Pháp luật Quốc tế với vấn đề khủng bố quốc tế, một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MINH THU
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VỚI VẤN ĐỀ KHỦNG BỐ QUỐC TẾ:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 60 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2012
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang

Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG BỐ
QUỐC TẾ
7
1.1.
Khái niệm khủng bố quốc tế và nguyên nhân dẫn đến khủng
bố quốc tế
7
1.1.1.
Khái niệm
7
1.1.2.
Nguyên nhân dẫn đến hành động khủng bố quốc tế
23
1.2.
Đặc điểm của khủng bố quốc tế
25
1.2.1.
Đặc điểm của hoạt động khủng bố
25

Quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống khủng bố
110
3.2.
Thực tiễn thi hành pháp luật về phòng, chống khủng bố
121
3.3.
Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố ở
Việt Nam hiện nay
123

3.4.
Quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật về phòng, chống
khủng bố
125
3.5.
Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả công tác phòng chống khủng bố ở Việt Nam trong
tình hình hiện nay
128
3.5.1.
Tăng cường ký kết hoặc gia nhập các điều ước quốc tế về
phòng, chống khủng bố
128
3.5.2.
Ban hành Luật Phòng, chống khủng bố - đạo luật quy định
toàn diện, thống nhất về phòng, chống khủng bố
130
3.5.3.
Sửa đổi, bổ sung, khắc phục những điểm bất cập, không hợp
lý trong các văn bản pháp luật hiện hành về phòng, chống

doạ nghiêm trọng đến hoà bình và an ninh quốc tế.
Trong thực tiễn, khủng bố thường nhằm vào các mục tiêu quân sự,
chính trị để gây tiếng vang lớn; các mục tiêu kinh tế để giảm bớt sức mạnh
kinh tế của đối phương; các hệ thống thông tin để gây thiệt hại về cơ sở vật
chất, gián đoạn thông tin, thậm chí là nhằm vào các mục tiêu dân sự, ám sát
thủ lĩnh phe đối lập hoặc gây ra các cuộc khủng bố trước hoặc sau các cuộc
bầu cử nhằm phá hoại uy tín của các ứng cử viên sáng giá. Chủ nghĩa khủng
bố hiện nay đã không chỉ giới hạn trong một quốc gia mà còn lan rộng ra các

2
khu vực và toàn cầu với quy mô phá hoại ngày càng lớn và thủ đoạn ngày
càng tinh vi hơn. Tội phạm khủng bố đang trở thành thách thức lớn đối với
hoà bình, an ninh quốc tế, do đó, hợp tác đấu tranh chống khủng bố là một
trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại. Chống khủng bố là
nhiệm vụ của tất cả các quốc gia trên thế giới. Muốn giải quyết được vấn đề
khủng bố quốc tế cần phải có sự nỗ lực chung của toàn nhân loại, sự hợp tác
chặt chẽ của tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính trị xã
hội và mọi công dân.
Đứng trước thách thức của hoạt động khủng bố, Liên hợp quốc đã có
những nỗ lực quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý quốc tế về chống
khủng bố để thu hút và tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong khuôn
khổ đa phương cùng đấu tranh ngăn chặn các hoạt động này. Cho đến nay, đã có
14 Công ước và Nghị định thư quốc tế và nhiều Nghị quyết của Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc… liên quan đến chống khủng bố được xây dựng, ban hành.
Việc xây dựng, ban hành các điều ước quốc tế về chống khủng bố nêu
trên đã khẳng định sự thành công của Liên hợp quốc trên lĩnh vực xây dựng
pháp luật quốc tế và góp phần định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật của
các quốc gia về phòng, chống khủng bố. Trên cơ sở các văn bản pháp lý quốc
tế về chống khủng bố, các quốc gia ký kết hoặc tham gia Công ước và Nghị
định thư có trách nhiệm nội luật hoá những quy phạm pháp lý quốc tế, ban

Nam hiện nay.
Từ chủ trương của Đảng và Nhà nước, yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu
hoàn thiện pháp luật Việt Nam, việc nghiên cứu, hệ thống hoá các văn bản
pháp luật quốc tế liên quan đến khủng bố, phân tích, chỉ ra những điểm hạn
chế của pháp luật Việt Nam về chống khủng bố để hoàn thiện hơn nữa pháp
luật Việt Nam là cần thiết. Vì lý do đó tôi chọn đề tài "Pháp luật quốc tế với
vấn đề khủng bố quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn
tốt nghiệp của mình.

