Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
Mã số: 60 38 40

Người hướng dẫn khoa học:
GS.TSKH LÊ VĂN CẢM Hà Nội - 2010
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT
TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM 10
1.1. Khái niệm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 10
1.2. Bản chất và phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 13
1.2.1. Bản chất pháp lý của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 13
1.2.2.Phân loại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 22
1.3. Ý nghĩa các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 24

luật……………101
3.3.2. Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tình tiết tăng nặng
103
3.3.3. Nâng cao trình độ nhận thức và áp dụng pháp luật của người
tiến hành tố
tụng………………………………………………………105
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………… 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- BLHS: Bộ luật Hình sự
- TNHS: Trách nhiệm hình sự
- TTHS: Tố tụng hình sự
- TTTN: Tình tiết tăng nặng
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa 1
PHẦN MỞ ĐẦU


được định nghĩa pháp lý của khái niệm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự, định nghĩa về khái niệm tình tiết định tội, tình tiết định khung. Mặt
khác, trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy những quy phạm của
chế định này còn nhiều bất cập, một số quy định chưa chặt chẽ và thống nhất
về nội dung, đặc biệt trong thực tiễn đời sống xã hội & thực tiễn pháp lý đang
tồn tại nhiều trường hợp có thể áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự nhưng lại chưa được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận và quy định
trong Bộ luật hình sự.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt
khoa học những vấn đề về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp
dụng các quy định về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong thực
tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu
quả của các quy định đã nêu trong bối cảnh chúng ta đang tiến hành các bước
để tiến hành pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ 3 (sửa đổi, bổ sung Bộ
luật hình sự 1999) không những có ý nghĩa lý luận-thực tiễn và pháp lý quan
trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây chính là lý do luận chứng
cho việc tác giả quyết định lựa chọn đề tài “các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Là một trong những chế định quan trọng, chế định các tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự có liên quan mật thiết và chặt chẽ đến chế định hình
phạt và nhiều chế định khác trong Luật hình sự, chính vì vậy nó được ghi nhận

3
trong pháp luật hình sự ở nhiều nước trên thế giới như: Liên bang Nga, Cộng
hòa Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển; v.v
Còn ở nước ta, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy
định trực tiếp tại các điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được đề cập, phân tích

thách của án treo, phạm tội trong tình trạng say rượu, phạm tội nhiều lần… tuy
nhiên kết quả nghiên cứu đã lâu (cách đây 08 năm), các vấn đề được tác giả đề
cập đã được pháp điển hóa hoặc không còn mang tính thời sự.
Còn tác giả của luận văn này sẽ đi sâu phân tích về việc áp dụng các tình
tiết tăng nặng TNHS theo khoản 1 điều 48 BLHS như: Xâm phạm tài sản của
Nhà nước; Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; Phạm tội vì động cơ đê hèn; Lợi
dụng chức vụ để phạm tội; cũng như tác giả sẽ tập trung phân tích nghiên cứu
những giải pháp khắc phục những bất cập tại khoản khoản 2 điều 48 BLHS về
những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không coi là
tình tiết tăng nặng; Giải quyết bài toán về việc xác định “ Tái phạm, tái phạm
nguy hiểm” đối với loại tội có quy định tình tiết định tội “ Đã bị kết án về loại tội
này, chưa được xóa án tích”…
Thời điểm tập trung nghiên cứu là thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự trong giai đoạn hiện nay (2001-2009).
3. Phạm vi nghiên cứu
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những chế định phức tạp,
có nhiều nội dung liên quan đến các chế định khác nhau trong Bộ luật hình sự
như: hình phạt, trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự; tái phạm, tái
phạm nguy hiểm, án treo v.v Bởi vậy, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ

5
xem xét và giải quyết một số vấn đề xung quanh các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự, mà cụ thể là:
1) Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của các tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự;
2) Phân biệt các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với các chế định
khác có liên quan như đối với các tình tiết định tội, định khung.
3) Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm về các
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt
Nam;

