìm
đợc tiếng nói chung thì thờng dẫn tới việc từ chối ngời bào chữa từ phía ngời bị
tạm giữ, bị can, bị cáo và ngời đại diện hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị
cáo. Mặc dù về phía mình ngời bào chữa không thể từ chối bào chữa cho ngời bị
tạm giữ, bị can, bị cáo trừ khi có lý do chính đáng theo qui định của pháp luật thì
cũng không thể khẳng định rằng điều đó tạo nên sự ràng buộc giữa ngời bào chữa
và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà điều đó chỉ ràng buộc ngời bào chữa với
nhiệm vụ của họ- họ không thể tự ý rời bỏ nhiệm vụ của mình và nhiệm vụ đó đợc
xác định trên cơ sở qui định của pháp luật chứ không phải trên cơ sở thoả thuận
giữa ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo với ngời bào chữa. Nh vậy có thể khẳng định
quan hệ giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể là quan hệ
đại diện theo nghĩa thông thờng đúng nh ý kiến của TS Nguyễn Văn Tuân. Tuy
nhiên quan hệ giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có phải là một
hình thức đại diện đặc biệt hay không thì cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ vì
cho đến nay pháp luật cha qui định thế nào là hình thức đại diện đặc biệt. Đồng
thời cũng có thể khẳng định giữa ngời bào chữa và ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo
có một sự độc lập nhất định và sự độc lập đó tồn tại từ khi ngời bị tạm giữ, bị can,
bị cáo đồng ý để ngời bào chữa tham gia tố tụng để bào chữa cho mình cho đến
khi ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời đại diện hợp pháp của những ngời này
muốn chấm dứt sự tham gia của ngời bào chữa mà họ đã mời hoặc chấp nhận hoặc
cho đến khi vụ án kết thúc nếu nh ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngời đại diện
hợp pháp của họ không tự ý từ chối ngời bào chữa.
15
chữa đợc thể hiện rõ nét trên các mặt sau:
Thứ nhất: Sự tham gia tố tụng hình sự của ngời bào chữa góp phần bảo
đảm quyền bào chữa của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Quyền bào chữa là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân đã đ-
ợc thể chế hoá trong Hiến pháp và các văn bản luật (Điều 132 Hiến pháp 1992 và
Điều 11 BLTTHS năm 2003). Việc bảo đảm quyền bào chữa của ngời bị tạm giữ,
bị can, bị cáo có ý nghĩa quan trọng bởi khi quyền bào chữa không đợc thực thi
một cách triệt để thì không thể đảm bảo thực thi đợc các quyền khác dẫn đến xâm
phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng
và của công dân nói chung.
Để tạo điều kiện cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào
chữa của mình pháp luật qui định: ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể tự mình
bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình. Xét về bản chất việc tự mình
bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình là hai hình thức biểu hiện quyền
bào chữa của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo
(1)
. Tuy nhiên trên thực tế với tâm lý
mình là ngời bị buộc tội hoặc là đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc do trình độ
pháp lý hạn chế nên việc tự mình bào chữa không đạt hiệu quả và quyền bào
chữa khi đó sẽ chỉ mang tính hình thức. Điều này không những ảnh hởng tới
quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ mà còn ảnh hởng tới việc giải quyết đúng
đắn vụ án. Do vậy việc tham gia tố tụng của ngời bào chữa là cần thiết. Bởi lẽ ngời
bào chữa không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới vụ án nên họ tham gia tố tụng
một cách vô t và nhìn nhận sự việc một cách khách quan. Ngời bào chữa cũng có
khả năng và điều kiện cung cấp cho của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo những kiến
thức pháp lý cần thiết để họ tự bảo vệ mình. Sự có mặt của ngời bào chữa cũng sẽ
giúp đỡ cho ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo rất nhiều về mặt tinh thần, mang đến
(
1) Xem: Đỗ Xuân Lân, Cần có nhận thức thống nhất về ngời bào chữa là ngời đại diện hợp pháp của ng-
định, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên toà về các
tình tiết, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, về bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Thông
qua việc thu thập chứng cứ ngời bào chữa có thể cung cấp cho Toà án những
chứng cứ quan trọng mà vì một lý do nào đó Cơ quan điều tra cha thu thập đợc, bổ
(
Xem: Đỗ Xuân Lân, Cần có nhận thức thống nhất về ngời bào chữa là ngời đại diện hợp pháp của
ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo Điều 56 BLTTHS, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2/2005).
