VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Hồ Phương Vinh
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÔNG
CHỨNG VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2020
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Hồ Phương Vinh
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÔNG
CHỨNG VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
1.1.3. Bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng
viên trong hoạt động công chứng......................................................................... 22
1.2. Chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại của công chứng viên trong hoạt
động công chứng .................................................................................................. 29
1.2.1. Chủ thể gây thiệt hại .................................................................................. 29
1.2.2. Chủ thể bị thiệt hại ..................................................................................... 31
1.3. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên
trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam ........................................ 32
1.3.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm thường thiệt hại ngoài hợp đồng ........... 32
1.3.1.1. Có thiệt hại xảy ra ................................................................................... 32
1.3.1.2. Có hành vi trái pháp luật ......................................................................... 34
1.3.1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
.............................................................................................................................. 37
1.3.1.4. Có lỗi của bên gây thiệt hại ..................................................................... 37
1.3.2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng ....... 40
1.3.2.1 Có hành vi vi phạm hợp đồng .................................................................. 40
1.3.2.2. Có thiệt hại xảy ra ................................................................................... 41
1.3.2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy
ra ........................................................................................................................... 42
1.3.2.4. Có lỗi của bên gây thiệt hại ..................................................................... 43
1.4. Các biện pháp bảo đảm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên ...... 44
1.5. Vấn đề trách nhiệm hoàn trả của công chứng viên. ...................................... 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................... 49
4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÔNG CHỨNG VIÊN TRONG HOẠT
ĐỘNG CÔNG CHỨNG TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 98
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
BLDS
Bộ luật dân sự
BLLĐ
Bộ Luật Lao động
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
BTTH
Bồi thường thiệt hại
CCV
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khắc phục những bất cập của Luật Công chứng (LCC) năm 2006, ngày
20/6/2014 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XIII đã thông qua LCC năm 2014 có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, trong đó quy định chi tiết và cụ thể hơn về
bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng, cụ thể là “ Tổ chức hành nghề
công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân,
tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là
cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng. Công chứng
viên, nhân viên hoặc người phiên dịch gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền
cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị
thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không chi trả thì tổ chức hành
nghề công chứng có quyền yêu cầu toà án giải quyết” (Điều 38). Tuy luật Công
chứng năm 2014 đã bổ sung những thiếu sót về bồi thường thiệt hại nhưng vấn
đề “trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên trong hoạt động công
chứng theo pháp luật Việt Nam” vẫn còn nhiều tồn tại, nhiều vấn đề đặt ra cần
phải giải quyết như sau:
Thứ nhất, Điều 3 LCC năm 2014 quy định “công chứng viên cung cấp dịch
vụ công do Nhà nước uỷ nhiệm”, vậy có tồn tại một hợp đồng giữa người cung
cấp dịch vụ và người hưởng dịch vụ hay không? Khi công chứng viên gây thiệt
hại thì phải bồi thường theo chế định nào? Bồi thường thiệt hại theo hợp đồng
hay ngoài hợp đồng?
Thứ hai, khi nào công chứng viên phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra
trong hoạt động công chứng? Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của công chứng viên trong hoạt động công chứng bao gồm những điều kiện
nào? Thực tiễn áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra
tiền được bảo hiểm, hoặc khi công chứng viên không còn làm việc cho tổ chức
hành nghề công chứng nữa thì trách nhiệm bồi thường, hoàn trả như thế nào?
