ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
***
NGUYỄN THANH NGA
XU HƯỚNG NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM-
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LuËn v¨n th¹c sÜ triÕt häc
Hµ néi - 2008
MỤC LỤC Mở đầu
1
Chƣơng 1
Quá trình du nhập, phát triển và một số đặc điểm cơ bản
của Phật giáo ở Việt Nam
6
1.1
Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
6
1.1.1
Bối cảnh lịch sử
6
1.1.2
Các giai đoạn phát triển của Phật giáo ở Việt
Nam
9
1.2
Một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo ở Việt Nam
20
1.2.1
Sự kết hợp các tông
phái
20
1.2.2
Dung hợp với các tôn giáo khác - tam giáo đồng nguyên
5
hội
3.1.1
Tác động tích cực
60
3.1.1.1
Phật giáo góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
60
3.1.1.2
Phật giáo tích cực tham gia hoạt động từ thiện, xoá đói, giảm
nghèo, phát triển kinh tế xã hội
64
3.1.1.3
Phật giáo góp phần gìn giữ các giá trị văn hoá, đạo đức truyền
thống
68
3.1.2
Tác động tiêu
cực
71
3.1.2.1
Xu hướng nhập thế làm cho Phật giáo dễ bị lợi dụng phục vụ
cho những mục đích xấu
92
Phụ lục
97 6 MỞ ĐẦU
văn hoá. Với phương châm “Tuỳ duyên phương tiện”, nhiều yếu tố chủ lưu
mang tính xuất thế của Phật giáo đã dần biến đổi.
Ngày nay, Phật giáo ở Việt Nam với chủ trương “Đạo pháp - Dân tộc -
Chủ nghĩa xã hội” đang có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên sự phát triển của
Phật giáo cũng đặt ra một số vấn đề cần phải nghiên cứu thấu đáo hơn. Một
trong số đó là xu hướng nhập thế của Phật giáo. Bên cạnh những mặt tích cực
xu hướng này đã và đang có những biểu hiện lệch lạc, không chỉ trái với chủ
trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà còn đi
ngược lại tôn chỉ, mục đích chân chính của đạo Phật, gây mất ổn định trật tự
và an toàn xã hội, làm tổn hại đến uy tín của chính bản thân Phật giáo. Vấn đề
đặt ra là cần làm gì để phát huy hơn nữa những mặt tích cực, giảm thiểu
những tác động tiêu cực của tinh thần nhập thế của Phật giáo đối với đời sống
xã hội hiện nay?
Để góp phần trả lời câu hỏi trên đây, tôi quyết định lựa chọn vấn đề
“Xu hướng nhập thế của Phật giáo ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng từ
lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả. Ở nước ta đã có nhiều
công trình nghiên cứu đạo Phật, có thể khái quát nội dung các công trình đó
theo 3 chủ đề chính:
8
9
ở Việt Nam chủ yếu chỉ dừng lại ở thời Lý - Trần và một số sự kiện trong hai
cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc trong thế kỷ XX.
3. Mục đích và nhiệm vụ.
* Mục đích: Dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn góp phần khẳng định
tính nhập thế của Phật giáo ở Việt Nam và phân tích ảnh hưởng của nó đến
đời sống xã hội ta hiện nay, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
mặt tích cực, giảm thiểu những hạn chế của xu hướng này.
* Nhiệm vụ:
- Trình bày khái lược quá trình du nhập, phát triển và những đặc điểm
của Phật giáo ở Việt Nam
- Làm rõ những biểu hiện chủ yếu của xu hướng nhập thế của Phật giáo
ở nước ta.
- Phân tích tác động của xu hướng nhập thế của Phật giáo đến con
người và xã hội Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy mặt tích cực, giảm thiểu những tác động tiêu cực do xu hướng đó tạo nên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng: Luận văn đi sâu nghiên cứu xu hướng nhập thế cũng như
ảnh hưởng của xu hướng đó tới con người, xã hội của Phật giáo ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu: Tác giả luận văn có tìm hiểu những nội dung
căn bản của giáo lý Phật giáo thể hiện tinh thần nhập thế, tập trung nghiên
cứu những đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện
tại để làm sáng tỏ xu hướng nhập thế và những biểu hiện của xu hướng ấy
gồm làm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1: Khái lược quá trình du nhập, phát triển và đặc điểm cơ bản
của Phật giáo ở Việt Nam
Chương 2: Tính nhập thế của Phật giáo ở Việt Nam - Một số biểu hiện
chủ yếu.