18
sung cho hệ thống chứng cứ của vụ án đợc đầy đủ hơn. Bằng việc nghiên cứu tài
liệu, hồ sơ vụ án ngời bào chữa có thể phát hiện đợc thiếu sót của những ngời tiến
hành tố tụng, trên cơ sở đó để đa ra các yêu cầu hoặc khiếu nại về quyết định,
hành vi tố tụng của cơ quan, ngời tiến hành tố tụng, qua đó hạn chế đợc ý chí chủ
quan của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.
Trong quá trình tranh luận tại phiên toà ngời bào chữa có thể chỉ ra những điểm
mâu thuẫn trong việc đánh giá chứng cứ cũng nh những sai phạm trong việc thu
thập chứng cứ của các cơ quan, ngời tiến hành tố tụng giúp Toà án loại bỏ đợc
những chứng cứ hoặc không xác thực, hoặc không hợp pháp, hoặc không liên
quan đến vụ án.
Ngoài ra sự có mặt của ngời bào chữa còn giúp cho ngời bị tạm giữ, bị
can, bị cáo rất nhiều về mặt tinh thần nên họ sẽ bình tĩnh và thành khẩn khai báo
giúp cho việc giải quyết vụ án đợc nhanh chóng và đúng sự thật vì họ là ngời đã
thực hiện hành vi bị buộc tội nên họ là ngời biết rõ các tình tiết về vụ án hơn bất
cứ ngời nào khác. Với vai trò này ngời bào chữa đợc xem nh là ngời bổ trợ t pháp-
giúp cho các cơ quan, ngời tiến hành tố tụng làm sáng tỏ mọi tình tiết liên quan
đến vụ án, qua đó giúp cho quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đợc tính khách
quan.
Thứ ba: Ngời bào chữa góp phần đảm bảo dân chủ; bảo vệ công lý, công
bằng xã hội và pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
Quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào chữa cho mình của
ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là biểu hiện cao nhất tính dân chủ trong hoạt động
lệch hồ sơ vụ án, thuyết phục nhận tội đồng thời hệ thống chứng cứ của vụ án vừa
đầy đủ hơn vừa đảm bảo các thuộc tính hợp pháp, khách quan, liên quan đến vụ
án vì ngời bào chữa vừa có quyền thu thập chứng cứ vừa có quyền phản biện
chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập và do vậy sẽ giúp cho Toà án xét xử đúng
ngời đúng tội- ra bản án công minh, có căn cứ , đúng pháp luật, hạn chế rất nhiều
các trờng hợp oan, sai trong tố tụng hình sự. Và nh vậy công lý đợc bảo vệ, nhân
20
dân tin vào công bằng xã hội; pháp luật tố tụng nói riêng và pháp luật của nhà n-
ớc nói chung đợc tôn trọng.
Mặc dù quá trình giải quyết vụ án hình sự với nhiều giai đoạn khác nhau đ-
ợc thực hiện bằng một thủ tục tố tụng đợc pháp luật qui định chặt chẽ tuy nhiên
trên thực tế hiện tợng lạm quyền, chuyên chế- biểu hiện của vi phạm thủ tục tố
tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng không phải là ít. Dù nguyên nhân của sự vi
phạm đó là do khách quan hay chủ quan thì đều là vi phạm pháp luật. Không thể
nói tới việc bảo đảm pháp chế khi mà chính các chủ thể có chức năng và nhiệm vụ
bảo vệ pháp luật lại thực hiện hành vi vi phạm pháp luật bởi pháp chế hiểu theo
nghĩa chung nhất là sự yêu cầu tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tuyệt
đối tuân thủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của mình. Sự tham gia của ngời
bào chữa trong quá trình tố tụng sẽ tạo ra một sự đối trọng nhất định đối với các
cơ quan và ngời tiến hành tố tụng có thẩm quyền buộc các chủ thể đó phải ý thức
hơn về từng hành vi của mình, phải tự kiềm chế các biểu hiện lạm quyền, chuyên
chế, phải tuân thủ một cách triệt để thủ tục tố tụng, phải tôn trọng và bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đó chính là tác dụng phòng ngừa vi
phạm có thể xảy ra từ phía các chủ thể tiến hành tố tụng. Đồng thời thông qua
việc đa ra yêu cầu hoặc khiếu nại đối với các chủ thể tiến hành tố tụng ngời bào
chữa góp phần vào việc khắc phục những sai phạm đã xảy ra nhằm bảo vệ quyền
lợi của ngời bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo đúng qui định của pháp luật. Với sự
tham gia tố tụng của mình ngời bào chữa không những góp phần hạn chế những vi
phạm thủ tục tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng mà còn hớng ngời bị tạm
giữ, bị can, bị cáo tuân thủ pháp luật vì đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện
Chức năng của ngời bào chữa trong tố tụng hình sự đã đợc thể hiện trong
chính tên gọi của họ- bào chữa. Bào chữa theo nghĩa rộng là đa ra lập luận kèm
theo các chứng cứ cho lập luận đó để bác bỏ sự cáo buộc trách nhiệm nhằm bảo
vệ lợi ích của mình . Trong tố tụng hình sự, sự cáo buộc trách nhiệm chính là việc
các cơ quan tiến hành tố tụng buộc tội đối với một ngời nào đó (cho là ngời đó đã
thực hiện hành vi phạm tội hoặc khẳng định là ngời đó đã phạm tội hoặc kết luận
là ngời đó đã phạm tội), và nh vậy bào chữa trong tố tụng hình sự là đa ra lập luận
(
1) Phan Hữu Th (chủ biên) Sđd, trang112
22
kèm theo các chứng cứ để bác bỏ lời buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng
nhằm bảo vệ quyền lợi đợc Nhà nớc bảo vệ của mình. Tuy nhiên không phải trong
xã hội nào ngời bị buộc tội cũng đợc phép bào chữa mà quyền bào chữa của ngời
bị buộc tội hầu nh chỉ tồn tại trong chế độ xã hội dân chủ.