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin về nhà nước
và pháp luật, về tội phạm học, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nguyên
tắc xử lý tội phạm. Phép duy vật biện chứng là phương pháp luận để nhận thức
bản chất của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cặp phạm trù hình thức
và nội dung, cái riêng và cái chung là cơ sở để lý giải một số vấn đề lý luận
của đề tài như phân biệt hình phạt và trách nhiệm hình sự, phân biệt các tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với các tình tiết định tội, định khung hình
phạt Q uan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là cơ sở phương
pháp luận để nhận thức các ảnh hưởng của điều kiện lịch sử đến các quy định
của pháp luật hình sự về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhờ đó,
người nghiên cứu làm rõ những nét đặc thù và giá trị kế thừa trong các quy
định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qua đó hình dung sự biến đổi
biện chứng của chế định này trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, cũng

7
như trang bị cách tiếp cận biện chứng trong thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch
sử và phương pháp tổng hợp, cũng như những thành tựu của khoa học Luật
hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự, xã hội học pháp luật; v.v trong các
công trình của các nhà khoa học-luật gia ở trong và ngoài nước.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong các báo cáo
của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và một số vụ án
hình sự trong thực tiễn xét xử và thông tin trên mạng Internet để phân tích và
đánh giá, tổng hợp các tri thức khoa học Luật hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã


9 CHƢƠNG 1 :
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ.

I. KHÁI NIỆM CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Theo Điều 45 BLHS về căn cứ quyết định hình phạt, khi quyết định
hình phạt, ngoài căn cứ vào các quy định của BLHS, việc cân nhắc tính chất,
mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, toà án còn

4 yếu tố cấu thành tội phạm kể trên. Bất cứ một hành vi phạm tội nào, dù đặc
biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng dù có
chế tài thế nào cũng đều là thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ
quan, giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lý bên trong, đều
là hoạt động của con người cụ thể xâm hại hoặc nhằm xâm hại những quan hệ
xã hội nhất định.
Lựa chọn hình phạt thích hợp cho các trường hợp phạm tội cụ thể là quá
trình hoạt động phức tạp. Trong thực tế, tội phạm thể hiện hết sức đa dạng và
phong phú. Xem xét và đánh giá một tội phạm ở khía cạnh lượng hình đòi hỏi

11
phải xem xét một cách toàn diện trong sự cân nhắc các tình tiết khác cũng có ý
nghĩa ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Điều 45 BLHS 1999 quy định “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn
cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và
tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Như vậy các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng khi quyết định hình phạt.
Qua nghiên cứu cho thấy, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
bao gồm những tình tiết làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
hoặc tình tiết làm tăng tình nguy hiểm của nhân thân người phạm tội, do đó,
người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn. Những tình tiết đó
mang tính chất khách quan, được các nhà làm luật nhận thức và quy định
trong BLHS để đảm bảo tính công bằng, tính nghiêm minh của pháp luật hình
sự. Trách nhiệm hình sự, hình phạt chỉ đạt được mục đích trừng trị, giáo dục,
cải tạo người phạm tội khi chúng được toà án tuyên tương xứng với tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và người phạm tội.
Tình tiết tăng nặng TNHS là tình tiết làm cho trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội trong từng trường hợp phạm tội cụ thể cao hơn, thể hiện ở
ba mức độ khác nhau: Tội danh nặng hơn; Khung hình phạt cao hơn; Mức

tội quy định ở một điều luật. Tuỳ từng trường hợp nhà làm luật quy định
khung hình phạt cao hơn trước hoặc sau. Nhưng chỉ những tội quy định cấu
thành tội phạm cơ bản có khung hình phạt thấp nhất thì mới có khung hình
phạt nặng hơn, mỗi tội có thể có một hoặc nhiều khung hình phạt tăng nặng.
Để đảm bảo yêu cầu phân hoá trách nhiệm hình sự tương ứng với các
mức tăng nặng trách nhiệm hình sự dựa trên mức độ làm tăng tính nguy hiểm
cho xã hội của từng tình tiết đối với từng tội phạm nhiều hay ít. Vì thế, để