Đặc biệt hiện nay tình hình công chứng viên phải bồi thường thiệt hại xảy
ra ngày càng nhiều với những bất cập mà theo phản ánh của nhiều cá nhân, tổ
chức, báo chí: “Bất cập án tuyên công chứng viên bồi thường [28]”; “Với công
chứng viên, lẽ nào một là tiền, hai là tù” [37]… Dẫu với tư cách nào thì công
chứng viên cũng thường bị công an, viện kiểm sát, tòa án cho là đã vi phạm các
điều luật của Luật Công chứng. Cụ thể là điều luật về việc công chứng viên soạn
thảo hợp đồng và công chứng ngoài trụ sở. Hay phổ biến hơn là các điều luật về
9
việc kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ; về việc đề nghị người yêu cầu công chứng làm
rõ hoặc tiến hành xác minh, yêu cầu giám định theo đề nghị của người yêu cầu
công chứng … Theo đó, có trường hợp thì tòa xử buộc bị cáo và tổ chức hành
nghề công chứng của công chứng viên ấy liên đới bồi thường thiệt hại cho người
bị hại. Có trường hợp thì tòa chỉ buộc bị cáo bồi thường nhưng lại kèm theo câu
thòng là nếu bị cáo không có tiền đền thì tổ chức hành nghề công chứng ấy phải
đền thay. Riêng trong trường hợp công chứng viên bị xử tội (đã có hai tội được
áp dụng là tội lợi dụng chức vụ trong khi thi hành công vụ và tội thiếu trách
nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng) thì tòa không yêu cầu công chứng viên phải
chịu trách nhiệm dân sự. Điều đáng nói là chỉ có các công chứng viên là bị cáo
mới được các tòa xác định rõ hành vi vi phạm chiếu theo chức trách của công
chứng viên. Theo BLDS, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được
dựa trên bốn yếu tố là: Có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại là hành vi trái
pháp luật hoặc vi phạm hợp đồng; có lỗi của người gây thiệt hại; có mối liên hệ
nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật hoăc vi phạm hợp đồng. Đối với
người phạm tội lừa đảo…, do có đủ bốn yếu tố này nên việc buộc bị cáo phải có
nghĩa vụ bồi thường là điều đương nhiên. Thế nhưng đối với nhiều công chứng
pháp luật về vấn đề bồi thường thiệt hại của công chứng viên, tổ chức hành nghề
công chứng.
- Đỗ Văn Đại (2014) “Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam
bản án và bình luận bản án”, tập 1và 2, Nxb.Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh,
TP Hồ Chí Minh,. Thông qua việc phân tích các bản án tác giả đã chỉ ra những
khó khăn, vướng mắc khi giải quyết bồi thường thiệt hại do người làm công gây
ra, do người của pháp nhân gây ra, do công chứng viên gây ra. Tác giả đã phân
tích các khía cạnh pháp lý, có đối chiếu so sánh với pháp luật nước ngoài về cùng
một vấn đề để làm sáng tỏ sự thuyết phục hay không thuyết phục khi áp dụng
pháp luật ở Việt Nam. Đặc biệt tác giả đã đi sâu phân tích trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do công chứng viên gây ra.
- Nguyễn Minh Đoan (chủ biên) (2014) “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan
Nhà nước ở Việt Nam”, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã phân tích
thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công
chức, viên chức, cơ quan Nhà nước. Tác giả đã đi phân tích sâu mối quan hệ giữa
cơ quan, đơn vị của cán bộ, công chức, viên chức gây thiệt hại khi thi hành công
vụ với người bị thiệt hại, và mối quan hệ giữa cơ quan, tổ chức với cán bộ, công
chức, viên chức có lỗi gây thiệt hại cho người khác trong khi thi hành công vụ.
11
- Hoàng Văn Hữu (2014) “Trách nhiệm bồi thường do công chứng viên
gây ra trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ,
Đại học Luật Hà Nội. Tác giả có những phân tích, luận giả về trách nhiệm bồi
thường do công chứng viên gây ra trong hoạt động công chứng trên cơ sở theo
quy định LCC năm 2006, BLDS năm 2005. Tuy nhiên, tác giả đã chưa đi sâu
phân tích thực tiễn, bình luận những bản án cụ thể đã xét xử để xác định những
bất cập trong quy định cũng như việc áp dụng pháp luật trong xét xử. Mặc khác,
công chứng.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của công chứng viên trong hoạt động công chứng theo pháp luật
Việt nam. Nghiên cứu xác định bản chất pháp lý của vấn đề trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của công chứng viên có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại
theo hợp đồng và cũng có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Hai là, nghiên cứu các quy định pháp luật về trách nhiệm của công chứng
viên trong việc thực hiện chức trách công chứng, các điều kiện phát sinh trách
nhiệm bồi thường của công chứng viên, đối chiếu so sánh giữa quy định của
pháp luật và thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua bình luận các bản
án của Tòa án nhân dân các cấp tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa các kiến
nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề đề tài nghiên cứu.
