Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG TUẤN TÚ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC
TRONG HOA ̣T ĐỘNG THI HÀ NH ÁN DÂN SƢ̣

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HẢI AN

Hà Nội – 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Tuấn Tú




9

1.1.3

Ý nghĩa về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

15

1.2.

Khái quát chung về hoạt động thi hành án dân sự

16

1.2.1

Khái niệm về hoạt động thi hành án dân sự

16

1.2.2.

Đặc điểm về hoạt động thi hành án dân sự

16

1.2.3.

Ý nghĩa về hoạt động thi hành án dân sự

ạt

21

đô ̣ng thi hành án dân sự
1.4.

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở một số nước trên thế giới
.
22


1.5.

Quá trình xây dựng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của

26

Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự
Tiể u kế t chƣơng 1

29

Chƣơng 2: NHƢ̃ NG QUY ĐINH
CỦ A PHÁP LUẬT VIỆT NAM31
̣
HIỆN HÀ NH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦ A NHÀ
NƢỚC TRONG HOA ̣T ĐỘNG THI HÀ NH ÁN DÂN SƢ̣
2.1.


54

2.6.

Thời hiê ̣u yêu cầ u bồ i thường

69

2.7.

Trách nhiệm hoàn trả

70

Tiể u kế t chƣơng 2

71

Chƣơng 3: THƢ̣C TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI

72

PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI
THƢỜNG CỦ A NHÀ NƢỚC TRONG HOA ̣T ĐỘNG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
3.1.

Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiê ̣m bồ i thường của Nhà

72


Về thủ tục giải quyết bồi thường

79

3.1.6.

Về viê ̣c thu ̣ lý đơn yêu cầ u bồ i thường

80

3.1.7.

Về viê ̣c xác đinh
̣ thiê ̣t ha ̣i bồ i thường

82

3.2.

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của

83

Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự
3.2.1.

Giải pháp hoàn thiện xây dựng pháp luật về trách nhiê ̣m bồ i

83

Chữ viết tắt

1

Bộ luật Dân sự

BLDS

2

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

TNBTCNN

3

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

TNBTTH

4

Thi hành án dân sự

THADS

5

Thông tư liên tich
̣

nước ta, nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công
chức; từ đó, hạn chế những rủi ro đem lại cho người dân từ hoạt động công vụ;
đồng thời, còn nhằm động viên tinh thần đối với người bị thiệt hại, thể hiện sự
tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Đặc biệt, trong lĩnh vực THADS, những vụ việc thi hành án có dấu hiệu
vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ có số lượng tương đối lớn. Điều
này ảnh hưởng không nhỏ tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,
công dân phải thi hành quyết định thi hành án trái luật đó.
Qua 5 năm triển khai thực hiện Luật TNBTCNN trong công tác THADS,
quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, công dân bị xâm phạm đã
được bảo đảm phần nào. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn tại nhiều khó khăn,
bất cập như: các quy định của pháp luật chưa thực sự được hiểu và áp dụng một
cách thống nhất, có hiệu quả; nhiều điểm còn bất hợp lý, thủ tục còn rườm rà
gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tổ chức, cá nhân…
Chính từ thực tiễn đó, tác giả của luận văn đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu đề
tài “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự”
1


để có thể hiểu một cách thống nhất các quy định của pháp luật điều chỉnh về vấn
đề này, cũng như đánh giá một cách toàn diện nội dung và quá trình thực thi
pháp luật hiện hành về TNBTCNN trong hoạt THADS. Từ đó, đề xuất những
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện
TNBTCNN trong lĩnh vực THADS.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về TNBTCNN trong hoạt động THADS đã được nhiều
nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ và với các góc độ khác nhau.
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học và bài viết tiêu biểu:
Một là, các công trình nghiên cứu như luận văn, luận án, báo cáo, hội thảo
về lĩnh vực TNBTCNN, tiêu biểu có thể kể đến: Lê Mai Anh, Bồi thường thiệt