Ngời bị buộc tội do ở trạng thái tâm lý không ổn định, lo sợ và đôi khi
không hiểu biết pháp luật nên thờng không thể tự mình thực hiện tốt quyền bào
chữa của mình. Để ngời bị buộc tội thực hiện một cách có hiệu quả quyền bào
chữa của họ thì không có cách nào tốt hơn là trao cho họ quyền đợc nhờ ngời khác
giúp họ bào chữa- đây là cơ sở ra đời và tồn tại của chế định ngời bào chữa.
Nh vậy ngời bào chữa tham gia tố tụng hình sự là để giúp ngời bị buộc
tội bác bỏ lời buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng- giúp họ bào chữa. Bác
bỏ sự buộc tội không phải chỉ với nghĩa là phủ định lời buộc tội mà còn bao gồm
cả việc làm giảm nhẹ lời buộc tội. Vì vậy bào chữa trong tố tụng hình sự còn đợc
hiểu với nghĩa là gỡ tội cho ngời bị buộc tội.
Xét về bản chất thì chức năng bào chữa tồn tại độc lập và đối trọng với chức
năng công tố nh một yếu tố khách quan tự thân của tố tụng hình sự
(1)
. Tuy nhiên
trong mỗi hình thức tố tụng hình sự khác nhau sự độc lập và đối trọng giữa chức
năng bào chữa và chức năng công tố đợc thể hiện ở mức độ khác nhau tuỳ thuộc
(1)
.
1.4- Khái quát quá trình hình thành và phát triển của chế định
về ngời bào chữa ở Việt Nam.
1.4.1 - Giai đoạn trớc năm 1945.
Trong xã hội phong kiến Việt Nam nghề thầy cung, thầy kiện không đợc
coi trọng bởi cách nhìn nhận không đúng về loại nghề này nguyên nhân chính là
do quan niệm các bậc vua chúa phong kiến là ngời bảo vệ dân chúng và bảo vệ sự
công bằng
(2)
. Do vậy trong bộ Quốc triều hình luật dù có ghi nhận quyền đợc bào
(
Xem: Phạm Hồng Hải, Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của ngời bào chữa trong BLTTHS
năm 2003, Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật số 5/2004, tr.23.
(2),(4) Phan Trung Hoài, sđd, tr. 21, 22, 110.
(3) Điều 691 Quốc triều hình luật qui định: Những án xét vào tội nhẹ, nhng tình lý đáng ngờ thì giao
cho Viện thẩm hình hội đồng bàn xét, hỏi tội nhân cho đến lúc nhận tội; nếu tội nhân không chịu nhận
tội thì cho phép đợc bào chữa rồi phải xét lại kỹ càng .
(5) Xem: Phan Hữu Th (chủ biên), sđd, tr. 20.
24
chữa của ngời phạm tội nhng họ phải tự bào chữa và không có qui định về ngời
bào chữa
(3)
.
Từ 1864 với Sắc lệnh ngày 25/7/1864 của Hoàng đế Napoléon III về tổ chức
nền t pháp Nam kỳ, những ngời bào chữa đã đợc hình thành bên cạnh các Toà án
thuộc địa
(4)
, tuy nhiên chỉ có ngời Pháp đợc làm ngời bào chữa. Với Sắc lệnh ngày
25/5/1930 Hội đồng luật s ở Hà Nội và Sài Gòn đợc thành lập và ngời Việt Nam
(
25