4
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có một số tác giả nghiên cứu về đề tài chống khủng bố trong pháp
luật quốc tế. Trong đó có thể kể đến một số công trình khoa học sau:
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Những giải pháp cơ bản phòng, chống khủng
bố ở Việt Nam trong tình hình hiện nay” do TS. Bùi Trung Thành, Học viện
An ninh nhân dân làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2004;
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Khủng bố và giải pháp phòng, chống khủng
bố ở nước ta hiện này” do PGS. TS. Hoàng Công Tư, Phó Tổng cục trưởng
Tổng cục I, Bộ Công an làm Chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2007;
- Sách Khủng bố và chống khủng bố của tác giả Nam Hồng, Nxb Lao
động, Hà Nội năm 2001;
- Sách Pháp luật về chống khủng bố của một số nước trên thế giới do
Phạm Văn Lợi (chủ biên), Nxb Tư pháp, Hà Nội;
- Công Phương Vũ (2003), Khủng bố quốc tế - Cơ sở pháp lý quốc tế
ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế, Luận văn tốt nghiệp đại học, chuyên
ngành Luật Quốc tế tại Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003.
Tuy nhiên, các công trình kể trên nghiên cứu vấn đề khủng bố và chống
khủng bố một cách khái quát và sơ lược trên một phạm vi nhất định (như:
nghiên cứu về khái niệm khủng bố, các tổ chức khủng bố); chỉ đưa ra các giải
pháp để phòng, chống khủng bố nói chung hoặc phòng, chống khủng bố xảy

khung pháp lý này.
Thứ tư, nêu và phân tích một số hạn chế trong pháp luật quốc tế và
pháp luật Việt Nam về khủng bố và đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn
thiện quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam trong lĩnh vực phòng,
chống khủng bố quốc tế.
5. Phương pháp tiếp cận vấn đề
Để tài nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử - phương pháp luận của khoa học pháp lý nói chung và

6
khoa học luật quốc tế nói riêng. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích - tổng hợp,
phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu và các phương pháp
nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác…
6. Nội dung
Luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khủng bố quốc tế.
Chương 2: Khái quát khung pháp lý quốc tế về phòng, chống khủng bố.
Chương 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả công tác phòng, chống khủng bố ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.