thường của Nhà nướ”, số chuyên đề Tạp chí dân chủ và pháp luật, Hà Nội,
2014; Nguyễn Công Long, “Trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong Thi hành
án dân sự”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, 2009; Từ Ninh, Một số vấn đề
lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Số chuyên đề tạp chí Dân chủ
và Pháp luật, Hà Nội, 2011; Trần Thị Thu Thủy, “Pháp luật về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước ở một số nước châu Âu”, Tạp chí Thanh Tra – Thanh tra
Chính phủ, số 10, 2009; Nguyễn Thanh Tịnh, “Bàn về việc cần thiết quy định
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật – Bộ Tư pháp, số 10, 2006; Nguyễn Thanh Tịnh, “Tăng cường hiệu quả
quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tính khả thi của cơ chế bồi thường nhà
nước”, Số chuyên đề tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội, 2011.
Nhìn chung, các đề tài nêu trên đã chỉ rõ và phân tích những vấn đề chung
về TNBTCNN trong hoa ̣t đô ̣ng THADS; đưa ra các yêu cầ u cơ bản trong viê ̣c
xác định TNBTCNN, cơ sở để xác đinh
̣ TNBTCNN, các hình thức và mức bồi
thường, những trường hơ ̣p thiê ̣t ha ̣i đươ ̣c bồ i thường theo quy đinh
̣ pháp luâ ̣t...
Có thể nói, những công trình khoa học nêu trên là tài liệu quí, giúp tác giả có
thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn.
Tuy nhiên, các đề tài này mới chỉ đề cập ở dạng khái quát về
TNBTCNN trong hoa ̣t đô ̣ng THADS ta ̣i những thời điể m khác nhau.

3

chế đinh
̣


Cho tới thời điể m hiê ̣n ta ̣i, chưa có công triǹ h khoa ho ̣c nào tìm hiểu một
cách có hệ thống, chi tiết và đặc biệt chỉ ra những điểm bất hợp lý trong pháp

đánh giá thực tiễn công tác bồi thường nhà nước, đặc biệt là trong THADS.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là lĩnh vực có phạm vi rộng, có
liên quan tới nhiều hoạt động như quản lý hành chính; tố tụng, thi hành án; thủ
tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị
thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công
vụ đã gây ra thiệt hại. Chính vì vậy, trong phạm vi có hạn, đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu một số nội dung liên quan đến TNBTCNN chỉ trong hoa ̣t đô ̣ng của
cơ quan THADS trên pha ̣m vi toàn quố cđể phân tích như:
- Những vấn đề lý luận về TNBTCNN, TNBTCNN trong hoạt động THADS;
- Các quy định của pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS;
- Thực trạng áp dụng pháp luật và những vướng mắc, bất cập trong việc
thực hiện trách TNBTCNN trong hoạt động THADS, phương hướng, giải pháp
nhằm hoàn thiện cơ chế thực hiện TNBTCNN trong hoạt động THADS.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử; quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
khác như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập và
đánh giá thông tin, phương pháp thống kê và một số phương pháp nghiên cứu
khoa học khác.
6. Tính mới của luận văn
Một là, nghiên cứu lý luận một cách toàn diện về TNBTCNN trong hoạt
động THADS. Phân tích và đánh giá chuyên sâu các quy định của pháp luật về
TNBTCNN trong hoạt động THADS, chỉ ra những điểm hạn chế trong các quy
định pháp luật về TNBTCNN trong hoạt động THADS.
5



là “hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại
phải khắ c phục hậu quả bằng cách bù đắp , đền bù tổn thất về vật chất và tổn
thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại” [54, tr.31].
Theo quy định của pháp luật , TNBTTH là trách nhiê ̣m dân sự , theo đó
người gây thiê ̣t ha ̣i cho người khác phải bồ i thường những tổ n thấ t mà mình
đã gây ra . Điề u 604 BLDS quy đinh
̣ : “Người nào do lỗi cố ý hoă ̣c lỗi vô ý
xâm pha ̣m tính ma ̣ng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩ m, uy tín, tài sản, quyề n và
lơ ̣i ích hơ ̣p pháp khác của cá nhân , xâm pha ̣m danh dự , uy tín , tài sản của
pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” . Từ đó, có
7


thể hiể u mô ̣t cách chung nhất TNBTTH là một dạng trách nhiệm pháp lý được
đă ̣t ra khi mô ̣t bên gây ra thiê ̣t ha ̣i làm tổ n thấ t về tài sản

