Đại học quốc gia Hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị Bé Minh Dấu hiệu đã bị xử lý hành chính trong pháp luật hình sự
việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số : 60 38 40
Luận văn thạc sĩ Luật học
2.1.2. Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính" trong BLHS năm 1985 và các
lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật 65
2.1.3. Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính" trong BLHS năm 1999. 70
2.2. Thực tiễn phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính thông qua dấu hiệu
đ bị xừ lý hnh chính 79
Ch-ơng 3 110
MộT Số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phân biệt tội
phạm với vi phạm hành chính trong PLHS Việt Nam 110
3.1. Hoàn thiện việc phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính trong các văn
bản PLHS. 111
3.1.2.1 Những yếu tố ảnh h-ởng đến việc tội phạm hóa phi tội phạm
hóa trong PLHS hiện nay. 123
3.1.3. Nâng cao hiệu quả của việc phân biệt tội phạm với vi phạm hành
chính trong hoạt động áp dụng pháp luật 150
3.2. Hoàn thiện pháp luật hành chính về việc phân biệt vi phạm hành chính với
tội phạm 163
Kết luận 180
Danh mục tài liệu tham khảo 183 Lời nói đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài
Vi phạm pháp luật là hành vi của con ng-ời, trái với quy định của pháp
luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội đ-ợc pháp luật xác lập, bảo vệ và là hành
vi nguy hiểm cho xã hội. Để bảo vệ lợi ích của xã hội, trách nhiệm đấu tranh
phòng, chống các vi phạm pháp luật là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, nh-ng
tr-ớc hết là của Nhà n-ớc, mà đại diện ở đây là các cơ quan bảo vệ pháp luật.
nào ranh giới phân biệt giữa tội phạm và vi phạm cũng có thể dễ dàng nhận
thức và áp dụng thống nhất. Mặt khác, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi
là khách quan, do các điều kiện kinh tế - xã hội quy định. Hành vi nguy hiểm
cho xã hội không phải là bất biến mà sẽ thay đổi mỗi khi các điều kiện khách
quan đó thay đổi.
Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu tiếp tục đẩy công tác xây dựng và
hoàn thiện pháp luật về t- pháp, thực hiện chủ tr-ơng cải cách t- pháp nhằm
xây dựng một nền t- pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, văn minh, bảo vệ
công lý trong điều kiện mới ở n-ớc ta hiện nay. Ngày 25 - 05 - 2005, Bộ
Chính trị ban hành Nghị quyết 48/NQ - TW Về chiến lợc xây dứng v hon
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định h-ớng đến năm 2020"
và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 - 06 - 2005 "Về chiến l-ợc cải cách t-
pháp đến năm 2020", các Nghị quyết này đã nêu rõ, tiến hành đồng bộ các biện
pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan t- pháp kết hợp với công tác
xây dựng và hoàn thiện pháp luật về t- pháp, trong đó có PLHS. Vì vậy, nghiên
cứu dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính" nói riêng, cũng nh- vấn đề phân biệt giữa
tội phạm với vi phạm hành chính nói chung là cần thiết và có ý nghĩa về mặt lập
pháp, cũng nh- thực tiễn áp dụng pháp luật. Những kết quả nghiên cứu của đề
tài sẽ là đóng góp thiết thực cho việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện BLHS theo Kế
hoạch số 05/2006 ngày 09/3/2006 của Ban chỉ đạo cải cách t- pháp thực hiện
Nghị quyết 49/NQ - TW của Bộ Chính trị.
Xuất phát từ những lý do cơ bản và cấp thiết cả về ph-ơng diện lý luận
cũng nh- thực tiễn trên đây, cùng với sự quan tâm, mong muốn tìm hiểu của
bản thân, góp phần phục vụ cho nhu cầu công tác thực tế, tác giả lựa chọn đề
tài: "Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính" trong pháp luật hình sự Việt Nam -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kể từ khi BLHS năm 1999 ban hành và có hiệu lực đến nay đã hơn 6
năm áp dụng trong thực tiễn. Vì vậy, các quy định về tội phạm và các dấu hiệu
3. Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài xác định trọng tâm nghiên cứu là làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn xung quanh dấu hiệu đ bị xừ lý hnh chính" trong
PLHS. Trên cơ sở phân tích những hạn chế của dấu hiệu " đã bị xử lý hành
chính " cũng nh- những bất cập trong thực tiễn áp dụng đề tài đ-a ra
ph-ơng h-ớng và giải pháp hoàn thiện luật hình sự cũng nh- những căn cứ
để phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính nói riêng, vi phạm pháp luật
khác nói chung trong thực tiễn áp dụng PLHS.