8
(1793 - 1794) ở nước Pháp. Chính quyền cách mạng nước Pháp lúc đó (chính
quyền Terreur) đã thiết lập một chế độ độc tài và tiến hành các biện pháp kinh
tế hà khắc. Tuy nhiên, những người Giacôbanh lãnh đạo chính phủ Pháp lúc
đó đồng thời cũng là những người cách mạng và dần dần "sự khủng bố" -
“terreur” được dùng để chỉ hoạt động bạo lực cách mạng nói chung. Tuy
nhiên, cũng có một số quan niệm cho rằng thuật ngữ “khủng bố” xuất hiện
vào năm 1798 do nhà triết học Đức Immanuel Kant sử dụng để mô tả sự bi
quan về số phận con người và cùng năm đó thuật ngữ này cũng xuất hiện
trong một phụ lục của Đại từ điển Viện Hàn lâm Pháp [27].
Việc sử dụng thuật ngữ "kẻ khủng bố" theo nghĩa một người chống lại
chính phủ được ghi lại tại Ailen năm 1866 và tại Nga năm 1883. Khái niệm
này được dùng để chỉ những kẻ chống phá chính quyền với triết lý và lý
tưởng vô chính phủ, phủ nhận nhà nước, các đạo luật do nhà nước ban hành
và tài sản của công dân [28].
Trên bình diện quốc tế, lần đầu tiên khái niệm “khủng bố quốc tế” được
sử dụng tại diễn đàn của 06 hội nghị quốc tế về thống nhất hoá luật hình sự
(năm 1927). Các hội nghị này đã lưu ý cộng đồng quốc tế về vấn đề chống
khủng bố quốc tế. Các hội nghị đã hoàn thành việc xếp loại các tội phạm
trong nội hàm khái niệm khủng bố quốc tế và gián tiếp góp phần đưa ra quyết
định loại bỏ một số hành vi khỏi nhóm tội phạm chính trị không bị dẫn độ
trong điều ước quốc tế về lĩnh vực này [56, tr.9]. Tiếp đó, vào năm 1934, Hội
nghị quốc tế về thống nhất hoá luật hình sự được triệu tập tại Mardrit (Tây
Ban Nha) đã thành công trong việc đưa ra một định nghĩa khủng bố, theo đó,
đây là việc sử dụng biện pháp bất kỳ có khả năng khủng bố dân cư nhằm mục
đích phá huỷ toàn bộ cơ cấu tổ chức xã hội, chống phá nhân dân.
Năm 1934, vụ sát hại vua Nam Tư và Bộ trưởng Ngoại giao Pháp ngay
trên lãnh thổ nước Pháp đã làm dấy lên làn sóng đấu tranh trên toàn thế giới
và theo đề nghị của Pháp, Hội quốc liên với vai trò gìn giữ hòa bình và an


10
niệm "khủng bố” (terrorism) ngay tại tiêu đề, đó là: Công ước New York năm
1997 về trừng trị khủng bố bằng bom (International convention for the
suppression of terrorist bombings); Công ước New York năm 1999 về trừng
trị việc tài trợ khủng bố (International convention for the suppression of the
financing of terrorism); Công ước New York năm 2005 về ngăn chặn các
hành vi khủng bố hạt nhân (International convention for the suppression of
acts of nuclear terrorism).
Trong ba công ước quốc tế nêu trên, Công ước New York năm 1999 về
trừng trị hành vi tài trợ khủng bố bên cạnh việc định nghĩa hành vi tài trợ
khủng bố đã gián tiếp quy định thế nào là khủng bố. Theo Công ước này thì
khủng bố là: i) "Bất kì hành vi nào cấu thành một tội phạm trong phạm vi và
được định nghĩa tại một trong số các điều ước về đấu tranh chống khủng bố
còn lại (được quy định tại phụ lục)” hoặc ii) "Bất kì hành vi nào khác với ý
định giết hại hoặc làm bị thương nghiêm trọng đến thân thể thường dân, hoặc
bất kì người nào khác không tham gia vào chiến sự trong bối cảnh xung đột
vũ trang, nếu mục đích của hành vi này về bản chất hoặc bối cảnh xảy ra là
nhằm hăm doạ dân chúng hay ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc
tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kì hành vi nào” (Điều 2). Tuy
nhiên, khó có thể coi quy định nêu ra tại Điều 2 Công ước New York năm
1999 là định nghĩa khủng bố hoàn chỉnh bởi: Thứ nhất, đây là định nghĩa gián
tiếp được đưa ra thông qua định nghĩa khác; Thứ hai, Khoản 1 Điều này
không nêu được dấu hiệu cấu thành tội khủng bố mà dẫn chiếu đến một số tội
phạm được quy định tại các công ước khác cho nên chỉ thuần tuý mang tính
chất liệt kê; Thứ ba, Khoản 2 có nêu được một số dấu hiệu của tội khủng bố
(về hành vi, khách thể, mục đích…) nhưng cũng chỉ đề cập thêm được các
hành vi xâm phạm tính mạng và sức khoẻ con người.
Trong khi đó, Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố
bằng bom và Công ước New York năm 2005 về ngăn chặn các hành vi khủng