, tính mạng , sức

khỏe, uy tin
̣
̣t ha ̣i , theo đó bên gây thiê ̣t
́ , danh dự, nhân phẩ m cho bên bi thiê
hại phải đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi
phạm của mình gây ra bằng những cách thức và tiêu chí do pháp luật đặt ra.
Trong dân sự , TNBTTH đươ ̣c đă ̣t ra đố i với mo ̣i chủ thể khi có hành vi
xâm pha ̣m tới quyề n, lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của các tổ chức , cá nhân và hành vi
xâm pha ̣m đó gây ra những tổ n thấ t về mă ̣t vâ ̣t chấ t

, tinh thầ n cho người bi ̣


Ngoài ra, trong Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp
luật. Như vậy, trước pháp luật, Nhà nước với các cá nhân, tổ chức khác bình
đẳng trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Nhà nước cũng
thực hiện các hành vi pháp lý và có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể
khác khi hành xử trái pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền. Khi có hành vi
gây thiệt hại cho các chủ thể khác, Nhà nước cũng có nghĩa vụ bồi thường
một cách bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội.
Từ những phân tích nêu trên ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về
TNBTCNN, theo đó TNBTCNN là một loại trách nhiệm pháp lý , được Nhà
nước thừa nhận và chịu trách nhiệm khôi phu ̣c những thiê ̣t ha ̣i về tài sản , bù
đắ p những tổ n thấ t về tinh thầ n do hành vi vi phạm pháp luật của người thi
hành công vụ gây ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy
định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Như đã phân tić h , TNBTCNN mang bản chấ t là TNBTTH trong dân sự ,
do đó TNBTCNN cũng mang những đă ̣c điể m chung của TNBTTH

, cụ thể

như sau:
Một là, TNBTCNN đă ̣t ra khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới
quyề n, lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của cá nhân , pháp nhân và các chủ thể khác nhằm
mục đích bảo vệ quyền, lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của người bi ̣thiê ̣t ha ̣i;
Hai là, TNBTCNN là loa ̣i trách nhiê ̣m mang tiń h tài sản bởi Nhà nước
phải bù đắp những lợi ích vật chất cho bên bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh
thầ n do hành vi trái pháp luâ ̣t của người thi hành công vu ̣ gây ra;
- Điề u kiê ̣n phát sinh TNBTCNN cũng giố ng như T NBTTH nói chung
dựa trên các yế u tố : có hành vi trái pháp luật , có thiệt hại xảy ra trên thực tế ,
9


10


quan tới việc thực hiện chức năng chính của Nhà nước. Trong quá trình thực
thi công vụ, nếu những hoạt động của các cán bộ, công chức, chủ thể nhân
danh đại diện cho Nhà nước gây ra thiệt hại thì Nhà nước phải bồi thường.
Vấn đề bồi thường thiệt hại của nhà nước không phải do vi phạm các nghĩa vụ
về hợp đồng, vì vậy TNBTCNN đặt ra đối với các thiệt hại gây ra trong quá
trình thực thi công vụ là TNBTTH ngoài hợp đồng.
Thứ hai, TNBTCNN là loại trách nhiệm trực tiế p:
Trong quan hệ bồi thường của Nhà nước , chủ thể gây thiệt hại là người
thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là những cá nhân được bầu cử , phê
chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào vị trí trong cơ quan Nhà nước để thực
hiện một nhiệm vụ mà Nhà nước giao. Trong trường hợp này có thể coi người
thi hành công vu ̣ là người đa ̣i diê ̣n cho Nhà nước thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ đươ ̣c
giao. Do vâ ̣y, nế u người thi hành công vu ̣ có hành vi gây thiê ̣t ha ̣i thì đươc coi
là Nhà nước gây thiệt hại và đương nhiên Nhà n ước phải có trách nhiệm bồi
thường. Nế u như TNBTTH trong dân sự

, năng lực chiụ trách nhiê ̣m bồ i

thường phu ̣ thuô ̣c vào năng lực hành vi và khả năng về tài sản của người gây
ra thiê ̣t ha ̣i thì trong TNBTCNN , năng lực chiụ trách n hiê ̣m bồ i thường của
người gây thiê ̣t ha ̣i sẽ không đươ ̣c xét tới bởi Nhà nước đương nhiên là chủ
thể chiụ trách nhiê ̣m bồ i thường và chi trả kinh phí bồ i thường