Với mục đích đó, nhiệm vụ đặt ra cho việc nghiên cứu đề tài là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính"
trong PLHS, làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến việc quy
định dấu hiệu này trong PLHS.
- Đánh giá hệ thống PLHS hiện hành và thực tiễn áp dụng của các cơ
quan tiến hành tố tụng về dấu hiệu " đã bị xử lý hành chính" để đ-a ra những
căn cứ phân biệt ranh giới giữa tội phạm và vi phạm hành chính trong mối liên
hệ với lý luận và thực tiễn đấu tranh với tội phạm.
- Đề xuất ph-ơng h-ớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về căn
cứ phân biệt giữa tội phạm và vi phạm hành chính, đồng thời ở một chừng mực
nhất định cũng xem xét và đề xuất việc hoàn thiện PLHC đối với một số vấn đề
liên quan tội phạm.
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung nghiên cứu và giải quyết đ-ợc các nhiệm vụ
mà đề tài đã đặt ra. Quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả dựa trên cơ sở
ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử làm ph-ơng pháp nghiên cứu cơ bản, chủ yếu, kết hợp với các ph-ơng pháp
nghiên cứu khoa học chuyên ngành nh-: ph-ơng pháp lịch sử, phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh Trong quá trình triển khai luận văn tác giả đã kết hợp
với những cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh với tội phạm mà đáng chú ý là
từ thời điểm Nhà n-ớc ta ban hành BLHS năm 1999 đến nay.
mặt lập pháp cũng nh- thực tiễn áp dụng pháp luật hành chính hiện hành. Trên
cơ sở đó, để nâng cao khả năng tác động của chế tài hành chính đối với vi
phạm hành chính với t- cách là một trong các biện pháp nhằm hạn chế phạm
vi tác động của TNHS. Tác giả đề xuất một số vấn đề liên quan đến quy định
về vi phạm hành chính và chế tài hành chính nhằm góp phần hoàn thiện ranh
giới giữa vi phạm hành chính với tội phạm
6. Kết cấu luận văn:
Để phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài,
luận văn đ-ợc chia thành 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Một số vấn đề chung về dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính"
trong pháp luật hình sự.
Ch-ơng 2: Dấu hiệu "đã bị xử lý hành chính" trong lịch sử lập pháp
hình sự Việt Nam và thực tiễn phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính
thông qua dấu hiệu này.
Ch-ơng 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của việc phân
biệt giữa tội phạm với vi phạm hành trong pháp luật hình sự.
Ch-ơng 1
Một số vấn đề chung về dấu hiệu
đã bị xử lý hành chính trong pháp luật hình sự
1.1 Trách nhiệm hành chính và xử lý hành chính
1.1.1 Cơ sở của trách nhiệm hành chính
Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành năm 2002 quy
định: c nhân, tồ chữc chỉ bị xừ pht hnh chính khi cõ vi phm hnh chính
do php luật quy định. Nh vậy, cơ sờ ca việc xừ pht hành chính là có hành
vi vi phạm hành chính đ-ợc pháp luật quy định. Và khi xác định đúng hành vi
vi phạm (xác định đúng cơ sở xử phạt) thì việc xử phạt hành chính sẽ đúng, và
mới bảo đảm đ-ợc quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà n-ớc, của các tổ chức
Tuy nhiên, định nghĩa trên đây vẫn còn một vài khiếm khuyết ở chỗ,
yếu tố khách thể của vi phạm hành chính không đ-ợc thể hiện, vì cụm từ
xâm phm quy tắc qun lý nh nớc không phi l khch thể ca vi phm,
mà chỉ là tính trái pháp luật của hành vi. Khách thể của vi phạm pháp luật phải
l quan hệ x hối chữ không phi l quy tắc, còn quy tắc chỉ nhằm điều
chỉnh cc quan hệ x hối đõ. Thêm nửa, cúm tụ m không phi l tối phm
rất dễ làm cho chủ thể có thẩm quyền xử phạt hành chính lầm t-ởng mà tự
cho mình có quyền đánh giá hành vi vi phạm pháp luật nào đó là vi phạm
hành chính.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và năm 2002, vẫn không
có bổ sung nội dung nào trong diều luật qui định về " xử phạt hành chính",
thậm chí khái niệm "vi phạm hành chính" còn không đ-ợc định nghĩa riêng
biệt mà chỉ đợc qui định chung trong điều luật định nghĩa Xử phạt hành
chính, tữc l định nghĩa việc lm chữ không phi định nghĩa hnh vi vi
phạm hành chính mặc dù vi phạm hành chính mới là khái niệm chủ yếu của
văn bản pháp luật này.