Chương 3: Tác động của xu hướng nhập thế của Phật giáo đối với xã
hội ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp.
11 Chƣơng 1
được tiếp xúc với Phật giáo theo cả hai con đường đó. Theo hướng Nam, Phật
giáo từ Ấn Độ đã du nhập trực tiếp vào nước ta qua đường biển theo chân các
thương nhân và sau đó từ hướng Bắc, Phật Giáo Trung Quốc cũng ảnh hưởng
đến nước ta và dần lấn át ảnh hưởng của Phật giáo truyền từ Ấn Độ.
Về thời điểm du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, hiện vẫn còn có
nhiều ý kiến khác nhau. Truyền thuyết liên quan đến sự có mặt sớm nhất của
Phật giáo ở nước ta là truyện Nhất Dạ trạch, truyện kể rằng vào đời Hùng
Vương thứ ba, ở trên núi Quỳnh Viên ngoài biển có sư Phật Quang truyền
pháp cho Chử Đồng Tử, Chử Đồng Tử trở về giảng lại đạo Phật cho vợ là
Tiên Dung, cả hai giác ngộ và bỏ cơ nghiệp tìm thầy học đạo. Theo đó, Phật
giáo vào nước ta khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ V trước CN. Nhưng đó chỉ
là truyền thuyết. Lại có ý kiến cho rằng, vào thế kỷ IV trước CN, hoàng đế
Ashoka (A Dục) của Ấn Độ có gửi nhiều phái đoàn truyền giáo ra nước ngoài,
trong đó có Đông Nam Á và Việt Nam. Theo một số nhà nghiên cứu, nơi đầu
tiên của Việt Nam được tiếp xúc với Phật giáo là Đồ Sơn ngày nay.
Dựa trên những tài liệu lịch sử còn ghi lại, giới nghiên cứu thống nhất
quan điểm chung Phật giáo du nhập vào nước ta từ những năm đầu công
nguyên. Đây là thời điểm nước ta đang nằm dưới sự đô hộ của phong kiến
phương Bắc, lãnh thổ Việt Nam là một quận của nhà Hán; nhân dân ta sống
trong khổ cực, hờn căm và tủi nhục. Người đứng đầu chính quyền là một Thái
thú do nhà Hán cử sang với một bộ máy quan lại được tổ chức và hoạt động
13
14
dung, trung hòa, độ lượng nên quá trình du nhập của Phật giáo vào nước ta đã
diễn ra một cách tương đối hòa bình, không gây xung đột, đổ máu như một số
tôn giáo khác. Người Việt đã mở rộng cửa đón tiếp Phật giáo, trước hết là vì
nội dung giáo lý có nhiều điểm tương đồng với tâm thức của họ. Sống dưới
ách đô hộ, áp bức, bóc lột của phong kiến Trung Hoa, người dân Việt Nam có
ý thức sâu sắc, cụ thể về nỗi khổ của người dân một nước mất độc lập, chủ
quyền, vì vậy triết lý về sự khổ của Phật giáo rất dễ được dân ta chấp nhận.
Phật giáo còn đem lại những kiến giải mới về nguyên nhân đau khổ và con
đường thoát khổ, kêu gọi lòng từ, bi, hỉ, xả. Trong cảnh cơ cực, lầm than, tư
tưởng “Vô thường” của Phật giáo đã nhen nhóm trong các tầng lớp nhân dân
Việt Nam niềm tin, sự hy vọng rằng thời kỳ đô hộ không thể kéo dài được
mãi, dân tộc Việt Nam sẽ có ngày giành được độc lập chủ quyền. Tinh thần
vô ngã của Phật giáo cũng có tác động tích cực trong việc cổ vũ đức tính sẵn
sàng hy sinh vì nghĩa lớn, nó là chất keo gắn kết cộng đồng đoàn kết một lòng
phụng sự lý tưởng giải phóng quốc gia, dân tộc.