. Chỉ trong

trường hơ ̣p xác đinh
̣ mức hoàn trả của người thi hàn h công vu ̣ có lỗi gây ra

Mặt khác, nếu những cán bộ, công chức này có những hành vi làm tổn hại tới
danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức khác thì họ phải bù đắp
những tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm khôi phục
những tổn thất về tinh thần đã được quy định rất cụ thể tại BLDS và các văn
bản quy phạm pháp luật. Theo đó, để khôi phục lại những tổn thất về mặt tinh
thần cho người bị thiệt hại, cơ quan Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp
như: xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường danh dự, uy tín, nhân phẩm bằng
một khoản tiền...
Thứ tư, người thi hành công vụ có lỗi mà gây thiệt hại thì có nghĩa vụ
hoàn trả một phần tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước:
Nghĩa vụ hoàn trả của cán bộ, công chức là một vấn đề pháp lý cần được
nghiên cứu điều chỉnh sao cho phù hợp . Tùy từng quan điểm của mỗi quốc
gia mà vấn đề này được quy định khác nhau . Ở Nhật Bản , Luật Bồi thường
Nhà nước Nhật Bản quy định chỉ trong trường hợp công chức gây thiệt hại
với lỗi cố ý hoặc vô ý nghiêm trọng thì Nhà nước mới có quyền yêu cầu công
chức hoàn trả [31]. Trong khi đó, ở Việt Nam, BLDS năm 2005 cũng đã quy
định rất cụ thể về nghĩa vụ hoàn trả trong Điều 619: “Cơ quan, tổ chức quản
12


lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả
một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi
trong khi thi hành công vụ”. Điều 620: “Cơ quan tiến hành tố tụng có trách
nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản
tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi
hành nhiệm vụ”. Nghĩa vụ hoàn trả của cán bộ, công chức là một vấn đề pháp
lý cần nghiên cứu một cách kỹ lưỡng bởi việc quy định về nghĩa vụ hoàn trả
phải tránh được tâm lý của công chức cho rằng nếu mình làm sai thì đã có
Nhà nước bồi thường thay nên rất dễ dẫn tới hiện tượng lạm quyền trong quá
trình thi hành công vụ. Mặt khác, nếu quy định cán bộ, công chức phải hoàn

chức khác – nói một cách cụ thể hơn đó là TNBTCNN sẽ phát sinh khi cán bộ,
công chức, những người nhân danh Nhà nước gây ra thiệt hại trái luật về vật
chất hoặc tinh thần cho người bị thiệt hại trong quá trình thực thi công vụ.
Thứ sáu, trình tự thủ tục giải quyết bồi thường trong TNBTCNN bắt buộc
phải qua giai đoạn thương lượng giữa người yêu cầu bồi t hường với cơ quan
giải quyết việc bồi thường:
Đối với TNBTTH trong dân sự, bên bi ̣thiê ̣t ha ̣i có quyề n khởi kiê ̣n ngay
ra Tòa án để yêu cầ u giải quyế t viê ̣c bồ i thường trong khi đó

, đố i với

TNBTCNN, khi có căn cứ xác đinh
̣ hành vi gây thiê ̣t ha ̣i của người thi hành
công vu ̣ là trái pháp luâ ̣t , người bi ̣thiê ̣t ha ̣i phải gửi đơn yêu cầ u bồ i thường
đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Người bi ̣thiê ̣t ha ̣i và cơ quan có trách
nhiê ̣m giải quyế t viê ̣c bồ i

thường sẽ tiế n hành thương lươ ̣ng về viê ̣c bồ i

thường. Trong trường hơ ̣p bên bi ̣thiê ̣t ha ̣i không đồ ng ý với quyế t đinh
̣ giải
quyế t bồ i thường của cơ quan này thì mới có quyề n khởi kiê ̣n ra Tòa án theo
thủ tục Tố tụng dân sự.
Thứ bảy , phương thức bồ i thường trong TNBTCNN hạn chế hơn so với
trong TNBTTH trong dân sự:
Phương thức bồ i thường trong TNBTTH trong dân sự đa da ̣ng , các bên
có thể thỏa thuận về hình thức bồi thường bằng tiền , bằ ng hiê ̣n vâ ̣t h oă ̣c mô ̣t
công viê ̣c . Trong khi đó , phương thức bồ i thường TNBTCNN chỉ có hình
thức bồ i thường bằ ng tiề n.


TNBTCNN không những đáp ứng được yêu cầu thực tiễn mà còn phù hợp với
các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Năm 1982, Việt Nam đã gia
15


nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966, có
hiệu lực từ ngày 23/3/1976, tại Điều 5, Khoản 9, Công ước đã quy định: “Bất
cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp
pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường”, mặt khác, hiện nay trên thế giới
và đặc biệt trong khu vực, rất nhiều quốc gia cũng đã có Luật về TNBTCNN
như Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Philippine...
1.2. Khái quát chung về hoạt động thi hành án dân sự
1.2.1. Khái niệm về hoạt động thi hành án dân sự
Theo Đa ̣i từ điể n tiế ng Viê ̣t , thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức
quyế t đinh”
̣ [55, tr.1559] và theo từ điển Luật học thì thi hành án là “giai đoạn
kế t thúc trin
̀ h tự tố tu ̣ng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm
làm cho phán quyết củ a Tòa án nhấ t đinh
̣ có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t” [54, tr.464].
Như vâ ̣y, thi hành án có thể đươ ̣c hiể u là thực hiê ̣n bản a,́ nquyế t đinh
̣ của Tòa án
đã có hiê ̣u lực trên thực tế. Bản án, quyế t đinh
̣ của Tòa án đươ ̣c hiể u là văn bản
pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên Tòa, giải quyết về các
vấ n đề trong các vu ̣ án hin
̀ h sự, dân sự, hôn nhân và gia điǹ h, kinh tế, lao đô ̣ng,
hành chính. Yế u tố “dân sự” đươ ̣c hiể u là các bản án, quyết đinh
̣ dân sự, kinh tế,
lao đô ̣ng, hôn nhân và gia điǹ h, quyế t đinh

xử của Tòa án, nhằm hiện thực hóa các quyết định bằng văn bản của Tòa án.
Thứ hai, hoạt động THADS mang tính tài sản:
Đây là đặc trưng của quan hệ dân sự bởi phần lớn các bản án, quyết định
dân sự được đưa ra thi hành đều quyết định các vấn đề về tài sản như chia
thừa kế, tranh chấp hợp đồng, TNBTTH ngoài hợp đồng... Thông qua hoạt
động THADS, người được THADS sẽ nhận được các quyền và lợi ích về tài
sản từ người có nghĩa vụ phải thi hành án.
Thứ ba, THADS mang tính độc lập:
Hoạt động THADS là một quá trình phực tạp, trải qua nhiều giai đoạn và
chịu nhiều tác động khách quan. Do vậy, để đảm bảo cho hoạt động THADS
được thực hiện một cách hiệu quả thì cơ quan THADS và chấp hành viên phải
được hoạt động một cách độc lập trong khuôn khổ pháp luật, không phụ thuộc
vào bất kỳ tác động nào của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác làm ảnh hưởng tới
quá trình THADS. Chính vì vậy, pháp luật về THADS hiện nay quy định cơ
quan THADS không phụ thuộc về tổ chức, quản lý của cơ quan tư pháp ở địa
phương mà hoạt động một cách độc lập, tự chủ hoàn toàn.
Thứ tư, hoạt động THADS do cơ quan THADS thực hiện:
Cơ quan THADS là một trong các cơ quan tư pháp có chức năng nhiệm
vụ và quyền hạn thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước. Cơ quan THADS
có chức năng chính là thi hành các bản án, quyết định dân sự.
1.2.3. Ý nghĩa về hoạt động thi hành án dân sự
Hoạt động THADS là một giai đoạn quan trọng trong quá trình bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Có thể nói hoạt động THADS là
17


hoạt động hậu xét xử song lại đóng vai trò quyết định trong cả quá trình
bảo vệ đương sự. Việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án là giai đoạn đầu
của quá trình bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của đương sự


tiễn , tổ chức cơ quan THADS ngày càng được hoàn thiện hơn. Hoạt động
THADS được củng cố về mọi mặt , đạt được những thành quả nhất định , là
khâu chốt quan trọng trong quá trình tố tụng góp

phầ n xây dựng , củng cố

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh.
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status