Ba là, nghiên cứu về nghĩa vụ “hoàn trả” của từng loại công chứng viên
đối với tổ chức hành nghề công chứng tương ứng khi tổ chức hành nghề công
chứng đã thực hiện việc bồi thường thiệt hại do lỗi của công chứng viên gây ra
trong hoạt động công chứng.
Bốn là, nghiên cứu về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng
viên và các cơ chế khác có thể đảm bảo trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng
viên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quan hệ pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
công chứng viên trong hoạt động công chứng theo pháp luật Việt Nam, những
quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của công chứng viên trong hoạt động công chứng tại thành phố Hồ Chí
Minh.
Phạm vi nghiên cứu
13
Đề tài đưa ra luận cứ khoa học để xác định bản chất pháp lý của vấn đề
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên trong hoạt động công
chứng là có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và có thể là
14
trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, tùy thuộc vào nguồn gốc (cơ sở)
phát sinh thiệt hại. Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt
hại, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên
trong hoạt động công chứng. Từ đó giúp nắm bắt và hiểu được các quy định của
pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên trong hoạt
động công chứng một cách hệ thống. Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật của
cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
của công chứng viên trong hoạt động công chứng. Thông qua việc đặt câu hỏi
nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Tác giả đưa ra các luận cứ khoa học
và đề xuất hoàn thiện pháp luật trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. Xây dựng
hệ thống lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công chứng viên trong
hoạt động công chứng theo pháp luật Việt nam.
Là một công chứng viên đang hành nghề, đề tài này có ý nghĩa ứng dụng rất
cao trong thực tiễn, trong công việc chuyên môn công chứng của tác giả và các
đồng nghiệp, giúp tác giả và các đồng nghiệp nhận thức sâu sắc hơn về nghề
nghiệp của mình, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mình (công chứng
viên) trong hoạt động công chứng theo quy định pháp luật Việt Nam, góp phần
nâng cao nhận thức trách nhiệm nghề nghiệp của CCV. Từ đó nâng cao cao chất
lượng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Ngoài ra, đề tài còn là tài liệu
tham khảo bổ sung cho mọi người khi nghiên cứu về vấn đề mà đề tài đã giải
quyết.
15
tích cực đó chính là bổn phận, là vai trò của chủ thể xuất phát từ ý thức về vai
trò, vị trí của chủ thể đối với xã hội. Còn trong thuật ngữ pháp lý thì “trách
nhiệm” cũng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau, nó có thể hiểu là nghĩa vụ là
16
những yêu cầu mà pháp luật đòi hỏi phải làm, phải tuân thủ trong hiện tại hoặc
trong tương lai. Ở nghĩa thứ hai “trách nhiệm” được hiểu với nghĩa tiêu cực đó
chính là hậu quả bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu khi có hành vi gây thiệt hại
hoặc vi phạm nghĩa vụ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn được hiểu theo
nghĩa thứ hai.“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm của người có
hành vi vi phạm, có lỗi trong việc gây thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi
hoàn cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh
thần cho người bị thiệt hại” [87, tr.799]. Như vậy, khi nói bồi thường thiệt hại là
nói đến một hình thức của trách nhiệm dân sự, còn nói trách nhiệm bồi thường
thiệt hại là nói đến hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể gây thiệt hại phải bồi
thường khi gây thiệt hại, hay nói cách khác bồi thường thiệt hại còn được gọi là
trách nhiệm dân sự khi gây thiệt hại.
Trong khoa học pháp lý, căn cứ trên từng tiêu chí nhất định để phân định,
người ta phân loại rất nhiều loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại khác nhau.