Các dấu hiệu đặc tr-ng của vi phạm hành chính.
Mặt khách quan của vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện bên ngoài
thế giới khách quan của hành vi, bao gồm các dấu hiệu nh- hành vi, tính trái
pháp luật của hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm,
Theo C.Mác, con ng-ời chỉ tồn tại đối với pháp luật thông qua hành vi
của mình, những suy nghĩ, t- t-ởng của con ng-ời, nếu chỉ dừng lại trong ý
thức của ng-ời đó thì ch-a thể làm biến đổi các quan hệ xã hội đ-ợc pháp luật
bảo vệ. Nh- vậy, chỉ bằng hành vi con ng-ời mới có khả năng gây ra thiệt hại
hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội thuộc phạm vi cần đ-ợc
pháp luật bảo vệ. Do đó, hành vi của con ng-ời mới chính là đối t-ợng điều
chỉnh của pháp luật và là cơ sở pháp lý để nhà n-ớc buộc ng-ời thực hiện nó
phải chịu sự phán xét của pháp luật. Và một hành vi sẽ bị coi là vi phạm pháp
pht i vi ngi đã th nh niên. Ngi cha th nh niên vi phm h nh
chính gây thit hi thì phi bi thng theo quy nh ca pháp lut, trong
trng hp không có tin np pht thì cha m hoc ngi giám h phi np
thay (iu 7). T đó, suy ra ngi cha 14 tui thì không b x pht mà
áp dng bin pháp giáo dc.
i cán b, công chc, viên chc nói chung v ngi có thm quyn
nói riêng chu trách nhim h nh chính i vi nhng vi phm h nh chính
liên quan n công v. Do vy, cán b, công chc nu li dng chc v vi
phm hành chính thì s b áp dng tình tit tng nng trách nhim h nh chính
(khon 5 iu 9 Pháp lnh)
Quân nhân ti ng, quân nhân d b trong thi gian tp trung hun
luyn v nhng ngi thuc lc lng Công an nhân dân, nu vi phm h nh
chính cng b x lý nh i vi công dân khác. Trong trng hp cn áp dng
tc quyn s dng mt s giy phép hot ng vì mc ích an ninh, quc
phòng, thì ngi xử lý không trc tip x lý m đề ngh c quan, n v quân
i, công an có thm quyn x lý theo iu l k lut.
T chc cng b x lý vi phm h nh chính v mi h nh vi vi phm
h nh chính do mình gây ra. Sau khi chp h nh quyt nh x pht t chc b
x pht xác nh cá nhân có li gây ra vi phm h nh chính xác nh trách
nhim ca ngi ó theo quy nh ca pháp lut.
Còn cá nhân, t chc nc ngo i thc hin vi phm h nh chính trong
phm vi lãnh th v thm lc a ca Vit Nam thì b x lý vi phm h nh
chính theo quy nh ca pháp lut Vit Nam, tr trng hp iu c quc
t m Vit Nam ký kt hoc gia nhp có quy nh khác.
Mt ch quan ca vi phm h nh chính
Trong mt ch quan của VPHC, li l yu t bt buc. Mi mt h nh
vi trái pháp luật không có ngha l vi phm pháp lut, nu không xác nh
c li ca ch th.
Vy li l thái độ tâm lý ca ngi i vi h nh vi v hu qu do
của trách nhiệm pháp lý. Theo đó, trách nhiệm hành chính là hậu quả của vi
phạm hành chính, thể hiện ở chỗ sự áp dụng bởi cơ quan Nhà n-ớc, ng-ời có
thẩm quyền những chế tài pháp luật hành chính đối với chủ thể vi phạm hành
chính theo thủ tục do luật hành chính quy định.