Thời kỳ đầu, Phật giáo ở Việt Nam chủ yếu mang màu sắc Ấn Độ.
Theo một số nhà nghiên cứu thì nguyên nhân có thể là do người Việt Nam
muốn né tránh, hạn chế sự đồng hóa của người Hán bằng cách đề cao một nền
văn hóa lớn khác, nền văn hóa ấy là Ấn Độ và đại diện cho nó là Phật giáo.
Nhờ việc tạm nương mình vào văn hóa Ấn Độ, kết hợp với văn hóa Ấn Độ,
nền văn hóa bản địa đã duy trì được sự tồn tại và được bổ sung thêm những
nội dung mới. Sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam không diễn ra trong thời
gian ngắn, với một số ít nhà sư mà nó trải dài nhiều thế kỷ với hàng loạt cao
rất sớm và cùng với họ là các nhà sư trên đường hoằng truyền chánh pháp.
Dần dần Luy Lâu đã trở thành trung tâm Phật giáo. Trong ba trung tâm Phật
giáo đời Hán thì Luy Lâu hình thành sớm hơn hai trung tâm ở Bành Thành và
Lạc Dương (Trung Quốc). Bằng chứng là khi Tề Cao Đế có ý định chọn các
sa môn giỏi sang truyền giáo ở Giao Châu vì tưởng rằng nước ta khi đó còn
kém về Đạo Phật, pháp sư Đàm Thiên đã trả lời: Xứ Giao Châu có đường
thông với Thiên Trúc, khi Phật pháp chưa tới Giang Đông thì Luy Lâu đã có
xây hơn hai mươi ngôi chùa, độ được hơn năm trăm vị tăng và tụng mười lăm
quyển kinh rồi [22, tr.89]. Giao Châu cũng là nơi có tổ chức tăng đoàn sớm
16
nhất. Điều này đã được đề cập đến trong tác phẩm “Lý hoặc Luận” của Mâu
Bác.
Phật giáo ở Việt Nam lúc này không giống với Phật giáo nguyên thủy
hay Phật giáo ở Ấn Độ đương thời. Trên cơ sở những giáo lý nền tảng, Phật
giáo đã biến đổi do tác động của truyền thống tư tưởng, phong tục tập quán
cũng như điều kiện kinh - tế xã hội của Việt Nam giai đoạn này. Trong giới
luật của Phật giáo ở Luy Lâu có cả những yếu tố của Nho giáo và Lão giáo.
Đức Phật của người Việt Nam không phải là Đức Phật Thích Ca nguyên mẫu
mà đã trở thành một vị thần, cùng với Ông Trời, có thể biến hoá khôn lường,
hiện diện mọi nơi, mọi lúc, thấu hiểu hành động cũng như mọi nỗi suy tư của
con người, sẵn sàng ra tay cứu giúp người tốt bụng, thật thà.