Khái quát như sau:
Một là, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ nhất, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách
nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây
ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất
mà mình gây ra. Nếu giữa hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có
thiệt hại xảy ra bao giờ cũng sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và
người giám hộ đối với người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp
nhân, trường học, bệnh viện, cơ sở dạy nghề…. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại theo hợp đồng chỉ có thể áp dụng đối với các bên tham gia hợp
đồng mà không thể áp dụng đối với người thứ ba. (4) Về mức bồi thường: Bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc là người gây thiệt hại phải bồi
thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Thiệt hại chỉ có thể được giảm trong một trường
hợp đặc biệt đó là người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so
với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ. Còn đối với bồi thường thiệt
hại theo hợp đồng thì các bên có thoả thoả thuận ngay trong hợp đồng về mức
bồi thường bằng, thấp hơn hoặc cao hơn mức thiệt hại xảy ra và khi phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì mức bồi thường sẽ áp dụng mức do các bên
thoả thuận.
18
Việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt có ý nghĩa trong việc thực
hiện nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt
hại theo hợp đồng nguyên đơn chỉ cần chứng minh thiệt hại là do người gây thiệt
hại đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra còn trong
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bên bị thiệt hại ngoài việc
chứng minh thiệt hại còn phải chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái
pháp luật.
Một vấn đề được đặt ra là trong trường hợp một bên có nghĩa vụ theo hợp
đồng nhưng nghĩa vụ đó cũng được pháp luật quy định thì khi vi phạm những
nghĩa vụ đó sẽ phát sinh trách nhiệm theo hợp đồng hay ngoài hợp đồng và người
bị thiệt hại có thể lựa chọn một trong hai loại trách nhiệm để kiện yêu cầu bồi
thường hay không? Theo tác giả, trong trường hợp các chủ thể trong quan hệ
pháp luật dân sự đã cụ thể hoá những nghĩa vụ do pháp luật quy định vào trong
gây thiệt hại đã thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động và
hành vi đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. (2) Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi
tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại như hoạt động của nguồn nguy hiểm cao
độ gây thiệt hại, cây cối đổ gẫy gây ra thiệt hại, nhà công trình xây dựng bị sụt,
đổ gây thiệt hại, gia súc gây thiệt hại…
Bốn là, căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của
trách nhiệm bồi thường thiệt hại phân thành trách nhiệm liên đới và trách nhiệm
riêng rẽ. (1) Bồi thường thiệt hại liên đới được hiểu là trách nhiệm nhiều người
mà theo đó thì mỗi người trong số những người có trách nhiệm phải chịu trách
nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại và mỗi người trong số những người có quyền đều
có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ cho mình. (2) Bồi
thường thiệt hại riêng rẽ là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi người có
trách nhiệm chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần thiệt hại do mình gây ra và
mỗi người trong số những người có quyền cũng chỉ có quyền yêu cầu người gây
thiệt hại bồi thường những tổn thất mà mình phải gánh chịu.
Năm là, căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ lỗi của cả người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại phân thành trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập. (1)
Trách nhiệm hỗn hợp là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó cả người
gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi. (2) Trách nhiệm độc lập là trách
nhiệm bồi thường thiệt hại mà người bị thiệt hại là người hoàn toàn không có lỗi.
20
Sáu là, căn cứ vào chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phân thành
trách nhiệm bồi thường của cá nhân, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp
nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường Nhà nước. (1) Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại của cá nhân được hiểu là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì
trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân người gây thiệt hại hoặc đại
quy định), ngoài ra nó còn có một số đặc điểm đặc thù của hoạt động công chứng
sau:
Thứ nhất, chủ thể gây thiệt hại phải là CCV và CCV phải gây thiệt hại
trong khi hoạt động nghề công chứng. Nếu CCV gây thiệt hại trong khi không
hoạt động nghề công chứng thì sẽ bị điều chỉnh bởi các các quy định của pháp
luật tương ứng khác;
Thứ hai, hành vi trái pháp luật của CCV trước hết phải được xem xét là
hành vi trái với quy định của LCC và Quy tắc đạo đức nghề công chứng; Hoặc
hành vi vi phạm hợp đồng của CCV là hành vi vi phạm hợp đồng dịch vụ do
CCV, tổ chức hành nghề công chứng đã ký kết với người yêu cầu công chứng
hoặc CCV có lỗi do sơ suất của CCV trong việc tư vấn cho các bên về vấn đề cần
công chứng làm thất lạc giấy tờ cần công chứng, làm thất lạc hồ sơ, giấy tờ của
khách hàng, giao thiếu hồ sơ tài liệu, số bản gốc được công chứng, chậm trễ
trong việc thực hiện nghĩa vụ;
Thứ ba, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của CCV là trách nhiệm bồi
thường được bảo hiểm. BHTNNN của CCV là bảo hiểm bắt buộc;
Thứ tư, bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt
hại do sức khoẻ bị xâm phạm, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Trong khi đó công chứng là “việc công
chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực,
tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự bằng văn bản, tính chính xác, hợp
pháp không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang
tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt” [60, khoản 1, Điều
2]. Hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản hoặc quan hệ nhân thân mang tính
chất tài sản như: quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ…do đó đối tượng bị xâm
phạm trong hoạt động công chứng của CCV có thể là tài sản, quan hệ nhân thân
mang tính chất tài sản.