Các đặc điểm của trách nhiệm hành chính:
- Cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính, do đó, nếu
không có vi phạm hành chính thì sẽ không có trách nhiệm hành chính.
-Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý duy nhất đ-ợc áp
dụng và thực hiện trong quản lý hành chính Nhà n-ớc có tính chất hành pháp.
Đây là đặc điểm dễ phân biệt nó với trách nhiệm pháp trách nhiệm hình sự,
trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật
- Căn cứ áp dụng các hình thức trách nhiệm hành chính là các quyết
định xử lý vi phạm hành chính, tức là các hình thức trách nhiệm này chỉ áp
dụng trên cơ sở quyết định xử phạt.
- Đối t-ợng vi phạm áp dụng trách nhiệm hành chính bao gồm: cá nhân
và tổ chức. Đặc điểm này khác, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm kỷ luật là
các chế tài xử phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân.
. Trách nhiệm hành chính đ-ợc thực hiện bởi nhiều cơ quan Nhà n-ớc
có thẩm quyền tiến hành quản lý hành chính khác với trách nhiệm hình sự và
dân sự chỉ do Tòa án áp dụng. - Các hình thức trách nhiệm hành chính có đặc
điểm, trình tự và thủ tục riêng. Tr-ớc hết, so với các hình thức trách nhiệm
hình sự, dân sự, các hình thức trách nhiệm hành chính đ-ợc áp dụng trong lĩnh
vực hành pháp, do đó trình tự áp dụng không đòi hỏi phức tạp, chặt chẽ nh-
trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực t- pháp. Mặc dù, các
quyết định áp dụng trách nhiệm hành chính có thể đ-ợc xem xét theo trình tự,
thủ tục t- pháp tại Tòa hành chính. Song điều này không có nghĩa là trách
nhiệm hành chính đ-ợc Tòa án áp dụng đối với ng-ời vi phạm, mà Tòa án chỉ
xem xét lại tính hợp pháp của ng-ời áp dụng trong tr-ờng hợp đặc biệt đối với
ng-ời vi phạm mà thôi. Các hình thức trách nhiệm hành chính chỉ đ-ợc Tòa án
hậu quả do vi phạm gây ra bằng cách khôi phục lại quan hệ pháp luật cụ thể
đã bị vi phạm.
Các biện pháp trách nhiệm hành chính đ-ợc coi là các biện pháp khắc
phục hiệu quả khi việc áp dụng nó có thể đ-a quan hệ pháp luật bị vi phạm trở
lại trạng thái ban đầu và cùng với các biện pháp phạt, các biện pháp khôi phục
phỗi hợp với chũng để gii quyết trón vẹn hon tất vi phm hnh chính đ
xảy ra ở chỗ, biện pháp phạt tác động trừng trị đối với ng-ời vi phạm, còn biện
pháp khôi phục hậu quả đ-a quan hệ bị vi phạm về trạng thái nó vốn có, cả hai
biện pháp đều h-ớng tới bảo vệ phần quy định của quy phạm pháp luật nh-ng
theo cách thức khác nhau.
Các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính có các dấu hiệu
chung của mọi biện pháp trách nhiệm hành chính là chế tài, là biện pháp
c-ỡng chế nhà n-ớc giải quyết về thực chất vi phạm pháp luật, thể hiện sự lên
án của nhà n-ớc đối với ng-ời vi phạm. Song chúng có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, nội dung bảo vệ của biện pháp khắc phục trùng với quy định
của quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh biện pháp khôi phục là sự
thực hiện nghĩa vụ ghi trong quy định d-ới sự c-ỡng chế Nhà n-ớc và luôn
liên quan với sự vi phạm pháp luật.
Thứ hai, biện pháp khôi phục do cách thức bảo vệ trật tự pháp luật, nó
bảo vệ trực tiếp quan hệ xã hội đã bị vi phạm (ví dụ: buộc tháo dỡ công trình
xây dựng trái phép). Trong khi đó, chế tài phạt chỉ gián tiếp bảo vệ quan hệ
pháp luật sẽ xảy ra trong t-ơng lai.
