Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của tòa án nhân dân cấp tỉnh ở việt nam hiện nay (tt) - Pdf 42

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VÕ QUỐC TUẤN

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG HOẠT
ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
MÃ SỐ : 62 38 01 01

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trương Hồ Hải
TS. Trần Thái Dương

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Vào hồi giờ..... 00 ngày .... tháng ..... năm 2017

Những chủ trương và biện pháp của Đảng và Nhà nước đã có tác động tích cực
đến chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có chất lượng hoạt
động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh. Tỷ lệ các vụ án
hình sự sơ thẩm của TAND cấp tỉnh oan, sai, vi phạm tố tụng xâm phạm đến
quyền của bị cáo đã giảm.
Tuy nhiên, trên thực tế, các quyền của bị cáo ở một số phiên tòa xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh ở một số địa phương chưa được
bảo đảm. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận để có những
kiến nghị nhằm bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh là nhiệm vụ cấp thiết. Từ những lý do trên
đây, tác giả chọn đề tài: “Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện
nay” làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp
luật, mã ngành 62.38.01.01.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của bị cáo
trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh, luận án
đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm quyền của bị


2

cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh ở
Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên đây, luận án thực hiện nhiệm vụ sau:
- Phân tích những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt
động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt

Luận án dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN) làm cơ sở
phương pháp luận; đặc biệt luận án coi trọng những quan điểm, đường lối của
Đảng về cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử
các vụ án hình sự trong Cương lĩnh chính trị, các Văn kiện của Đảng từ Đại hội


3

VI đến đại hội XII .
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng các
phương pháp nghiên cứu, như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp
thống kê - so sánh, phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp kết hợp lý
luận với thực tiễn; phương pháp lịch sử…
5. Những điểm mới của luận án
Luận án có thể được coi là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn
diện và hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của bị cáo trong
hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh ở Việt Nam.
Luận án có những điểm mới về mặt khoa học như sau:
- Xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm, nội dung, vai trò cũng như các
yếu tố bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự của TAND cấp tỉnh.
- Rút ra những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam về bảo đảm quyền
của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp
tỉnh qua việc nghiên cứu kinh nghiệm bảo đảm quyền con người trong hoạt
động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án ở một số nước trên thế giới.
- Phân tích, chỉ ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực
trạng trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm
quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND

nói chung và TTHS, trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng
trong việc bảo đảm quyền con người, hoặc nghiên cứu các quyền cụ thể như
quyền bị can, bị cáo, quyền của người bị hại trong tố tụng...Tuy nhiên, chưa có
công trình nào nghiên cứu toàn diện về bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt
động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh; đặc biệt trong bối
cảnh Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức TAND năm 2014 đã ghi nhận chức
năng của TAND là cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN

Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ở ngoài nước, ở những
góc độ khác nhau, đã nghiên cứu vấn đề hệ thống tư pháp, tố tụng của một số
nước, quyền con người trong các hoạt động tố tụng, vai trò của Tòa án trong
việc bảo đảm quyền con người, quyền của phạm nhân, của người bị hại, quyền
của bị cáo, quyền của người chưa thành niên trong TTHS…Tuy nhiên, qua
khảo sát các tài liệu ở ngoài nước cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách toàn diện, hệ thống vấn đề đảm bảo quyền của con người trong hoạt
động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án.
1.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1. Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án
Các công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận về bảo đảm
quyền con người trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND


5


cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh ở
Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp tiếp tục
bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
của TAND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay.


6

Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ
CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

2.1.1. Khái niệm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự
Quyền của bị cáo là những giá trị, nhu cầu và lợi ích hợp pháp vốn có của
bị cáo, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và quốc gia được ghi nhận trong Hiến
pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khi tham gia vào quan hệ pháp luật
TTHS trong giai đoạn xét xử.
2.1.2. Khái niệm bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Bảo đảm quyền con người, quyền công dân là việc tôn trọng, ghi nhận các
quyền đó bằng pháp luật; đồng thời, các chủ thể (cơ quan nhà nước, tổ chức xã
hội, cá nhân) phải thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm, tạo điều kiện cho chủ
thể của quyền sử dụng, thụ hưởng các quyền đó trên thực tế.
Bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của
TAND cấp tỉnh là việc ghi nhận, tôn trọng bằng pháp luật các quyền của bị

