ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HẢI TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ
BẢO VỆ RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.3. Lịch sử lập pháp của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999
16
Chương 2: TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO
VỆ RỪNG TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM
1999 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI PHẠM NÀY Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY
20
2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng
20
2.1.1. Khái niệm của tội Vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng
20
2.1.2. Đặc điểm pháp lý của tội Vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng
24
2.2. Phân biệt tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
với một số tội phạm khác
64
2.2.1. Phân biệt tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng (Điều 175) với tội Vi phạm các quy định về quản lý
rừng (Điều 176)
64
2.2.2. Phân biệt tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng (Điều 175) với tội Hủy hoại rừng (Điều 189)
66
2.2.3. Phân biệt tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng (Điều 175) với tội Vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối
với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191)
3.2.4. Giải pháp về văn hóa - giáo dục
102
KẾT LUẬN
105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
107 1
MỞ ĐẦU
1. Lời nói đầu
Rừng là một trong những nơi đầu tiên con người kiếm sống để tồn
tại. Trong lịch sử hình thành và phát triển, con người luôn biết dựa vào
rừng, tác động và khai thác rừng để duy trì sự sống. Tuy nhiên, trong quá
trình khai thác rừng, chính con người do cố ý hoặc vô ý đã làm cho rừng bị
cạn kiệt. Đất nước ta có điều kiện địa lý đặc thù là quốc gia vùng nhiệt đới
nên được thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này. Đối với
nước ta, rừng không chỉ có ý nghĩa về môi trường sinh thái mà còn có ý
nghĩa quan trọng trong an ninh - quốc phòng. Trong gần một thế kỷ qua,
rừng Việt Nam bị suy thoái nặng nề. Những tác động của quá trình phát
triển, những ảnh hưởng của chiến tranh, của chất độc màu da cam đã khiến
diện tích rừng của Việt Nam chỉ còn khoảng 43% diện tích đất tự nhiên. Và
chúng ta đang phải đứng trước một thực trạng báo động đó là diện tích
rừng ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng. Tốc độ khai thác rừng cao hơn gấp
nhiều lần so với tốc độ tái tạo rừng. Điều này dẫn đến con người phải đối
mặt với những hiện tượng thiên nhiên xảy ra thường xuyên trong những
năm gần đây như bão lũ, triều cường, khô hạn…, gây hậu quả nghiêm trọng
sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy định
tại Điều 175 BLHS năm 1999 là loại quy phạm viện dẫn. Vì vậy, bên cạnh
quy định trong BLHS, khi áp dụng loại tội phạm này còn được xem xét những
quy định trong Luật Hành chính, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng…
Tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã được nghiên
cứu với tư cách là đề tài của các khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học, thạc
sỹ luật học hoặc rải rác trên một số Tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành.
Trong lĩnh vực nghiên cứu, tội Vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng được đề cập trong: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Đại học
3
Luật Hà Nội); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Khoa luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội); Bình luận khoa học BLHS năm 1985 (Viện nghiên cứu khoa học
pháp lý - Bộ Tư pháp); Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học BLHS
Phần các tội phạm…
Đây là loại tội phạm gây hậu quả lâu dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
cuộc sống của con người, tuy nhiên, chưa có sự nghiên cứu mang tính hệ
thống đối với việc phòng, chống loại tội phạm này, về thực trạng, về những
vướng mắc bất cập trong áp dụng pháp luật khi xử lý. Những nghiên cứu nếu
có cũng chỉ là việc nghiên cứu riêng lẻ, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực
như: giá trị tài nguyên rừng, vai trò của rừng đối với môi trường sinh thái
hoặc những vi phạm cụ thể trong quản lý hành chính, những vụ việc cụ thể
khi bị đưa ra truy tố, xét xử. Vì vậy, cần phải có sự nghiên cứu một cách
nghiêm túc, có hệ thống, bám sát thực tiễn để tìm hiểu về thực trạng của việc
vi phạm để từ đó có những giải pháp cụ thể mang tính khả thi.
3. Phạm vi nghiên cứu
cách có hiệu quả.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng như đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Ngoài ra, trong
quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên
cứu truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
- Nghiên cứu một cách hệ thống lịch sử lập pháp về tội Vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong pháp luật hình sự Việt Nam từ
năm 1945 đến nay.
- Phân tích một cách sâu sắc khái niệm và những dấu hiệu pháp lý tội
Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, đồng thời phân biệt tội
phạm này với một số tội phạm khác có dấu hiệu pháp lý tương tự.