Thứ ba, các biện pháp phạt, nói chung có mục đích làm cho ng-ời vi
phạm phải chịu sự hạn chế về mặt pháp luật. Ng-ợc lại, chế tài khôi phục lại
nhằm thực hiện thực tế nghĩa vụ không đ-ợc tuân thủ.
Thứ t-, các biện pháp phạt th-ờng đ-ợc quy định d-ới dạng chế tài xác
định t-ơng đối. Việc áp dụng chế tài này đòi hỏi phải cân nhắc để quyết định
phù hợp với tính chất, mức và các yếu tố khác của vi phạm đã thực hiện.
Nh-ng các chế tài khôi phục lại khác, chúng luôn đ-ợc quy định d-ới dạng
Còn các biện pháp xử lý hành chính khác đ-ợc áp dụng đối với cá nhân
có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nh-ng ch-a
đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đ-ợc quy định tại các Điều 23, Điều 24,
Điều 25, Điều 26 của Pháp lệnh này và bao gồm các biện pháp nh-: giáo dục
tại ph-ờng, xã, thị trấn; đ-a vào tr-ờng giáo d-ỡng; đ-a vào cơ sở giáo dục;
đ-a vào cơ sở chữa bệnh. Biện pháp Quản chế hành chính đã đ-ợc bãi bỏ theo
Pháp lệnh số 31 ngày 08/3/2007 nên chúng tôi không đề cập.
Nh- vậy, xử phạt vi phạm hành chính chỉ là một bộ phận trong nội hàm
ca xừ lý vi phm hnh chính v cần thấy rng, khi niệm Xừ lý vi phm
hnh chính l khi niệm mới xuất hiện v lần đầu tiên đợc chính thữc quy
định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995. Tr-ớc đó, trong
Pháp lệnh năm 1989 chỉ sừ dúng khi niệm Xừ pht vi phm hnh chính để
chỉ các biện pháp xử phạt thông dụng nh- cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang
vật, ph-ơng tiện, Việc đ-a ra khái niệm này vào trong Pháp lệnh năm 1995
là nhằm gộp chung cả chế tài xử phạt hành chính theo Pháp lệnh năm 1989 và
các biện pháp mới đ-ợc quy định trong Pháp lệnh năm 1995 trên cơ sở các
quy định tr-ớc đây nh-: Nghị quyết 49/NQ - TVQH ngày 20/06/1961 của Uỷ
ban th-ờng vụ Quốc hội về tập trung giáo dục, cải tạo và phần tử có hành
động nguy hại cho xã hội (trong đó, quy định hai biện pháp c-ỡng chế hành
chính là tập trung giáo dục cải tạo và quản chế hành chính), Thông t- số
68/TTG - VG của Thủ t-ớng Chính phủ ngày 13/07/1964 về việc thành lập các
tr-ờng giáo dục thiếu niên h-, Quyết định số 217/TTg/CN ngày 18/12/1967 về
việc tổ chức lại các tr-ờng giáo dục thiếu niên h
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp
xử lý vi phạm hành chính khác cho thấy, các biện pháp này có các đặc điểm
sau:
Thứ nhất, đối t-ợng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác
đ-ợc quy định rất đa dạng: có thể thuộc diện hành vi vi phạm hành chính,
nh-ng đa số không thuộc diện này, mà là ng-ời phạm tội hoặc thực hiện vi
tìm cho đ-ợc những yếu tố thuộc về bản chất của hành vi làm ranh giới để
phân biệt chúng trong nhận thức cũng nh- trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Vậy ranh giới là gì? Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học [3,
tr. 820] thì khi niệm ranh giới đợc hiểu l: Động phân giới hn giửa hai
khu vực, hai địa hạt liền nhau. Con sông làm ranh giới giữa hai tỉnh. Ranh giới
giửa ci đũng v ci sai.
Theo đó, việc phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm dựa vào
những đặc điểm sau:
Thứ nhất, xét về nội dung, tuy vi phạm hành chính và tội phạm đều có
cùng bản chất là tính nguy hiểm cho xã hội nh-ng giữa chúng vẫn có sự khác
nhau cơ bản và quan trọng nhất đó là mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội.
Nh- vậy, sự khác nhau về mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi
là ranh giới phân biệt VPHC với tội phạm.