12
vậy; Xét rằng việc đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết sẽ góp phần quan
trọng vào việc ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp đó”
Không chỉ các công ước quốc tế mà các Nghị quyết của Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc về các biện pháp phòng, chống khủng bố cũng không đưa ra
định nghĩa cụ thể nào về khủng bố. Ngay cả Nghị quyết số 1373 ngày
28/9/2001 làm cơ sở ra đời Uỷ ban chống khủng bố thuộc Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc mặc dù kêu gọi "các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng
và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực
hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố” cũng
không đưa ra định nghĩa cụ thể về khủng bố.
Hầu hết các điều ước quốc tế khu vực cũng không đưa ra được định
nghĩa khủng bố. Các điều ước này trong phạm vi hợp tác đấu tranh chống
khủng bố lại dẫn ra những hành vi được quy định tại các công ước quốc tế đa
phương của Liên hợp quốc. Ví dụ, Công ước của châu Âu về chống khủng bố
năm 1977 ngay tại Điều 1 đã đưa ra các hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh của
Công ước, yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hoá, đó là các hành
vi được nêu trong Công ước La Haye năm 1970 về trừng trị việc chiếm giữ
bất hợp pháp tàu bay; Công ước Montreal năm 1971 về việc trừng trị các hành
vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng; Công ước New York
năm 1973 về việc ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người
được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao. Thời gian kí kết
Công ước châu Âu năm 1977 thì Công ước về chống bắt cóc con tin năm
1979 hay Công ước trừng trị khủng bố bằng bom năm 1997 chưa ra đời, tuy
nhiên các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến bắt cóc, giam giữ trái phép, tội
phạm nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng bom, lựu đạn, rocket, súng tự
động, bom thư đã được liệt kê trong Công ước. Tiếp đó, vào tháng 11/2007
tại Cebu, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đã ký Công ước
chung về chống khủng bố (ASEAN Convention on Counter Terrorism). Điều



14
Mặc dù một số văn bản quốc tế nêu trên không định nghĩa khủng bố một
cách trực tiếp nhưng nhìn nhận một cách khách quan, chúng ta vẫn có thể xác định
được nội hàm của khái niệm khủng bố trong nhiều văn bản quốc tế khác nhau.
Theo Quyết định của Hội đồng chung của EU ngày 13/6/2002 về việc
chống chủ nghĩa khủng bố định nghĩa các tội khủng bố “với bản chất hoặc tuỳ bối
cảnh, có thể gây nguy hại nghiêm trọng đối với một quốc gia hoặc một tổ chức
quốc tế và tội đã phạm có mục đích: đe doạ nghiêm trọng người dân hoặc ép buộc
chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế thực hiện hoặc rút bỏ việc thực hiện một hành
động hoặc làm mất ổn định nghiêm trọng hoặc huỷ hoại cơ cấu xã hội, kinh tế, thể
chế và chính trị căn bản của một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế”.
Theo Công ước của Hội nghị các quốc gia Hồi giáo (Công ước OIC) thì
“Khủng bố là bất kỳ hành động bạo lực nào, hay sự đe doạ sử dụng bạo lực
được tiến hành kế hoạch phạm tội bởi một cá nhân hay một tập thể nhằm
khủng bố người dân hay đe doạ làm hại họ, hoặc gây nguy hiểm đến tính
mạng, danh dự của người dân, đến tài sản của cá nhân hay tập thể”.
Theo Công ước về đấu tranh chống khủng bố của tổ chức các quốc gia
châu Mỹ thì khủng bố có thể là các dạng tội phạm điển hình như giết người,
đốt cháy hoặc thiêu huỷ và sử dụng chất nổ hoặc thuốc nổ, nhưng khác với
các hành vi hình sự là khủng bố cố ý mang đến sự hoảng sợ, phá hoại và
những tên khủng bố thường nằm trong một tổ chức với mục đích phá kỉ
cương xã hội, làm tê liệt sức phản kháng của xã hội, làm tăng thêm sự đau
đớn cho xã hội [9].
Các cơ quan hữu quan của Liên hợp quốc nhận định:
Hoạt động khủng bố là hoạt động huỷ hoại nhân quyền, quyền dân
chủ và tự do cá nhân, uy hiếp sự an toàn và toàn vẹn lãnh thổ của
quốc gia, tạo sức ép lên quốc gia, phá vỡ văn minh xã hội, là hành
vi phạm tội với việc gây hậu quả bất lợi cho sự phát triển kinh tế -
xã hội [28].


16
hành động đó được thực hiện trong phạm vi nước Mỹ hoặc bất kỳ bang nào;
được thực hiện nhằm mục đích đe doạ hoặc cưỡng ép, khống chế một cộng
đồng dân cư; hoặc nhằm gây ảnh hưởng đến chính sách của một chính phủ
bằng sự cưỡng bức đe doạ; hoặc nhằm tác động đến sự điều hành của một
chính phủ thông qua việc sát hại hoặc bắt cóc; và xảy ra chủ yếu bên ngoài
lãnh thổ Hoa Kỳ kiểm soát, hoặc ở những vùng biên giới liên quốc gia, theo
những cách thức mà đã được hoàn tất, những người này có ý đồ đe doạ hoặc
cưỡng ép chính phủ, hoặc khu vực ở đó những kẻ phạm tội hoạt động hoặc
tìm cách xin tị nạn" (Điều 18, Bộ luật Hình sự Hoa Kỳ).
Như vậy, Hoa Kỳ đã xác định hoạt động khủng bố theo những dấu
hiệu: Hành vi (hành động bạo lực hoặc nguy hiểm với đời sống con người);
dấu hiệu mục đích (nhằm đe doạ hoặc cưỡng ép, khống chế một cộng đồng
dân cư; hoặc nhằm gây ảnh hưởng đến chính sách của một chính phủ bằng sự
cưỡng bức đe doạ; hoặc nhằm tác động đến sự điều hành của một chính phủ
thông qua việc sát hại hoặc bắt cóc).
b) Liên bang Nga
- Luật về chống khủng bố (ngày 25 tháng 7 năm 1998 số 130 - FZ) của
Liên bang Nga đã đưa ra khái niệm:
+ Chủ nghĩa khủng bố là việc sử dụng bạo lực hoặc đe doạ sử dụng bạo
lực đối với các cá nhân hoặc tổ chức, cũng như làm tổn hại hoặc đe doạ làm
tổn hại tài sản và các mục tiêu vật chất khác, tạo ra mối nguy hiểm chết
người, gây thiệt hại tài sản đáng kể hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng
khác đối với xã hội, được thực hiện nhằm gây rối loạn an toàn xã hội, làm cho
dân chúng khiếp sợ, hoặc tác động đối với việc thông qua các quyết định của
các cơ quan chính quyền có lợi cho bọn khủng bố, hoặc đáp ứng những lợi ích
tài sản phi pháp và (hoặc) những lợi ích khác; xâm hại đến cuộc sống của nhà
hoạt động quốc gia hoặc xã hội, được tiến hành nhằm mục đích chấm dứt hoạt
động quốc gia hoặc hoạt động chính trị của người đó hoặc trả thù do hoạt


18
(hình thức gây nổ, thiêu huỷ, sử dụng hoặc đe doạ sử dụng các thiết bị gây nổ
hạt nhân, các chất phóng xạ, hoá chất, sinh học, chất nổ, chất độc, gây độc,
các chất tác động mạnh, độc tố). Tuy nhiên, cách thức quy định mang tính
chất liệt kê này của Liên bang Nga dễ dẫn tới việc liệt kê không đầy đủ, quy
định của luật không theo kịp được những cách thức mới, phương thức khủng
bố hiện đại mới mà tội phạm khủng bố có thể tiến hành.
c) Liên hiệp Vương quốc Anh
- Luật Khủng bố năm 2000 của Liên hiệp Vương quốc Anh định nghĩa
như sau:
Khủng bố là việc sử dụng hoặc đe doạ hành động mà trong đó: (a) hành
động nằm trong phạm vi (2), (b) sử dụng hoặc đe doạ để gây ảnh hưởng tới
Chính phủ hoặc đe doạ dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng, (c) việc sử
dụng hoặc đe doạ được làm với mục đích đưa ra/thúc đẩy một mục tiêu chính
trị, tôn giáo hoặc tư tưởng.
(2) Hành động thuộc phạm vi này nếu như: (a) liên quan đến sử dụng
bạo lực chống lại một người, (b) liên quan đến sự huỷ hoại nghiêm trọng về
tài sản, (c) gây nguy hiểm tới cuộc sống của một người, trừ người hành động
nó, (d) tạo ra sự nguy hiểm nghiêm trọng tới sức khoẻ và sự an toàn của dân
chúng hoặc một bộ phận dân chúng.
Theo quan niệm về khủng bố trong Đạo luật chống khủng bố năm 2000
của Vương quốc Anh, việc sử dụng vũ khí hoặc chất nổ cũng được coi là
khủng bố dù có hay không có mục đích chính trị hay xã hội.
Như vậy, Anh quốc xác định khủng bố trên cơ sở những dấu hiệu:
Phạm vi tác động của hành vi; đối tượng chịu sự tác động (Chính phủ, dân
chúng); mục đích của hành vi (đưa ra/thúc đẩy một mục tiêu chính trị, tôn
giáo hoặc tư tưởng).
d) Australia
Theo quy định của Luật chống khủng bố của Australia:


20
nhân, bắt cóc, chiếm đoạt tài sản cũng như làm đổi hướng các thiết bị tàu
bay, tàu thuỷ hay bất cứ phương tiện giao thông nào; các vụ trộm, cưỡng
đoạt máy móc, phá huỷ, huỷ hoại và làm hư hỏng cũng như các hành vi vi
phạm trong lĩnh vực tin học; việc sản xuất, tàng trữ các dụng cụ, máy móc,
thiết bị giết người hoặc chất nổ được xác định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự
Cộng hoà Pháp”.
Theo Bộ luật Hình sự Cộng hoà Pháp, khủng bố được xác định trên cơ
sở những dấu hiệu về: chủ thể (cá nhân hoặc tập thể); dấu hiệu hành vi (đe
doạ hoặc gieo rắc nỗi khiếp sợ trong nhân dân); dấu hiệu mục đích (làm rối
loạn nghiêm trọng trật tự công cộng). Bên cạnh đó, Pháp cũng đã liệt kê các
hành vi mang tính chất khủng bố. Cách quy định này có ưu điểm là rõ ràng,
cụ thể, dễ áp dụng để trừng trị các hành vi khủng bố tuy nhiên quy định theo
phương thức liệt kê sẽ dẫn tới việc liệt kê không đầy đủ.
Qua tìm hiểu về các quy định pháp luật của một số quốc gia về khủng
bố nêu trên, có thể thấy rằng, mỗi quốc gia có phương thức quy định khác
nhau, quy định cụ thể mang tính liệt kê hoặc quy định chung mang tính định
hướng. Bên cạnh đó, các quốc gia đều đưa ra quy định xác định một số dấu
hiệu cơ bản nhận biết hoạt động khủng bố. Tuy nhiên, những dấu hiệu này
theo pháp luật của các nước khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định.
1.1.1.3. Khái niệm khủng bố ở Việt Nam
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam do Nxb Công an
nhân dân xuất bản năm 2000 thì:
“Khủng bố là hành động dùng bạo lực của cá nhân, của một tổ chức,
một nhà nước hoặc liên minh nhà nước để đe doạ, cưỡng bức đối phương,
khiến họ vì khiếp sợ mà phải chịu khuất phục. Các hình thức khủng bố thường
là bắt cóc, ám sát, đánh bom ”.
“Khủng bố quốc tế là khủng bố nhằm vào cá nhân, tổ chức hoặc mục
tiêu được pháp luật quốc tế bảo vệ: giết người đứng đầu nhà nước, Chính

hoặc tử hình.

Trích đoạn Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra các tội phạm liên quan đến tội khủng bố Các quy định pháp luật khác về phòng, chống khủng bố Thực tiễn thi hành pháp luật về phòng, chống khủng bố Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố ở Việt Nam hiện nay Quan điểm, định hướng hoàn thiện pháp luật về phòng, chống khủng bố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status