Từ thế kỷ II đến thế kỷ V, Phật giáo ở Việt Nam gắn với tên tuổi một
Từ thế kỷ VI đến thế kỷ X, Phật giáo tiếp tục được truyền bá sâu rộng
hơn ở Việt Nam với sự xuất hiện các dòng thiền khác nhau. Phái thiền Tỳ Ni
Đa Lưu Chi do một nhà sư Ấn Độ có tên là Tỳ Ni Đa Lưu Chi là sư tổ, truyền
thừa được 19 đời với 30 vị thiền sư. Đây là dòng thiền đầu tiên ở Việt Nam
được ghi chép một cách tương đối đầy đủ, tuy chứa đựng trong mình một số
yếu tố Mật giáo nhưng đời sống tu hành lại mang đậm màu sắc Ấn Độ. Phái
thiền này đã tách Phật giáo khỏi những quan niệm về thần linh và chỉ ra
những phương pháp hành thiền để đạt tới trí tuệ. Cũng từ đây một quan niệm
mới về Đức Phật đã hình thành. Từ chỗ là một ông thần tồn tại ở một cõi xa
xăm nào đó, Phật được “di chuyển” vào tâm con người với quan niệm “Phật
tại tâm”, ngoài tâm không có Phật. Có thể nói, Phật giáo ở Việt Nam cho đến
thời điểm này đã chuyển từ chủ nghĩa duy tâm khách quan sang chủ nghĩa
duy tâm chủ quan. Đây chính là kết quả của một quá trình chuyển biến lâu dài
về nhận thức để đi đến khẳng định rằng: Muốn giải phóng dân tộc khỏi ách đô
hộ ngoại bang thì không thể trông chờ vào một lực lượng nào đó bên ngoài
mà phải dựa vào nội lực vốn có của chính dân tộc mình. Các thiền sư phái Tỳ
Ni Đa Lưu Chi đã tiếp thu và phát triển những tư tưởng tôn giáo không quá xa
vời, coi trọng khuynh hướng thực tế chứ không sa đà vào những vấn đề trừu
tượng. Trong thời điểm đó, Phật giáo là dòng tư tưởng tiến bộ, các thiền sư đã
tích cực tham gia và đóng góp có hiệu quả cho đời sống xã hội
18
Đến thế kỷ thứ VI, một thiền sư Trung Hoa có biệt hiệu là Vô Ngôn bản thân các tăng ni, phật tử trong buổi đầu gây dựng nền độc lập, Phật giáo
dần trở thành tôn giáo lớn của Việt Nam.
* Thời Lý - Trần
Dưới sự trị vì của hai triều đại này, nhìn chung xã hội Việt Nam ổn
định, bộ máy Nhà nước được củng cố. Phật giáo phát triển đến cực thịnh và
giữ vị trí nền tảng tư tưởng, tinh thần của xã hội.
Dưới triều Lý, Phật giáo được tôn lên hàng quốc đạo. Các triều vua đều
tin thờ đạo Phật và chùa chiền mọc lên khắp nơi. Lý Công Uẩn - người sáng
lập triều Lý nguyên là một sa di cùng thọ giáo với sư Vạn Hạnh, học trò của
nhà sư Lý Khánh Vân. Thời gian ở ngôi vua, Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ đã
ban hành nhiều lệnh chỉ có lợi cho sự phát triển của Phật giáo như cho xây
dựng chùa chiền, độ dân làm sư, sai sứ đi thỉnh kinh cầu pháp Năm 1031,
dưới triều vua Lý Thái Tông, triều đình bỏ tiền của ra xây dựng 950 ngôi chùa
miếu. Năm 1128, dưới triều vua Lý Thần Tông, toàn quốc đã cử hành lễ
khánh thành cho 84.000 ngôi bảo tháp. Có thể nói đây là thời kỳ "Đế và Tăng
cùng cai trị thiên hạ" không ít vị tăng sư đã trực tiếp nắm giữ việc triều chính.
Trước nhà Lý, các triều đại phong kiến chỉ tồn tại trong một thời gian
rất ngắn, nguyên nhân thì có nhiều nhưng chủ yếu là do thiếu một nền tảng
vững chắc về tư tưởng. Vì vậy, muốn duy trì thế ổn định lâu dài thì trước hết
cần xây dựng được hệ tư tưởng độc lập cho Nhà nước phong kiến. Trong khi
đó, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến từ Ấn Độ, thiền phái Vô Ngôn Thông
thì đến từ Trung Hoa, mặc dù đã có những cải biến cho phù hợp với điều kiện
lịch sử cụ thể nhưng vẫn là những yếu tố ngoại nhập. Năm 1069, ở Việt Nam
xuất hiện Thiền phái Thảo Đường. Đây là một dòng Phật giáo có tính chất
tổng hợp, thể hiện ở sự kết hợp giữa Thiền, Tịnh, Nho, Lão; những khuynh
hướng có tính chất bác học này lại được kết hợp hài hoà với tín ngưỡng dân
Trần Minh Tông đều là những Thánh đăng vườn thiền. Trần Thái Tông còn
để lại tác phẩm “Khoá hư lục” nổi tiếng, trong đó không chỉ thể hiện những