5
- Khái quát tình hình tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng và thực tiễn xét xử tội phạm này trong 5 năm qua (2005-2009).
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tội Vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng một cách có hiệu quả.
- Nội dung của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu,
tham khảo cho các nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự, các nhà lập pháp,
cho các học viên, các sinh viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo luật cũng
như tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
bao gồm 3 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Lịch sử lập pháp về tội Vi phạm các quy định về khai thác
- Những ai làm than, củi, không có giấy phép hay có mà không
trả tiền bán khoán.
- Những ai mang lâm sản đi mà không có giấy má chứng minh
hẳn hoi.
- Những ai khai thác nhựa cây khi cây ấy chưa đủ kích thước đã
định, dù họ đã có giấy phép khai thác (giấy chỉ cho khai thác cây đủ
kích thước).
7
- Những ai đặt những doanh nghiệp, hay chế tạo lâm sản, lò than,
vôi, gạch, xưởng củi… trong rừng hay cách rừng từ hai cây số trở lên
mà không có giấy phép.
- Những ai đốt nương không có giấy phép hay đốt những miền
mà tập tục ấy bị cấm ngặt…
- Những ai đốt rừng hay gây những vụ cháy rừng [55].
Như vậy, dù chỉ mang tính sơ khai nhưng Thông tư 1303/BCN đã điều
chỉnh nhiều loại hành vi, thể hiện sự đánh giá cao về nguồn tài nguyên rừng
và đặt ra nhiệm vụ phải bảo vệ chúng. Trong tình hình của đất nước ta giai
đoạn 1945-1946, việc quy định phải bảo vệ rừng có ý nghĩa rất quan trọng.
Nó là cơ sở nền móng để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp
luật điều chỉnh những QHXH trong lĩnh vực bảo vệ rừng.
Tuy ra đời sớm nhưng Thông tư 1303/BCN không được thực hiện trong
thực tiễn do bối cảnh toàn quốc kháng chiến bước vào cuộc chiến đấu chín
năm chống thực dân Pháp. Nhưng qua đó, chúng ta cũng nhận thức được rằng
việc bảo vệ tài nguyên rừng luôn là vấn đề cấp thiết trong mọi thời kỳ và luôn
được quan tâm của Nhà nước ta.
Trong công cuộc kháng chiến, rừng càng tỏ rõ vai trò quan trọng của nó
đối với an ninh quốc phòng. Vì vậy, ngày 08/7/1952 Thủ tướng Chính phủ đã
nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
đồng thời tiến hành cuộc đấu tranh chống Mỹ, ngụy ở miền Nam, tiến tới
giải phóng hoàn toàn đất nước. Lúc này, hệ thống pháp luật kiểu mới của
chúng ta đang trong quá trình tiền xây dựng. Hệ thống văn bản chủ yếu gồm
Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946 và 1958), các sắc lệnh, pháp lệnh, nghị
định, chỉ thị, thông tư… nhưng chưa có nhiều các đạo luật và bộ luật. Trong
lĩnh vực bảo vệ rừng, Nhà nước đã bước đầu ban hành một số VBPL quan
trọng để điều chỉnh việc quản lý hoạt động khai thác lâm sản và bảo vệ rừng.
Đáng chú ý là các văn bản: Quyết định số 72/TTg ngày 07/7/1962 của Thủ
9
tướng Chính phủ về thành lập Khu rừng quốc gia Cúc Phương. Đây là khu
bảo tồn thiên nhiên đầu tiên được Nhà nước công nhận. Tiếp đó, Hội đồng
Chính phủ ra Nghị định số 39/CP ngày 05/4/1963 ban hành Điều lệ tạm thời
về săn, bắt chim, thú rừng. Đây là một văn bản quan trọng kịp thời tạo cơ sở
pháp lý để bước đầu quản lý, bảo vệ các loài động vật rừng ở nước ta, trong
đó có nhiều loài có ích, hiếm và quý khỏi sự săn bắt tràn lan trái phép dẫn
đến nguy cơ bị tiêu diệt.