1.1.3. Bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công
chứng viên trong hoạt động công chứng
Sau khi đối chiếu các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
thiệt hại riêng rẽ. Từ những khái niệm đã nêu ở phần trên thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của CCV có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới và
cũng có thể là trách nhiệm bồi thường thiệt hại riêng rẽ. Trường hợp chủ thể gây
ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng, cá nhân, tổ chức khác bao gồm CCV
và “người khác” thì đây thuộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới. Trường
23
hợp chủ thể gây ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng, cá nhân, tổ chức khác
chỉ có CCV thì thì đây thuộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại riêng lẻ.
Bốn là, trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập. Trách nhiệm hỗn hợp
là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó cả người gây thiệt hại và người bị
thiệt hại đều có lỗi. Trách nhiệm độc lập là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà
người bị thiệt hại là người hoàn toàn không có lỗi. Từ cách thức lấy yếu tố lỗi là
làm tiêu chí phân định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như trình tự, thủ tục
công chứng, tác giả thấy rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của CCV hoàn
toàn có thể là trách nhiệm hỗn hợp hay trách nhiệm độc lập.
Năm là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại Nhà nước. Có thể thấy rằng cách thức phân biệt trách nhiệm bồi thường
thiệt hại lấy chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm tiêu chí xác định
hiện đang tồn tại một cách rất rõ trong lĩnh vực công chứng. Cụ thể là có cả trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường Nhà nước hiện hữu trong
hoạt động công chứng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 38, Điều 71, Điều 72 LCC
2014, chúng ta thấy rõ sự tồn tại trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
CCV, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức hành nghề công chứng và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nhà nước (do có sự tồn tại của PCC của nhà
nước).
bồi thường thiệt hại của công chứng viên đối với người yêu cầu công chứng là
trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng vì giữa công chứng viên và người yêu cầu
công chứng “tồn tại một hợp đồng dịch vụ và thiệt hại (nếu có) phát sinh từ việc
công chứng viên thực hiện hợp đồng” [21, tr.165]. Cùng quan điểm nêu trên
nhưng lại có cách giải thích khác khi cho rằng “dù giữa công chứng viên và
người yêu cầu công chứng không hề tồn tại một bản hợp đồng cụ thể nào nhưng
khi đứng ra cung cấp dịch vụ công chứng theo đề nghị của người yêu cầu công
chứng, có vẻ công chứng viên đã mặc nhiên giao kết một bản hợp đồng theo
những điều khoản, điều kiện đã được quy ước” [82, tr.29]. Quan điểm thứ hai,
cho rằng đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi “khi công
chứng viên giải quyết một yêu cầu công chứng cụ thể, người yêu cầu công chứng
với công chứng viên hay tổ chức hành nghề công chứng không phải giao kết với
nhau bất kỳ một hợp đồng nào dưới dạng hợp đồng cung cấp dịch vụ” [82, tr.28].
Theo tác giả, như đã phân tích ở mục 1.1.1 về bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng và bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì để xác định bồi thường thiệt
25