kiến thức hết sức uyên thâm về Phật giáo mà còn chứa đựng những yếu tố
mang tính triết học sâu sắc. Cũng vào đời Trần, cả ba dòng thiền Tỳ Ni Đa
Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường đều biến mất và một dòng thiền
mới được vua Trần Nhân Tông sáng lập lấy tên là Trúc Lâm, vua lấy hiệu là
Trúc Lâm Đầu Đà. Trúc Lâm trở thành thiền phái duy nhất của Phật giáo
21
Việt Nam giai đoạn này. Thiền Trúc Lâm có sự kế thừa các dòng thiền trước
đó, đồng thời nó còn dựa trên cơ sở của lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân
tộc. Với sự xuất hiện của thiền Trúc Lâm Việt Nam, nhà Trần không chỉ hoàn
tất việc xây dựng một hệ tư tưởng độc lập mà còn xoá bỏ được sự cát cứ trong
lĩnh vực này. Phật giáo đời Trần có sự phát triển cả về chiều sâu giáo lý cũng
như ảnh hưởng đối với giai cấp cầm quyền. Tư tưởng "Hoà quang đồng trần",
"Cư trần lạc đạo" đã tác động tích cực vào tâm thức mọi người, khơi dậy sự tự
tin, bản lĩnh sáng tạo. Đây chính là tinh thần nhập thế mà thiền phái Trúc Lâm
đã thành tựu. Tuy nhiên, vào cuối thời Trần, nhiều người giỏi Nho học được
bổ dụng làm quan do đó hệ tư tưởng Nho giáo dấn chiếm ưu thế. Vì nhiều
nguyên nhân khác nhau, các thiền sư dần bị gạt ra khỏi chính trường, vai trò
chính trị của Phật giáo giảm bớt, tôn giáo này dần lui về nơi thôn dã, gắn bó
chặt chẽ với sinh hoạt cộng đồng của người Việt chốn dân gian.
* Từ thời Hậu Lê đến thời Nguyễn
Kính, người đàn bà chịu nhiều oan ức sau đó trở thành Phật Quan Âm được
phụng thờ, tôn kính. Cũng trong thời kỳ này, ở nước ta có hai dòng thiền mới
từ Trung Quốc truyền sang, đó là phái Tào Động ở miền Bắc (1570) và Lâm
Tế ở miền Nam (1712). Nhưng cả hai phái đều không gây được nhiều ảnh
hưởng và tác động tới Phật giáo ở Việt Nam.
Dưới thời nhà Nguyễn, triều đại phong kiến tập quyền điển hình tôn
sùng Nho giáo, Phật giáo không được coi trọng. Đặc biệt từ khi thực dân Pháp
xâm lược nước ta và theo đó là sự du nhập của đạo Thiên Chúa, Phật giáo
càng trở nên yếu thế. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Phật giáo trong dân gian cũng
như chốn cung đình vẫn được duy trì, chùa chiền tiếp tục được tu bổ, xây
dựng mới và trở thành hệ thống với nhiều loại chùa khác nhau: Chùa nhà,
chùa làng, chùa nước. Đây cũng chính là thời kỳ xuất hiện những nhà sư yêu nước
giữ đạo.
*Từ đầu thế kỷ XX đến nay
Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những chuyển
biến căn bản và sâu sắc trên mọi lĩnh vực. Cũng giống như những tôn giáo có
truyền thống lâu đời khác như đạo Nho, đạo Lão, Phật giáo lâm vào tình trạng
23
suy vi. Trong tác phẩm Việt Nam phong tục xuất bản lần đầu năm 1916, Phan
Kế Bính viết
Hiện bây giờ Phật giáo ở nước ta cũng đã suy. Tuy lưu truyền đã
lâu, làng nào cũng có chùa thờ Phật, dân gian vẫn còn cúng bái, sùng phụng,
vận động tích cực của một số nhà tu hành và các nhân sĩ trí thức có tinh thần
dân tộc và mến đạo, Phật giáo cũng dần dần khởi sắc. Các trung tâm Phật giáo
bắt đầu dịch chuyển vào các đô thị lớn như Huế, Sài Gòn, Hà Nội thay vì ở
nơi thôn dã hay chốn thâm sơn cùng cốc. Đầu những năm 1930, các hội Phật
giáo ba kỳ lần lượt được thành lập, từ đây Phật giáo đi vào hoạt động có tổ
chức. Giới Phật giáo đã đạt được một số thành tựu trong cả lĩnh vực học thuật
cũng như thu hút tín đồ và phát huy được ảnh hưởng nhất định đến đời sống
tinh thần xã hội đương thời. Phong trào Chấn hưng Phật giáo kéo dài đến năm
1954. Trong suốt thời gian này, thực dân Pháp tìm đủ mọi cách lôi kéo, thao
túng một số nhân vật và tổ chức Phật giáo nhằm tạo cơ sở xã hội và chính trị
cho chế độ thực dân, song chúng không thể thực hiện âm mưu đó vì tuyệt đại
đa số tăng ni, phật tử vẫn giữ vững truyền thống yêu nước, gắn bó với dân
tộc.