13
tương ứng với ba mức độ tăng nặng TNHS trên, bộ luật hình quy định ba loại
tình tiết tăng nặng TNHS đó là:
- Tình tiết tăng nặng định tội.
- Tình tiết tăng nặng định khung.
- Tình tiết tăng nặng chung.
Từ những phân tích trên chúng tôi nhất trí với tác giả Bùi Văn Lam đã
đưa ra khái niệm về tình tiết tăng nặng TNHS, tuy nhiên có bổ sung thêm một
số cụm từ in đậm để đảm bảo tính chính xác như sau: “Tình tiết tăng nặng
TNHS là những tình tiết thuộc yếu tố chủ quan hoặc khách quan của tội
phạm, hay tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội, mà khi có những tình tiết
đó, tính nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội hoặc tội phạm tăng lên và
do đó TNHS phải tăng lên, thể hiện ở việc tội phạm bị xử lý theo tội danh
nặng hơn, khung hình phạt nặng hơn, hoặc mức hình phạt cao hơn.”
II. BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH
NHIỆM HÌNH SỰ.
1. Bản chất pháp lý của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định trong BLHS đều có ý
nghĩa làm tăng trách nhiệm hình sự, mà chủ yếu làm tăng hình phạt đối với
người phạm tội. Nhưng cơ sở nào để các nhà làm luật quy định đó là những
tình tiết tăng nặng TNHS. Để trả lời được câu hỏi đó chúng ta cần làm rõ bản
chất pháp lý của các tình tiết tăng nặng TNHS.

xâm phạm đến các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, hậu quả gây ra
cho quan hệ xã hội đó (thực chất là làm biến đổi đối tượng tác động là khách
thể của quan hệ xã hội) và các tình tiết liên quan khác. Sau đó là lỗi, động cơ
mục đích của chủ thể của tội phạm (thuộc yếu tố chủ quan của tội phạm).
Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm xã hội của chủ thể tội phạm,

15
cũng có tác động làm thay đổi tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng nó không
phải là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm nên cần tách riêng khi nghiên
cứu (trừ một số dạng cấu thành đặc biệt của tội phạm).
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và yếu tố khách quan của
tội phạm.
Nếu tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất của
tội phạm, thì yếu tố khách quan là biểu hiện trước tiên, thể hiện bản chất của
tính nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, yếu tố khách quan của tội phạm bao gồm
hành vi, hậu quả thể hiện đầy đủ việc gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho
các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Tất nhiên thiệt hại do tội phạm
gây ra hoặc đe doạ gây ra đó phải đến mức đáng kể (do luật quy định trên cơ
sở thực tế khách quan). Do đó, trong BLHS, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
TNHS thuộc yếu tố khách quan của tội phạm chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt là
tình tiết tăng nặng TNHS định khung hình phạt. Thực tiến xét xử cho thấy, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS thuộc yếu tố khách quan của tội phạm
cũng được áp dụng rất phổ biến.
Khi nói một hành vi nào đó có tính nguy hiểm cho xã hội, là tội phạm
thì tức là nó đã xâm phạm (gây thiệt hại, đe doạ gây thiệt hại) đến quan hệ xã
hội được Luật hình sự bảo vệ, đó chính là khách thể của tội phạm. Tội phạm
không phải xâm phạm đến khách thể một cách chung chung mà nó làm biến
đổi tình trạng bình thường của các bộ phận của quan hệ xã hội. Các bộ phận
đó chính là đối tượng tác động của tội phạm. Các đối tượng đó có thể là con
người, vật chất, tài sản hoặc hoạt động bình thường của chủ thể như cơ quan

những hiện tượng thiên nhiên như động đất, lũ lụt, hoặc rủi ro như hoả hoạn,
hoặc do hành vi của con người. Song, chỉ có những hành vi nào đó có lỗi của
con người thì mới đặt ra vấn đề trách nhiệm, tức là đó phải là hành vi do chủ