Ngày càng đánh giá cao vai trò quan trọng của rừng trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội và an ninh quốc phòng. Kiên quyết hơn, nhằm bảo vệ có
hiệu quả tài nguyên rừng, phát triển một bước trong lập pháp, ngày 06/9/1972,
Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định việc bảo vệ
rừng. Đây là văn bản có tính pháp lý cao đầu tiên được ban hành trực tiếp quy
định về việc quản lý, bảo vệ rừng và khai thác, sử dụng các nguồn lợi từ rừng
ở Việt Nam, điều chỉnh nhiều mối quan hệ trong lĩnh vực bảo vệ rừng nhằm
“bảo vệ rừng và phát triển tài nguyên phong phú của rừng, phát huy tác dụng
to lớn của rừng trong việc giữ nguồn nước và điều tiết nước, giữ đất, chống
xói mòn, chống cát bay, điều hòa khí hậu, hạn chế tác hại của gió, bão lũ, lũ
cụ thể, phù hợp với những điều kiện khách quan, tạo cơ sở pháp lý quan trọng
cho việc áp dụng pháp luật bảo vệ có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên rừng.
Song song với việc quy định những biện pháp bảo vệ rừng, Điều 16 Pháp lệnh
đã quy định việc thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng gọi là Kiểm lâm
nhân dân. Lực lượng này được tổ chức thành hệ thống từ cấp huyện trở lên,
đảm bảo thực hiện công tác bảo vệ rừng đến từng khu rừng.
Pháp lệnh cũng quy định cụ thể việc thưởng phạt bằng các chế tài từ
Điều 19 đến Điều 24. Trong đó, Điều 22 nói rõ những trường hợp phải bị truy
cứu TNHS.
Kẻ nào vi phạm một trong những điều ghi ở Chương I của Pháp
lệnh này hoặc tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản, gây
thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng hoặc đã bị xử phạt mà còn vi phạm thì
sẽ bị truy tố trước TAND và có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
và phạt tiền từ 200 đến 2000 đồng, hoặc một trong hai hình phạt đó.
11
Cố ý hủy hoại tài nguyên rừng hoặc cố ý làm trái nguyên tắc,
chính sách, chế độ thể lệ về bảo vệ rừng, gây thiệt hại đến tài nguyên
rừng; thiếu tinh thần hoặc vô ý làm cháy rừng hay là có những hành
động khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng thì bị xử phạt
theo Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, ngày 21
tháng 10 năm 1970.
Cố ý phá hoại tài nguyên rừng vì mục đích phản cách mạng thì bị
xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30 tháng
10 năm 1967.[63]
Như vậy, các chế tài nghiêm khắc của luật hình sự đã được áp dụng để
điều chỉnh nhiều loại hành vi xâm hại đến rừng. Tuy đã có Pháp lệnh làm cơ
sở pháp lý nhưng thực tiễn đây là giai đoạn cả nước ta đang dồn sức người,
4. Phá trái phép vào rừng cấm.
II. Khai thác, chặt cây rừng trái phép.
1. Vi phạm quy định kỹ thuật khai thác rừng.
2. Được phép chặt cây, khai thác rừng, nhưng đã vi phạm chế độ
nộp tiền nuôi rừng.
3. Chặt cây lấy lâm sản không có giấy phép hoặc giấy phép
không hợp lệ, hoặc lấy vượt khối lượng, sai chủng loại cho phép hay là
vi phạm vào nhóm gỗ không được khai thác sử dụng.
4. Chặt cây, lấy lâm sản trái phép trong rừng đang khoanh nuôi
bảo vệ.
5. Chặt cây, lấy lâm sản trái phép thuộc các loại thực vật quý hiếm.
6. Chặt cây, lấy lâm sản trái phép trong rừng cấm.
III. Phát, đốt rừng để làm nương rẫy:
1. Phát đốt rừng kinh tế.
2. Phát đốt rừng khoanh nuôi bảo vệ.
3. Phát đốt rừng cấm hoặc rừng có các lại thực vật quý hiếm
mọc tập trung.
13
IV. Gây cháy rừng
1. Được phép đốt lửa trong rừng nhưng đã vi phạm các quy định
về phòng cháy và chữa cháy rừng.
2. Đốt lửa trái phép gây cháy rừng kinh tế.
3. Gây cháy rừng khoanh nuôi bảo vệ.
4. Vi phạm các quy định cấm đốt lửa.
5. Gây cháy rừng cấm hoặc rừng có các loại thực vật quý hiếm
mọc tập trung.
V. Chăn thả gia súc trái phép vào rừng.
lối xử lý đối với các hành vi vi phạm có mức độ tác hại đã gây ra vượt quá mức
độ xử phạt hành chính đã hướng dẫn trên đây, thì sẽ khởi tố về hình sự.
Điều đáng chú ý là từ mục I đến mục VIII các hành vi đều được định
lượng, không có hành vi nào được nêu dưới dạng chung chung thuộc dạng
gây hậu quả nghiêm trọng. Những quy định của Thông tư số 3984/LN-KL là
cơ sở pháp lý quan trọng để truy cứu TNHS người có hành vi xâm hại đến
rừng. Thực tế dựa vào Thông tư 3984/LN-KL nhiều hành vi vi phạm đã bị xử
lý, hạn chế được phần nào tình trạng khai thác bừa bãi trái phép cây rừng, góp
phần bảo vệ được tài nguyên rừng, hình thành và nâng cao ý thức của người
dân trong việc tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sống.
Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước ta sau năm 1975
bước vào thời kỳ vô cùng khó khăn. Hậu quả do chiến tranh để lại rất nặng
nề. Mặt khác, cơ chế quản lý thời chiến không còn phù hợp trong tình hình
mới. Do vậy, nhiều ngành kinh tế đã không được định hướng phát triển phù
hợp. Những văn bản QPPL ban hành không điều chỉnh có hiệu quả các
QHXH trong tình hình mới. Thông tư 3984/LN-KL cũng bộc lộ những hạn
chế của nó. Điều dễ thấy nhất là phạm vi điều chỉnh của Thông tư không theo
kịp với diễn biến của tình hình tội phạm. Nhiều hành vi nguy hiểm khác
không chỉ xâm phạm đến cây rừng mà cả đến đất rừng và các yếu tố có liên
quan. Đào đãi vàng, thải chất độc hại v.v… là những hành vi xâm hại nghiêm
trọng đến rừng, ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội chưa
15
được đề cập. Sau hàng loạt các VBPL được ban hành đã bổ sung cho Thông
tư 3984/LN-KL, Nhà nước ta đã có những đánh giá mới về thực trạng vi
phạm, về mức độ nguy hiểm của những loại hành vi xâm hại đến rừng thể
hiện trong các văn bản như: Chỉ thị số 124-CT/TM ngày 03/9/1981 của Bộ
Tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam về việc bảo vệ rừng, nghiêm
1.3. Lịch sử lập pháp của tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999
Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều VBPL để điều
chỉnh việc khai thác, kiểm soát lâm sảm và xử lý vi phạm quy định về khai
thác và bảo vệ rừng. Chỉ thị số 34/CNR ngày 28/12/1985 của Bộ Lâm
nghiệp về chấn chỉnh việc khai thác, cung cấp gỗ; Thông tư số 02 - TT/LB
ngày 13/01/1986 của Liên Bộ Lâm nghiệp - Bộ Nội vụ về công tác bảo vệ
rừng và quản lý vật tư lâm sản; Thông tư số 23 TT/LB ngày 21/10/1986 của
Liên bộ VKSNDTC- Lâm nghiệp về mối quan hệ phối hợp giữa hai ngành
Kiểm soát và Lâm nghiệp trong việc phòng, chống các vi phạm, tội phạm về
quản lý và bảo vệ rừng.
Đặc biệt, trong giai đoạn này, BLHS ra đời năm 1985 là một bước tiến
lớn trong công tác lập pháp của Nhà nước ta. Những tội xâm phạm đến rừng
được quy định theo nhiều tội danh cụ thể trong BLHS năm 1985. Ví dụ như:
Điều 181 “Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng”; Điều 194
“Tội vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy”; Điều 216 “Tội vi
phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam
thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng”. Tuy nhiên, trực tiếp điều chỉnh
nhóm hành vi liên quan đến việc khai thác trái phép và vi phạm các quy định
về quản lý và bảo vệ rừng được quy định và chủ yếu điều chỉnh bằng Điều
181 thuộc chương VII BLHS.
Điều 181 trực tiếp điều chỉnh nhiều loại hành vi, từ khai thác trái phép
đến vi phạm các quy định về quản lý rừng hay săn bắt trái phép động vật
hoang dã v.v…
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện dưới các dạng hành vi sau:
17
- Khai thác trái phép cây rừng.
18
Không còn sự mơ hồ theo dạng rừng là của tự nhiên bất cứ ai cũng có thể xâm
hại để phục vụ nhu cầu cuộc sống của riêng mình.
Tiếp sau việc quy định tội phạm trong luật hình sự, sau năm 1985,
nhiều văn bản luật quan trọng điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực bảo vệ
rừng đã được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ nguồn tài
nguyên này. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với 19 chương, 54 điều được ban
hành vào ngày 19/8/1991 là cơ sở quan trọng để tạo ra khung pháp lý nhằm cụ
thể hóa việc điều chỉnh các QHXH trong lĩnh vực này. Ngăn chặn nạn phá
rừng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tạo sự ổn định trong việc khai thác
các lợi ích của rừng phục vụ đời sống xã hội.
Trong số những VBPL được ban hành trong thời kỳ này ngoài Luật
Bảo vệ và Phát triển rừng, còn hai văn bản khác đóng vai trò rất quan trọng
trong việc ngăn chặn nạn phá rừng, cụ thể hóa các hành vi, định lượng để xử
lý có phân biệt gữa xử phạt hành chính và truy cứu TNHS. Đó là Chỉ thị số
90/CT ngày 19/3/1992 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng về thực hiện những
biện pháp cấp bách để chặn đứng nạn phá rừng và Nghị định số 14/CP ngày
05/12/1992 của Chính phủ ban hành quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng.
Trong Chỉ thị số 90/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định
“Đình chỉ ngay việc cấp giấy phép xuất khẩu các loại gỗ tròn, gỗ xẻ, thu hồi
ngày các giấy phép đã cấp” và quyết định cho Bộ Lâm nghiệp ta lệnh đóng
cửa rừng ở những khu vực cần thiết, đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra
trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng. Chỉ thị này là một quyết định đúng đắn,
ngăn chặn nạn phá rừng trên diện rộng với số lượng lớn vì lợi dụng vào sự
hợp pháp của giấy phép khai thác. Nạn phá rừng buộc phải quay lại chủ yếu
với phương thức nhỏ lẻ, thủ công. Bên cạnh đó, Nghị định số 14/CP ngày
05/12/1992 cùng Thông tư số 09/LN-KL ngày 01/6/1993 của Bộ Lâm nghiệp
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 14/CP đã cụ thể hóa các hành vi vi phạm 20
Chương 2
TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN
XÉT XỬ TỘI PHẠM NÀY Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tội Vi phạm các quy định
về khai thác và bảo vệ rừng
2.1.1. Khái niệm tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Bảo vệ rừng được nhận thức từ rất lâu trên thế giới, song vấn đề này
được tập trung giải quyết cả ở tầm quốc gia và quốc tế chủ yếu nửa sau thế kỷ
XX. Những hậu quả nghiêm trọng của việc tàn phá rừng ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến là nạn lũ lụt, xói
mòn đất,… việc đấu tranh với những hành vi tàn phá rừng chưa thu được hiệu
quả cao, cùng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, cần phải đặt ra
cơ chế bảo vệ rừng có hiệu quả hơn. Trong giới hạn của một quốc gia, một
trong những mắt xích chủ yếu của cơ chế này là chính sách hình sự đối với
hành vi xâm hại rừng.
Nền tảng của chính sách hình sự về bảo vệ rừng của Việt Nam đã được
ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp đã khẳng định “các
hầm mỏ, sông ngòi và những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp
luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.
Chính sách hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ rừng đã thể hiện rõ nét
bằng việc chính thức ghi nhận loại tội phạm này trong BLHS Việt Nam năm
1985 và gần đây nhất là BLHS năm 1999 được cụ thể hóa trong các tội danh
cụ thể, bao gồm Tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Điều
175); Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176); Tội Hủy hoại
phạm đến các QHXH đó. Hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng là hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm
22
các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng hoặc vận chuyển,
buôn bán gỗ trái phép.
Điều 175 BLHS năm 1999 quy định:
1. Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt
tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam
giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a. Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm
các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không
thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật này.
b. Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường
hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này.
2. Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến
hai mươi triệu đồng.
Được tách từ tội Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng tại
Điều 181 BLHS năm 1985, do nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, tội
Vi phạm các quy định và khai thác rừng tuy vẫn cấu tạo thành hai khung
hình phạt nhưng các tình tiết là yếu tố định tội và yếu tố định khung hình
phạt có nhiều thay đổi; quy định tình tiết làm ranh giới phân biệt giữa hành
vi vi phạm với hành vi phạm tội; quy định cụ thể các hành vi vi phạm về
khai thác và bảo vệ rừng; hình phạt bổ sung được quy định ngay cùng một