được giải quyết tại TAND cấp tỉnh. Đó là những vụ án mà TAND cấp tỉnh lấy
lên để xét xử khi xét thấy cần thiết. Tuy nhiên khi đưa vụ án hình sự ra xét xử sơ
thẩm ở TAND cấp tỉnh, ở một số địa phương, bị cáo, người làm chứng, người
đại diện quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo, người giám hộ sống ở vùng sâu,
vùng xa gặp khó khăn khi di chuyển, hay khó khăn trong việc nhận các quyết
định tố tụng… Do vậy, TAND cấp tỉnh và các cơ quan hữu quan phải chuẩn bị
những điều kiện tốt nhất để bảo đảm quyền của bị cáo.
2.1.4. Vai trò của bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
- Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà
nước ta trong công cuộc cải cách tư pháp vì quyền con người.
- Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhằm hướng tới một nền tư pháp hiện
đại, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người
- Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhằm hạn chế sự vi phạm trong quá trình
áp dụng các chế tài hình sự đối với bị cáo.
2.2. NỘI DUNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG
XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

Nội dung bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh được nghiên cứu trên hai góc độ cơ
bản như sau:
2.2.1. Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bằng các quy định pháp luật
Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của TAND cấp tỉnh bằng các quy định pháp luật là tổng thể các hoạt động
xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật, tạo ra hành lang pháp lý vững
chắc để ghi nhận, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất để cho bị cáo sử dụng các

phán, Chủ tọa phiên, HTND, Thư ký tòa án, Viện kiểm sát, KSV, Luật sư bào
chữa cho bị cáo và các chủ thể có liên quan. Để bảo đảm quyền của bị cáo, giai
đoạn này các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật tương ứng với mỗi
giai đoạn tố tụng như:
+ Bảo đảm quyền của bị cáo khi bắt đầu phiên tòa
+ Bảo đảm quyền của bị cáo ở giai đoạn xét hỏi
+ Bảo đảm quyền của bị cáo tại ở giai đoạn tranh luận
+ Bảo đảm quyền của bị cáo ở giai đoạn nghị án và tuyên án
2.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN CẤP TỈNH

2.3.1. Chất lượng của hệ thống pháp luật
Pháp luật về bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh phải quy định đầy đủ, cụ thể rõ ràng về trình
tự, thủ tục giải quyết các vụ án; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng; quyền và
nghĩa vụ của tổ chức bổ trợ tư pháp và các cơ quan tổ chức, cá nhân khác khi
họ tham gia tố tụng.
2.3.2. Chất lượng hoạt động của cơ quan và đội ngũ những người tiến
hành tố tụng
Chất lượng đội ngũ những người tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND được coi là điều kiện đủ, quyết định đến
việc bảo đảm quyền của bị cáo. Do vậy, những người tiến hành tố tụng như
Chủ tọa phiên tòa, thẩm phán, HTND, KSV phải đạt được trình độ chuyên môn
cao, phải có tư chất, đạo đức nghề nghiệp. Như vậy, cần phải đặt ra tiêu chuẩn,
quy trình tuyển dụng hợp lý đáp ứng nhiệm vụ xét xử, bảo đảm quyền của bị
cáo; đồng thời phải thường xuyên nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ
cho thẩm phán, HTND, KSV tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của TAND cấp tỉnh. Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng là hoạt

của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Trung Quốc.
Nghiên cứu hoạt động bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của Tòa án một số nước có thể rút ra những giá trị tham khảo cho
Việt Nam như sau:
Thứ nhất, coi trọng quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự.
Thứ hai, nhiều quốc gia đề cao tính độc lập của Tòa án. Coi đây là điều
kiện tiên quyết bảo đảm sự vô tư, không thiên vị, không chịu bất kỳ sự can
thiệt nào từ bên ngoài khi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử.
Thứ ba, nguyên tắc suy đoán vô tội được quán triệt và vận dụng nhất quán,
xuyên suốt, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tố tụng,
mọi nghi ngờ về chứng cứ đều được giải thích và làm sáng tỏ theo hướng có lợi
cho bị cáo.
Thứ tư, thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự là một trong những biện pháp bảo đảm quyền của bị cáo.
Thứ năm, phân định rạch ròi chức chức năng của Tòa án với cơ quan
Công tố để bảo đảm quyền của bị cáo.