Sau năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt, do đó tình hình Phật
giáo có nhiều biến động và có sự khác biệt giữa hai miền Nam - Bắc
Năm 1958, với sự ra đời của Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, tăng
ni phật tử miền Bắc đã được quy tụ trong một tổ chức duy nhất vừa hoạt động
tôn giáo, vừa hoạt động yêu nước. Đây có thể được coi là bước chuyển quan
trọng trong tiến trình gắn bó với dân tộc của giới Phật giáo ở miền Bắc.
Ở miền Nam, tình hình Phật giáo có những diễn biến phức tạp với sự
xuất hiện hàng chục hệ phái, tổ chức khác nhau. Nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này trước hết phải kể đến là sự đàn áp Phật giáo của chính quyền bù
nhìn Ngô Đình Diệm. Chính sách kỳ thị Phật giáo toàn diện của gia đình họ
Ngô đã dẫn đến sự bùng nổ của phong trào đấu tranh Phật giáo. Phong trào
này nhanh chóng lan rộng khắp miền Nam. Sau khi chính quyền họ Ngô sụp
đổ, Đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách thúc đẩy, chi phối quá trình “hiện đại hoá”
Phật giáo Việt Nam nhằm mục tiêu xây dựng ở miền Nam một xã hội không
đồng Chứng minh. Thống nhất Phật giáo là một sự kiện trọng đại, một mốc
son trong lịch sử Phật ở giáo Việt Nam. Từ đây Phật giáo ở Việt Nam có một
ngôi nhà chung quy tụ mọi hệ phái, tổ chức trong cả nước. Sự kiện này không
chỉ đáp ứng nguyện vọng mong mỏi của các bậc tôn túc giáo phẩm, cao tăng
thạc đức, tăng ni phật tử mà còn tạo điều kiện cho giới Phật giáo ở Việt Nam
26
thêm gắn bó với dân tộc, tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp đã
được bồi đắp hàng nghìn năm.
Sau 25 năm hoạt động, kế thừa truyền thống yêu nước, gắn bó với nhân
dân, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng được củng cố và hoàn thiện làm
nên sự phục hồi và phát triển Phật giáo ở nước ta như hiện nay. Đại hội đại
biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, diễn ra trong hai ngày 14 - 15/12/2007 đã
nhấn mạnh những thành tựu mà Giáo hội đạt được cũng như đề ra những mục
tiêu, phương hướng để góp phần tích cực hơn nữa vào công cuộc bảo vệ đất
nước, xây dựng phát triển kinh tế theo phương châm lợi đạo ích đời, phục vụ
chúng sinh cũng là cúng dường chư Phật.
1.2. Một số đặc điểm cơ bản của Phật giáo ở Việt Nam
Như trên đã trình bày, Phật giáo là tôn giáo có tính thích ứng lớn, khi
được truyền bá đến bất kỳ đâu nó cũng nhanh chóng hoà đồng, thích nghi với
truyền thống, phong tục tập quán của cư dân bản địa. Do đó khi nói đến Phật
giáo người ta không nói Phật giáo chung chung mà thường gắn tôn giáo này
với từng quốc gia, khu vực, chẳng hạn như Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo