Dẫn độ tội phạm trong luật quốc tế và liên hệ thực tiễn việt nam - Pdf 10

Dẫn độ tội phạm trong Luật quốc tế và liên hệ
thực tiễn Việt Nam Hà Thanh Hòa Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: TS. Lê Văn Bính
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Trình bày về khái niệm, định nghĩa, đặc điểm và các nguyên tắc của dẫn
độ tội phạm. Nghiên cứu quy định của pháp luật quốc tế về dẫn độ tội phạm: Các
quy định trong một số điều ước quốc tế đa phương toàn cầu về dẫn độ tội phạm (về
nghĩa vụ dẫn độ tội phạm, về đối tượng của hoạt động dẫn độ tội phạm… ); một số
điều ước song phương về dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia; quy định về dẫn độ
trong pháp luật một số quốc gia; hoạt động dẫn độ thông qua vai trò của tổ chức
cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol). Phân tích thực trạng hợp tác quốc tế về dẫn độ
tội phạm ở Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về vấn đề này qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác về dẫn độ tội phạm giữa
Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Keywords. Luật Quốc tế; Tội phạm; Luật hình sự; Pháp luật Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển không ngừng của cộng đồng quốc tế trên mọi lĩnh vực đã mang lại thuận lợi
cho các quốc gia trong quá trình phát triển của mình. Mặt trái của quá trình phát triển này

tài có nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng hợp tác quốc tế về dẫn độ tội phạm ở Việt Nam và kiến
nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này qua đó góp phần nâng cao
hiệu quả hợp tác về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp
lý xung quanh nội dung về hợp tác dẫn độ tội phạm với nguồn chủ yếu là các điều ước quốc tế
về dẫn độ tội phạm và các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
Đề tài nghiên cứu về hợp tác dẫn độ tội phạm trên cơ sở tìm hiểu các điều ước quốc tế đa
phương, song phương và pháp luật của một số quốc gia về dẫn độ tội phạm. Trong việc
nghiên cứu cơ sở pháp lý đa phương và song phương về dẫn độ tội phạm, đề tài chỉ nghiên
cứu một số điều ước quốc tế đa phương và ở những khu vực và những quan hệ hợp tác song
phương mang tính điển hình.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so
sánh, liệt kê, tổng hợp dựa trên nền tảng là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử
và phép biện chứng duy vật để làm rõ đối tượng nghiên cứu đã đặt ra.
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản của pháp luật quốc tế
về dẫn độ tội phạm;
- Luận văn hệ thống và làm rõ các vấn đề pháp lý của pháp luật Việt Nam về dẫn đô tội phạm;
- Luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về dẫn độ tội phạm.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết
cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về dẫn độ tội phạm
Chương 2: Các quy định của pháp luật quốc tế về dẫn độ tội phạm.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp cho hoạt động dẫn độ ở Việt Nam./.

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của các quy định về dẫn độ tội phạm

thể cơ bản và chủ yếu của Luật quốc tế, đồng thời cũng chính là chủ thể tham gia vào hoạt
động dẫn độ tội phạm. Trong hoạt động dẫn độ tội phạm sẽ có chủ thể là quốc gia yêu cầu và
quốc gia được yêu cầu. Quốc gia yêu cầu là quốc gia là quyền và lợi ích bị cá nhân tiến hành
hành vi xâm hại một cách trực tiếp, quốc gia được yêu cầu là quốc gia nơi cá nhân này đang
hiện diện. Quốc gia yêu cầu sẽ đưa ra yêu cầu dẫn độ khi phát hiện ra cá nhân đó đang ở trên
lãnh thổ của quốc gia yêu cầu (trên cơ sở sự thoả thuận), quốc gia được yêu cầu căn cứ vào
pháp luật quốc gia và quy định của Luật quốc tế để chấp nhận hoặc từ chối yêu cầu dẫn độ
đó.
Về cơ sở pháp lý của hoạt động dẫn độ: Các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia
hữu quan chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ. Vì việc tiến hành dẫn độ tội phạm là
quyền của quốc gia trong quan hệ quốc tế trên cơ sở chủ quyền quốc gia, hoạt động này sẽ
chỉ trở thành nghĩa vụ mà quốc gia phải thực hiện trên cơ sở các điều ước quốc tế được ký kết
với các quốc gia khác.
Về nguồn của hoạt động dẫn độ tội phạm: Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, luật quốc gia
chính là nguồn của hoạt động dẫn độ tội phạm.
Điều ước quốc tế điều chỉnh hoạt động dẫn độ tội phạm gồm điều ước quốc tế đa phương
toàn cầu hoặc khu vực (Công ước châu Âu về dẫn độ năm 1957, Hiệp định mẫu về dẫn độ
của Liên hợp quốc năm 1990, Hiệp ước dẫn độ giữa các quốc gia thành viên Cộng đồng Kinh
tế Tây Phi năm 1994 ); Các điều ước quốc tế song phương (Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa
Hoa Kỳ và Pháp năm 1996, Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc
năm 2003 )
Tập quán quốc tế có thể kể đến như: nguyên tắc không dẫn độ công dân nước mình, nguyên
tắc có đi có lại
Luật quốc gia bao gồm các văn bản pháp lý quốc gia điều chỉnh hoạt động hợp tác về dẫn độ
tội phạm (thẩm quyền, trình tự, thủ tục ) của chính quốc gia trong quan hệ với quốc gia khác
như: Luật dẫn độ năm 1999 của Canada, Đạo luật dẫn độ của Trung Quốc năm 2000…)
Về đối tượng dẫn độ: Đối tượng chính của hoạt động dẫn độ là các tội phạm mà cá nhân thực
hiện trên lãnh thổ của quốc gia mình và đang hiện diện trên lãnh thổ của quốc gia khác. Khoa
học Luật Hình sự quốc tế ghi nhận 3 hình loại: tội phạm quốc tế, tội phạm có tính chất quốc
tế, tội phạm hình sự chung. Trên thực tế, hoạt động dẫn độ tội phạm chủ yếu được thực hiện

hành của pháp luật cả hai quốc gia (quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu dẫn độ), đồng
thời hành vi phạm tội phải được định án ở mức trừng phạt cụ thể theo ý chí của các quốc gia
hữu quan và được ghi nhận trong pháp luật nước mình, hoặc được các nước này thoả thuận
nhất trí và được quy định trong các điều ước quốc tế giữa các quốc gia hữu quan.
1.4. Các trường hợp không dẫn độ tội phạm
1.4.1. Không dẫn độ nếu cá nhân bị dẫn độ sẽ bị kết án đối với tội phạm khác
Theo đó, cá nhân được yêu cầu dẫn độ sẽ chỉ bị truy tố và xét xử đối với hành vi phạm tội
trên cơ sở định danh tội phạm được áp dụng tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội đó, hành vi
này đã được cung cấp như là cam kết để được dẫn độ của quốc gia yêu cầu. Quốc gia được
yêu cầu hoàn toàn có thể từ chối dẫn độ tội phạm nếu quốc gia yêu cầu tiến hành xét xử đối
với tội phạm khác mà cá nhân đó đã thực hiện trong quá khứ (không nằm trong yêu cầu dẫn
độ).
1.4.2. Không dẫn độ trong trường hợp cá nhân sẽ bị kết án tử hình
Trong quan hệ hợp tác dẫn độ tội phạm, các quốc gia có thể đưa ra thoả thuận về trường hợp
quốc gia được yêu cầu sẽ từ chối dẫn độ nếu như cá nhân được dẫn độ sẽ bị kết án tử hình đối
với hành vi vi phạm của mình tại quốc gia yêu cầu hoặc quốc gia đó sẽ chấp nhận dẫn độ nếu
nhận được sự cam kết của quốc gia yêu cầu rằng cá nhân đó sẽ không bị lĩnh án tử hình.
1.4.3. Một số trường hợp khác
Một số trường hợp không dẫn độ tội phạm khác bao gồm: Không dẫn độ trong trường hợp cá
nhân bị xét xử về cùng một tội; Không dẫn độ nếu hành vi phạm tội của cá nhân được thực
hiện ở quốc gia này mà quốc gia khác lại đưa ra yêu cầu dẫn độ; Cá nhân không bị dẫn độ
nếu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã chấm dứt; Cá nhân sẽ không bị dẫn độ nếu các
hành vi phạm tội được ghi nhận trong đề nghị dẫn độ thuộc sự điều chỉnh đặc biệt của quốc
gia được yêu cầu; Một số trường hợp từ chối dẫn độ khi cân nhắc các vấn đề nhân đạo đối với
cá nhân bị dẫn độ.

Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ DẪN ĐỘ TỘI PHẠM
2.1. Các quy định trong một số điều ước quốc tế đa phương về dẫn độ tội phạm
Các quy định về dẫn độ tội phạm nằm trong các điều ước đa phương đa phương khu vực và

2.1.4. Về thủ tục dẫn độ tội phạm
Mỗi quốc gia khi tham gia quan hệ quốc gia lại viện dẫn các quy định về trình tự, thủ tục
trong các văn bản pháp luật của quốc gia và việc đáp ứng riêng rẽ như vậy sẽ gây rất nhiều
khó khăn cho các quốc gia khác trong việc đưa ra yêu cầu dẫn độ. Các điều ước quốc tế đa
phương về dẫn độ tội phạm chính là giải pháp hiệu quả cho những khó khăn này. Hầu hết các
điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm hoặc có quy định về dẫn độ tội phạm đều đưa ra các yêu
cầu bao gồm: Mô tả về cá nhân bị yêu cầu dẫn độ, quốc tịch và các thông tin về nhân thân
(nhận dạng, lai lịch ); các văn bản quy định của pháp luật quốc gia yêu cầu về tội danh,
khung hình phạt đối với tội phạm đó; lệnh bắt giữ; bản mô tả hành vi phạm tội, chứng cứ…
Các thông tin này có thể được bổ sung nếu quốc gia được yêu cầu cho rằng còn thiếu và được
chuyển thông qua con đường ngoại giao, có điều ước quốc tế thì yêu cầu chuyển qua con
đường khác (chuyển fax )
2.1.5. Một số quy định khác
Các quy định khác ở đây bao gồm: quy định về quá cảnh, quy định về chi phí dẫn độ trong
một số các điều ước đa phương.
2.2. Một số điều ước song phương về dẫn độ tội phạm
Trong các loại điều ước quốc tế, các điều ước quốc tế song phương luôn tỏ rõ vai trò điều
chỉnh cụ thể, chi tiết các quyền và nghĩa vụ giữa hai bên ký kết. Đồng thời thể hiện được vị
trí của các bên ký kết so với vai trò của họ tại các điều ước quốc tế đa phương. Một số điều
ước quốc tế được tìm hiểu trong chương này là: Hiệp ước dẫn độ giữa Hoa Kỳ và Liên minh
châu Âu năm 2003, Hiệp ước dẫn độ giữa Trung Quốc và Tây Ban Nha năm 2006.
2.2.1. Hiệp ước dẫn độ giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu năm 2003
Hiệp ước dẫn độ giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) ký năm 2003, có hiệu lực vào năm
2010 được đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quan hệ giữa các bên liên quan đến
hoạt động hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Nội dung cơ bản của Hiệp ước bao gồm
các quy định liên quan đến: Phạm vi áp dụng của Hiệp ước (những vấn đề nào sẽ áp dụng
điều ước song phương giữa Hoa Kỳ và quốc gia thành viên, những vấn đề nào sẽ áp dụng các
quy định trong Hiệp ước về dẫn độ giữa Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ); Đối tượng dẫn độ;
Thủ tục yêu cầu dẫn độ (được xây dựng trên cơ sở các điều ước song phương giữa các thành
viên EU với Hoa Kỳ)

viên giám sắt văn phòng công tố cấp cao Tokyo sẽ giao nộp cá nhân bị yêu cầu dẫn độ trong
trường hợp đồng ý dẫn độ. Trường hợp quyết định không dẫn độ, Bộ trưởng Tư pháp sẽ
thông báo và yêu cầu Công tố viên giám sắt Văn phòng Công tố cấp cao Tokyo thả cá nhân bị
yêu cầu dẫn độ.
2.3.3. Luật dẫn độ năm 2000 của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Luật dẫn độ năm 2000 của Trung Quốc gồm 4 chương với 55 điều. quy định cụ thể về điều
kiện dẫn độ, thủ tục của yêu cầu dẫn độ, hoãn dẫn độ, quá cảnh
Về căn cứ từ chối dẫn độ: Luật dẫn độ Trung Quốc quy định 8 trường hợp từ chối dẫn độ
Về thủ tục của yêu cầu dẫn độ: Quy định về một yêu cầu dẫn độ nằm trong Điều 11 và 12 của
Luật dẫn độ năm 2000 của Trung Quốc. Yêu cầu dẫn độ phải được lập bằng văn bản kèm
theo bản dịch sang tiếng Trung Quốc, yêu cầu phải được đóng dấu của cơ quan có thẩm
quyền của quốc gia yêu cầu
Về thẩm quyền dẫn độ: Bộ Ngoại giao có trách nhiệm kiểm tra tình hợp pháp của yêu cầu dẫn
độ, Toà án nhân dân cấp Tỉnh có trách nhiệm xem xét sự phù hợp của yêu cầu dẫn độ.
Nhìn chung các quy định trong pháp luật của một số quốc gia về dẫn độ đã đáp ứng được các
quy định của Luật quốc tế (các điều ước quốc tế song phương và đa phương, các tập quán
quốc tế ). Các quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia về dẫn độ tập trung vào các vấn đề
cơ bản như: các nguyên tắc hợp tác dẫn độ tội phạm; các căn cứ từ chối dẫn độ tội phạm; các
thủ tục liên quan đến yêu cầu dẫn độ, quá cảnh, chi phí dẫn độ Trong các quy định được đưa
ra, vấn đề khác nhau lớn nhất chủ yếu liên quan đến thẩm quyền và trình tự trong việc từ chối
hoặc đáp ứng yêu cầu dẫn độ, các quốc gia quy định thẩm quyền tiếp nhận yêu cầu dẫn độ
thuộc về các cơ quan khác nhau (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an ). Tuy nhiên, các
cơ quan kể trên đều là các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng tố tụng hoặc ngoại
giao. Hầu hết các quốc gia đều công nhận thẩm quyền xem xét và ra quyết định dẫn độ cho
toà án nhân dân câp tỉnh hoặc viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.
2.4. Hoạt động dẫn độ thông qua vai trò của Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế
(INTERPOL)
Được thành lập trên cơ sở Uỷ ban Cảnh sát Hình sự quốc tế (1923), với 190 quốc gia thành
viên hiện nay, INTERPOL được coi là tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu lớn thứ hai sau
Liên hợp quốc về số lượng thành viên tham gia. Với 5 cơ quan chính cùng chức năng, nhiệm

cần thiết; Quy định bắt khẩn cấp; Quy định dẫn độ đơn giản; Quy định về giải quyết các
trường hợp đặc biệt trong dẫn độ (nhiều yêu cầu dẫn độ đối với một cá nhân, hoãn thi hành
quyết định dẫn độ, dẫn độ lại, quá cảnh); Quy định về chi phí dẫn độ tội phạm.
Những quy định về dẫn độ tội phạm trong các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và một số
quốc gia nêu trên đã thể hiện được sự tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế về
dẫn độ tội phạm (về nguyên tắc dẫn độ tội phạm, các trường hợp từ chối dẫn độ, trình tự, thủ
tục dẫn độ tội phạm ). Phù hợp với điều kiện của các quốc gia về chế độ kinh tế, chính trị và
hệ thống pháp luật, Việt Nam và các quốc gia này đã xây dựng các điều khoản phù hợp nhằm
đạt được hiệu quả tốt nhất trong hợp tác dẫn độ tội phạm.
Tuy nhiên, hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia vẫn còn
một số tồn tại cần khắc phục là
Một là: số lượng các điều ước song phương được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia khác có
liên quan trực tiếp đến dẫn độ tội phạm còn rất hạn chế. Hợp tác song phương về dẫn độ tội phạm
giữa Việt Nam và các quốc gia chủ yếu vẫn dựa trên các hiệp định tương trợ tư pháp mà ít các
hiệp định riêng về dẫn độ tội phạm
Hai là: phạm vi hợp tác song phương còn hẹp.
3.2. Một số quy định của pháp luật Việt Nam về dẫn độ
3.2.1. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003
Bộ luật Tố tụng Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua ngày
26/11/2003. Toàn bộ nội dung của Bộ luật Tố Tụng Hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối
quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; những người tham gia tố tụng, của các cơ quan,
tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn
chặn tội phạm…
Văn bản này quy định về vấn đề dẫn độ trong Điều 343 và 344 với các vấn đề về thẩm
quyền tiến hành các hoạt động hợp tác dẫn độ và các trường hợp từ chối dẫn độ.
Về thẩm quyền tiến hành hoạt động hợp tác dẫn độ: Các cơ quan có thẩm quyền về tố tụng
của Việt Nam (các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Toà án nhân dân các
cấp) sẽ là chủ thể đại diện cho Việt Nam đưa ra các yêu cầu về dẫn độ trên cơ sở điều ước
quốc tế và tập quán quốc tế khi tiến hành các hoạt động hợp tác dẫn độ (Điều 343)

Ba là, hiệu lực của Luật Tương trợ Tư pháp 2007 chưa được phát huy một cách hiệu quả, các
hoạt động bắt giữ, giao và tiếp nhận các đối tượng phạm tội chủ yếu được thực hiện thông
qua INTERPOL và ASEANPOL.
3.3. Thực tiễn dẫn độ tại Việt Nam
3.3.1. Một số hoạt động dẫn độ thực hiện tại Việt Nam
Các hoạt động dẫn độ được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam mà đặc
biệt là sự đóng góp của Văn phòng INTERPOL Việt Nam đã khẳng định được vai trò quan
trọng của Việt Nam trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm qua các vụ việc điểm
hình như: vụ việc lực lượng an ninh Việt Nam phối hợp với phía Trung Quốc dẫn độ nguyên
đại tá Lê Quốc Thuỵ về nước để xét xử, các vụ việc tại Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh
3.3.2. Một số khó khăn khi thực hiện hoạt động dẫn độ tại Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam chưa có được một văn bản riêng quy định về dẫn độ mà các quy định về
dẫn độ chỉ nằm trong các văn bản luật khác (Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Luật Tương trợ
Tư pháp 2007);
Thứ hai, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tương trợ Tư pháp còn chậm;
Thứ ba, nhiều Hiệp định được ký kết trước khi Luật Tương trợ Tư pháp 2007 được ban hành
đã thể hiện sự không phù hợp với quy định của Luật Tương trợ Tư pháp 2007 nhưng chưa thể
đàm phán sửa đổi;
Thứ tư, chế độ, chính sách, kinh phí, trang thiết bị cho các hoạt động về tương trợ tư pháp nói
chung và về dẫn độ nói riêng còn rất hạn hẹp;
Thứ năm, đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động dẫn độ tội phạm còn hạn chế về số lượng và
khả năng làm việc;
3.3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dẫn độ tại Việt Nam
Giải pháp đối với các văn bản pháp lý:
Thứ nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, lấy ý kiến và đưa ra các văn bản hướng
dẫn cụ thể để bổ sung một số vấn đề còn thiếu trong Luật Tương trợ Tư pháp 2007;
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế trong lĩnh vực đấu
tranh phòng chống tội phạm, mà cụ thể là dẫn độ tội phạm;
Một số giải pháp khác:
Một là, giải pháp liên quan đến nhân lực;
References
I. TIẾNG VIỆT
1. Nguyễn Ngọc Anh (2000), “Hoạt động dẫn độ tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư
pháp giữa Việt Nam với các nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (05), tr. 16 – 18, 27.
2. Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Việt Hồng, Phạm Văn Công (2006), Dẫn độ - những vấn
đề lý luận và thực tiễn, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
3. Nguyễn Ngọc Anh (2008), “Hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí toà án nhân dân. Toà án nhân dân tối cao, (02), tr 16 - 21.
4. Nguyễn Ngọc Anh (2008), “Nội dung cơ bản của Luật tương trợ tư pháp”, Toà án
nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, (03), tr. 19 - 21.
5. Nguyễn Ngọc Anh (2010), Pháp luật Việt Nam và quốc tế về hoạt động tương trợ tư
pháp hình sự và dẫn độ. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tài liệu tập huấn công tác
phòng chống tội phạm qua kênh hợp tác INTERPOL ngày 25 – 27/04/2012, TP. Hồ Chí
Minh.
6. Nguyễn Ngọc Anh (2012), Một số vấn đề cơ bản trong công tác đối ngoại và hợp tác
quốc tế của Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, Tài liệu tập huấn công tác phòng
chống tội phạm qua kênh hợp tác INTERPOL ngày 25 – 27/04/2012, TP. Hồ Chí Minh.
7. Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003.
8. Chử Văn Dũng (2010), Hoạt động INTERPOL trong thực hiện tương trợ tư pháp
hình sự và dẫn độ tội phạm ở Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
9. Gardoski (1986), Luật hình sự quốc tế, NXB Tri thức Vacsava, Matxcova.
10. Nguyễn Trường Giang (2008), Những phát triển của luật pháp quốc tế thế kỷ XXI,
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Đào Thị Hà (2006), Vấn đề dẫn độ trong pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
12. Nguyễn Việt Hồng (2006), Dẫn độ - Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.
13. Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005.

Tòa án hình sự quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội.
28. Trường Đại học MGIMO (2000). Giáo trình Luật quốc tế. NXB Quan hệ quốc tế,
Matxcova.
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật quốc tế, NXB CAND, Hà Nội.
30. Dương Thanh Tú (2004), Dẫn độ tội phạm theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam, Công trình nghiên cứu khoa học sinh viên lần thứ IX niên học 2003 – 2004, TP. Hồ
Chí Minh.
31. Viện Ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
32. Lại Hợp Việt (2008), Hoàn thiện các quy định về hợp tác quốc tế trong Bộ luật tố
tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao. (18 – 20), tr. 66 – 70.
33. Nguyễn Xuân Yêm (2000), Dẫn độ tội phạm, tương trợ pháp lý về hình sự và chuyển
giao phạm nhân quốc tế trong phòng chống tội phạm, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
34. Nguyễn Xuân Yên (2000), Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong đấu
tranh phòng chống tội phạm ở Việt Nam, Tập san toà án, (01), tr. 15 – 18.
35. www. antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=51147
36. www.baodatviet.vn/Home/phapluat/Dan-do-hai-toi-pham nguoi-Han-
Quoc/20109/113662.datviet
37. www.canhsat.vn/tabid/64/ID/651/INTERPOL-Viet-Nam Hai-muoi-nam-thanh-lap-
va-truong-thanh.aspx
38.
www.dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1EB6aWQ9ODkwMSZnc
m91cGlkPSZraW5kPSZrZXl3b3JkPXRyJWUxJWJiJWE1Yyt4dSVlMSViYSVhNXQ=
&page=1
39. www.gov.cn/misc/2006-04/29/content_269815.htm
40. www.khoahoc.baodatviet.vn/Home/phapluat/Vi-sao-toi-pham-kinh-te-thich-tron-
sang Canada/20119/167750.datviet
41. www.thanhnien.com.vn/pages/20111028/INTERPOL-viet-nam-pha-an.aspx
42. www. tintuc.vnn.vn/vdco/phap_luat/270974/dan-do-toi-pham-bi-nguyen-tong-bi-thu-
de-nghi-truy-bat.html

56. www.conventions.coe.int
57. www.dictionary.cambridge.org/dictionary/british/extradite
58. www.euro.dantri.com.vn/c36/s36-180313/nga-anh-lanh-nhat-vi-vu-dau-doc-cuu-
diep-vien-kgb.htm
59. www.europa.eu/legislation_summaries/other/l33131_en.htm
60. www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/vai-tro-chuc-nang-cua-bo-tu-phap-lien-
bang-thuy-sy-trong-viec-tham-gia-ky-ket-gia-nhap-va-thuc-hien-cac-111ieu-uoc-quoc-te-
ve-hop-tac-phap-luat-va-tu-phap
61. www.oll.libertyfund.org/index.php?Itemid=264&id=862&option=com_content&task
=view.
62. www.oxforddictionaries.com/definition/extradition
63. www.touregypt.net/featurestories/treaty.htm
64. www.unhcr.org/refworld/type,LEGISLATION,,MDA,3ae6b516c,0.html
65. www.unodc.org/pdf/model_law_extradition.pdf.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status