17
thể có tự do lựa chọn. Đó là những người có đủ điều kiện lựa chọn, quyết định
một xử sự khác phù hợp đòi hỏi của xã hội, nhưng họ đã lựa chọn một xử sự
gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Con người tự do luôn luôn có đủ điều
kiện để lựa chọn hành vi cho mình mà không phụ thuộc hoàn toàn vào yếu tố
bên ngoài. Bởi vì "tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên
phải thông qua đầu óc họ" [20, tr.78].
Trong pháp luật hình sự, một hành vi gây thiệt hại cho quan hệ xã hội
được Luật hình sự bảo vệ phải có lỗi thì mới được coi là tính nguy hiểm cho
xã hội và bị coi là tội phạm. Như vậy, có thể nói tội phạm là sự thống nhất
giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan. Hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ
xã hội là sự phủ định khách quan, còn ý thức phạm tội, lựa chọn hành vi gây
thiệt hại cho xã hội là sự phủ định chủ quan. Tất nhiên người phạm tội có thể
lựa chọn hành vi trực tiếp nhằm mục đích gây thiệt hại cho xã hội như giết
người hoặc hành vi không nhằm gây thiệt hại cho xã hội nhưng do tác động
của các điều kiện khách quan khác nên đã trở thành tội phạm. Ví dụ: trường
hợp một người chăng dây điện ở nơi ít người qua lại để bẫy chuột, mặc dù đã
áp dụng các biện pháp phòng ngừa nhưng không may vẫn có người đi vào đó
và bị điện giật chết. Phủ định chủ quan là nguyên nhân còn phủ định khách
quan là kết quả. Tất nhiên chỉ nói đến phủ định chủ quan khi có phủ định
khách quan (gây thiệt hại trên thực tế). Những trường hợp một người gây thiệt
hại do bị cưỡng bức thân thể thì không có lỗi và không bị coi là tội phạm
(khác với cưỡng bức về tinh thần).
Do đó, lỗi được coi là yếu tố không thể thiếu trong cấu thành tội phạm,
thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Hay nói cách
khác, tính chất. Mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội phụ thuộc một phần

áp dụng đối với các tội có lỗi cố ý.

19
Khi nói đến tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thì không thể
không nói đến chủ thể của tội phạm. Bởi vì, hành vi nguy hiểm cho xã hội
cũng là hành vi của chủ thể, lỗi cũng là của chủ thể. Do đó, chủ thể là một
trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm. Theo Luật hình sự Việt Nam, chủ thể
gồm hai dấu hiệu: độ tuổi và năng lực TNHS. Luật không quy định thế nào là
người có năng lực TNHS, nhưng lại quy định trường hợp không có năng lực
TNHS. Đó là người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi khi thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội. Người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về
tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Điều
46 BLHS cũng quy định các trường hợp được giảm nhẹ TNHS do đặc điểm
riêng của chủ thể. Đó là: phạm tội do lạc hậu, người phạm tội là phụ nữ có
thai, là người già, là người có bệnh hạn chế năng lực nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi. Những quy định này là nhằm đảm bảo nguyên tắc công
bằng, nguyên tắc tự do và trách nhiệm, chính sách hình sự của Nhà nước ta.
Một người chỉ phải chịu TNHS khi nhận thức được đầy đủ hành vi của mình
và đủ khả năng điều khiển hành vi. Những người do độ tuổi hoặc bệnh tật mà
hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi thì TNHS đối với họ
cần được hạn chế và giảm nhẹ. Tuy nhiên, đối với trường hợp đủ năng lực
TNHS thì luật không quy định các mức độ khác nhau. Tức là, luật không quy
định người có nhận thức cao thì phải chịu TNHS cao hơn người có nhận thức
thấp. Hay nói cách khác, không có tình tiết tăng nặng TNHS thuộc yếu tố chủ
thể của tội phạm, trừ những trường hợp thuộc chủ thể đặc biệt. Thực tế, người
có nhận thức cao, thực hiện một tội phạm tương tự bao giờ tính nguy hiểm cho
xã hội cũng cao hơn trường hợp người có nhận thức thấp. Do đó, TNHS đối
với người có nhận thức cao phải cao hơn, bởi vì giữa những trường hợp đó, có
sự khác nhau về mức độ, khả năng nhận thức hậu quả của tội phạm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status