Thứ hai, xét về hình thức quy định thì tội phạm chỉ đ-ợc quy định trong
BLHS do cơ quan quyền lực cao nhất ban hành Quốc hội, còn VPHC theo
quy định của pháp luật hiện hành (Điều 2 Pháp lệnh ) do chính phủ - cơ quan
hành pháp quy định. Nh-ng cần l-u ý rằng, đặc điểm phân biệt này chỉ có tính
t-ơng đối, vì việc quy định VPHC hay tội phạm trong loại văn bản quy phạm
pháp luật nào đó hoàn toàn có thể thay đổi tùy thuộc vào quan điểm và trình
độ lập pháp của Nhà n-ớc trong từng thời kỳ.
Thứ ba, về phạm vi đối t-ợng áp dụng thì theo quy định của pháp luật
hiện nay, đối t-ợng VPHC có thể bị xử phạt hành chính không chỉ là các cá
nhân mà còn là tổ chức, trong khi đó, đối t-ợng thực hiện tội phạm bị xử phạt
về hình sự chỉ có thể là cá nhân.
Thứ t-, về thẩm quyền xử lý và trình tự, thủ tục xử lý vi phạm VPHC và
tội phạm cũng khác nhau. Theo đó, thẩm quyền xử lý VPHC theo quy định
Pháp lệnh xử lý VPHC hiện nay đ-ợc giao cho nhiều cơ quan, ng-ời có thẩm
quyền, trong đó chủ yếu là các cơ quan quản lý hành chính Nhà n-ớc. Việc xử
phạt VPHC do Tòa án áp dụng chỉ thực hiện trong phạm vi rất hẹp. Còn việc
Tr-ớc hết, cần phải thống nhất về mặt nhận thức là, tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi là do điều kiện kinh tế - xã hội quy định và sẽ thay đổi khi
có sự biến đổi bởi các điều kiện đó. Vì vậy, sự chuyển hóa VPHC thành tội
phạm cũng chỉ có thể diễn ra trên cơ sở có sự thay đổi về chất (tính chất, tầm
quan trọng) của các quan hệ xã hội bị xâm hại theo h-ớng cao hơn, nghiêm
trọng hơn. Sự thay đổi này diễn ra một cách khách quan do sự chuyển biến
của các điều kiện khách quan của xã hội cũng nh- đặc điểm của tình hình vi
phạm pháp luật, tác động đến t- duy làm thay đổi quan niệm, nhận thức, cách
đánh giá của nhà làm luật về nhu cầu, khả năng cũng nh- điều kiện áp dụng
các biện pháp pháp lý khác nhau để đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật.
Theo đó, việc chuyển hóa VPHC thành tội phạm gắn liền với sự điều chỉnh
trong chính sách hình sự của Nhà n-ớc theo h-ớng tội phạm hóa một số hành
vi vi phạm pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh
phòng chống tội phạm trong tình hình mới. Tinh thần này đ-ợc thể hiện rõ
trong BLHS năm 1999, theo đó có khoảng 35 loại hành vi vi phạm tr-ớc đây
bị xử phạt hành chính thì nay đ-ợc chuyển hóa thành tội phạm. Ví dụ: Các
hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ mội tr-ờng, sở hữu trí tuệ, ngân hàng,
tín dụng, tin học v.v
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu ở phần này, chúng tôi không đề
cập đến việc chuyển hóa VPHC thành tội phạm d-ới giác độ tội phạm hóa
hoặc là việc quy định tội phạm đối với những hành vi tr-ớc đây đ-ợc coi là
VPHC trong điều kiện mới cần phải đ-ợc bảo vệ bằng PLHS, mà ở đây chủ
yếu phân tích các căn cứ và các tiêu chí cụ thể để hành vi có thể chuyển hóa từ
VPHC thành tội phạm đã đ-ợc ghi nhận trong quy định của BLHS hiện hành.
Thông th-ờng, mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đ-ợc
biểu hiện trên nhiều ph-ơng tiện bao gồm: khách thể, mặt khách quan và chủ
quan cũng nh- các đặc điểm của chủ thể. Và do vậy, sự thay đổi về mức độ
của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi VPHC tr-ớc hết, đ-ợc thể hiện dựa
trên sự thay đổi trong việc đánh giá về tính chất và tầm quan trọng của các