10

Chương 3
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG
XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
BẰNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

3.1.1. Những kết quả đạt được

hại, đương sự, người đại diện thực hiện quyền khiếu nại.
3.1.2. Hạn chế, bất cập và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được trên đây, một số quy định pháp luật
đang tồn tại những bất cập.
- Một số quy định pháp luật về chức năng của Tòa án và VKS chưa rõ
ràng, cụ thể. Mô hình tố theo quy định của pháp luật, VKS thực hiện hai chức
năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Điều đó cho thấy,


11

ở một số phiên tòa sơ thẩm hình sự, Tòa án có vai “chi phối”, “định hướng” đến
hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử (HĐXX) chưa thật
sự vô tư, công bằng trong việc tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án đang diễn
ra tại phiên tòa.
- Một số quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003 về quyền của bị cáo và
quyền của người bào chữa khó thực hiện trên thực tế nếu không muốn nói là
hình thức. Pháp luật chưa coi trọng quyền bào chữa của bị cáo thể hiện qua các
quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm. Thay vì tạo không khí dân chủ,
tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định
“khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó
đến KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự” (Điều 207).
- Nhiều quy định pháp luật chưa phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của
các chủ thể tiến hành tố trụng trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa.
- Pháp luật hình sự và thực tiễn thực hiện pháp luật hình sự ở nước ta vẫn
chưa coi trọng vai trò bào chữa của Luật sư nên hoạt động tranh tụng tại nhiều
phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh chưa thực sự
chuyển về chất theo kỳ vọng của những chủ trương cải cách tư pháp gần đây.
- Trong quan hệ tố tụng, nhiều quy định pháp luật vẫn coi trọng địa vị
pháp lý của những người tiến hành tố tụng trong khi vị trí, địa vị của người bào

nhân chủ quan.
Về nguyên nhân khách quan:
Thực hiện đường lối đổi mới xây dựng nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân vì dân tác
động đến đặt ra nhiệm vụ cần bảo vệ quyền của bị cáo. Trong khi pháp luật về
bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của
TAND mặc dù được quan tâm sửa đổi nhưng chưa theo kịp với những biến đổi
nhanh chóng của cuộc sống. Xu hướng hội nhập và hợp tác quốc tế, yêu cầu đấu
tranh bảo vệ quyền con người đang đặt ra trách nhiệm lớn cho các quốc gia. Tuy
nhiên, vấn đề quyền con người, quyền công dân nói chung trong đó có quyền
của bị cáo trong phiên tòa sơ thẩm hình sự phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế, xã hội, văn hóa của quốc gia. Do vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết
và làm sáng tỏ.
Về nguyên nhân chủ quan:
Pháp luật về bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự của TAND chưa được quan tâm đầy đủ, đúng đắn. Những sửa đổi, bổ
sung thời gian qua chưa mang tính tổng thể làm cho pháp luật về bảo đảm quyền
của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND thiếu sự ổn
định. Hoạt động nghiên cứu lý luận và tổng kết thực hiện pháp luật về bảo đảm
quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND chưa
được tiến hành thường xuyên, chưa hiệu quả. Hoạt động hợp tác quốc tế, tham
khảo kinh nghiệm các quốc gia khác để nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp
luật bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của
TAND chưa được coi là nhiệm vụ thường xuyên.
3.2. THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO THÔNG QUA VIỆC
THỰC HIỆN NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CHỦ THỂ TRONG HOẠT
ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

3.2.1. Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở giai đoạn trước khi mở phiên tòa

- Chưa có chế tài cụ thể đối với những trường hợp kéo dài thời gian giải
quyết vụ án bằng các quyết định tạm hoãn vì lý do không xác đáng.
- Một số địa phương, mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra (CQĐT), Tòa án
và VKS chưa quy định rõ ràng, cụ thể những nội dung công việc cần được phối
hợp thực hiện trong các giai đoạn thực hiện nhiệm vụ tố tụng nên ảnh hưởng
đến hoạt động bảo đảm quyền của bị cáo.
- Một số vụ án, cán bộ Tòa án không tạo điều kiện cho người bào chữa
tiếp xúc, nghiên cứu tài liệu hồ sơ về vụ án trong giai đoạn trước khi mở phiên
tòa, hoặc người bào chữa cho bị cáo bị gây khó khăn về thủ tục cấp giấy chứng
nhận bào chữa trong vụ án hình sự.
- Một số vụ án việc thực hiện các thủ tục, các giấy tờ liên quan đó là thẻ
luật sư, hay quyết định của cơ sở hành nghề luật sư phân công luật sư với tư
cách là người bào chữa còn mất nhiều thời gian.
- Ý thức trách nhiệm nghề nghiệp của một số Thẩm phán, HTND, VKS
chưa được đề cao trong giai đoạn trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự, năng lực của một bộ Thẩm phán, HTND, VKS thực hành quyền
công tố còn hạn chế.
3.2.2. Thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh tại phiên tòa
3.2.2.1. Bảo đảm quyền của bị cáo ở thủ tục bắt đầu phiên tòa
Thực tiễn tại các phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND
cấp tỉnh cho thấy, các Chủ tọa phiên tòa đều thực hiện thủ tục khai mạc phiên
tòa, sau đó Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng
trình tự, thủ tục. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu thư ký báo cáo danh sách những
người có mặt theo danh sách đã triệu tập và sau đó Chủ tọa phiên tòa lần lượt
kiểm tra căn cước của các bị cáo và những người tham gia tố tụng theo đúng
trình tự luật định. Khi kiểm tra căn cước của các bị cáo, Chủ tọa phiên tòa chú
ý xác định nhân thân của bị cáo và những điều kiện khác để tiến hành vụ án.
Bên cạnh những kết quả đạt được trên đây, thực trạng bảo đảm quyền của
bị cáo ở thủ tục bắt đầu phiên tòa tồn tại những bất cập như:

của Thẩm phán, Hội thẩm được cải thiện rõ rệt. Những vụ án lớn, nghiêm trọng
được dư luận xã hội quan tâm đều được đưa ra xét xử kịp thời, đặc biệt là các
vụ án về ma túy, tham nhũng. Việc giải quyết, xét xử bảo đảm thời hạn luật
định, khắc phục tình trạng để án quá thời hạn luật định, hạn chế tối đa số lượng
án chưa được giải quyết.
Bên cạnh những kết quả đạt được trên đây, thực trạng bảo đảm quyền của
bị cáo tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh ở giai
đoạn xét hỏi tồn tại những bất cập, hạn chế sau:
Về phía HĐXX: khi xét hỏi một số thành viên HĐXX chưa thực sự chú ý
đến những vấn đề còn mâu thuẫn. Một số phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự của
TAND cấp tỉnh đã “tuyệt đối hóa” vai trò của HĐXX khi xét hỏi nên không
bảo đảm quyền được thể hiện ý kiến, quan điểm của người bào chữa đối với bị
cáo. Một số Thẩm phán và HTND không chú ý ghi chép lời tranh luận giữa các
bên, thậm chí có đặt những câu hỏi xen ngang ý kiến của luật sư đang phát
biểu, hoặc chưa chú ý đến một số tình tiết quan trọng, những chứng cứ mới,
chưa tạo điều kiện cho luật sư và người bào chữa của họ tranh luận lại những ý
kiến, quan điểm của luật sư với những nội dung, tình tiết chưa thực sự sáng tỏ.
Mặc dù luật quy định khi xét xử thẩm phán và HTND độc lập tuân theo pháp
luật nhưng một số thẩm phán, HTND có tâm lý trông chờ vào vai trò của Chủ
tọa phiên tòa, không tích cực quan sát, lắng nghe việc tranh luận giữa bên buộc
tội và bên gỡ tội.
Tương tự, tại nhiều phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND
cấp tỉnh, một số KSV chưa tích cực, chưa chủ động trong việc xét hỏi mà coi
việc xét hỏi là nhiệm vụ chính của Chủ tọa phiên tòa.
Những bất cập trên đây do các nguyên nhân sau:
- Một số bất cập trong quy định về địa vị pháp lý của người bào chữa và
KSV dẫn đến những khó khăn khi áp dụng pháp luật. Mô hình tố tụng ở nước
ta vẫn nặng về tố tụng thẩm vấn, xét hỏi. KSV vẫn có “ưu thế” hơn trong khi
thực hiện nhiệm vụ xét hỏi bị cáo tại phiên tòa.
- Nhận thức về việc bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử

công cụ để bị cáo bảo vệ quyền của mình nhưng trên thực tế vẫn chưa thực sự
được coi trọng. Việc phải tranh luận, phải đối đáp qua lại giữa hai bên buộc tội,
giữa KSV và người bào chữa chưa dân chủ.
Về phía KSV, một số KSV vì chưa chuẩn bị tốt việc tranh luận, không
dự toán được một số tình huống xảy ra nên khi bị cáo và người bào chữa có
những chứng cứ mới thì KSV trở nên bị động và lúng túng, né tránh những
vấn đề mà bên gỡ tội nêu ra trái với quan điểm của KSV, hoặc trả lời không
đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề đang tranh luận. Chính vì vậy, vai trò của
KSV trong hoạt động tranh luận tại một số phiên tòa xét xử các vụ án hình sự
chưa thực sự tích cực.
Về phía luật sư, đa phần, các vụ án có luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi
cho bị cáo thể hiện tốt nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên có những trường hợp luật
sư viện dẫn văn bản pháp luật để bào chữa cho bị cáo chưa đúng, luật sư trả lời
chưa đi thẳng và trực tiếp vào nội dung mà KSV hỏi dấu hiệu đặc trưng của
cấu thành tội phạm. Những phân tích về động cơ, mục đích dẫn đến việc phạm
tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng do phía KSV đưa ra không đúng. Một số
luật sư chưa viện dẫn thêm những tình tiết thuộc về nhân thân, các tình tiết
giảm nhẹ cho bị cáo, chưa lật đi, lật lại xem xét các chứng cứ có sẵn trong hồ
sơ vụ án để tìm ra những bất hợp lý, những mâu thuẫn.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những bất cập trên đây:
- Nhận thức về việc bảo đảm quyền của bị cáo ở một số HĐXX chưa thực
sự thay đổi, còn có sự kỳ thị, thiếu tôn trong bị cáo.
- Pháp luật hình sự có nhiều quy định bất cập, chưa hoàn toàn lợi cho bị
cáo, mô hình tố tụng hình sự vẫn nặng về thẩm vấn.


16

- Nguyên tắc tranh tụng mặc dù đã được hiến định nhưng chưa tạo ra sự
chuyển động tích cực, sâu rộng từ trong nhận thức của Thẩm phán, Hội thẩm,

cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc của HTND với thẩm
phán trong quá trình xét xử nhất là khi nghị án. Các tiêu chuẩn cho HTND còn
rất chung chung và khác xa so với những tiêu chuẩn đặt ra đối với Thẩm phá.
- Tòa án cấp tỉnh ở một số địa phương chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi
cho HTND thực hiện nhiệm vụ xét xử. Ví dụ có những trường hợp Chánh án Tòa
án nhân dân không trao đổi, tham khảo trực tiếp trước với HTND, cả với lãnh
đạo của nơi HTND công tác để lên lịch xét xử hợp lý.
- Về phía mình, một số HTND chưa chủ động trong việc cập nhật văn bản
pháp luật liên quan đến hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.


17

Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
BỊ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. QUAN ĐIỂM TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY

Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của TAND cấp tỉnh cần phải quán triệt các nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo
sau đây:
1) Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải gắn với nhiệm vụ cải cách tư pháp
2) Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với hoạt động xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhằm bảo đảm quyền
của bị cáo
3) Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án

giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
+ Quyền đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố
tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa;
+ Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
+ Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
+ Quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời
khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
+ Quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia
phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
+ Quyền xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào
biên bản phiên tòa và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
- Đề bảo đảm các quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự cần phải cụ thể hóa những quy định về trách nhiệm của những
người tiến hành tố tụng như quy định rõ trách nhiệm của thẩm phán, HTND,
Chủ tọa phiên tòa, các thành viên HĐXX, KSV thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.
4.2.2. Tiếp tục ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa
chế định về bào chữa và quyền của người bào chữa hoạt động xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
Để bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự
cần tiến hành các biện pháp sau đây:
- Sớm nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn và bảo đảm thực hiện quy
định bảo đảm quyền của người bào chữa trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự. Bổ sung quy định về quyền của Luật sư; Bào chữa viên nhân dân;
Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được
trợ giúp pháp lý ở một số văn bản pháp luật liên quan như Luật Luật sư, Luật
Trợ giúp pháp lý.
- Để xác định rõ trách nhiệm của từng có quan có thẩm quyền cấp giấy

những người, cơ quan mà Tòa án yêu cầu, đề nghị cung cấp chứng cứ, tài liệu,
triệu tập đến tòa khi những chủ thể này không hợp tác, hoặc trì hoãn thực hiện
yêu cầu của Tòa án dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
- Sớm ban hành các quy chế bảo đảm sự phối hợp giữa Tòa án và VKS
trong trường hợp Tòa án trả hồ sơ vụ án hình sự để VKS khắc phục vi phạm.
*Về trình tự xét hỏi:
- Cần tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao trình
độ, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và văn hóa pháp đình cho đội ngũ thẩm
phán, HTND, KSV để họ loại bỏ tư tưởng phân biệt, kỳ thị đối với bị cáo.
- Trước mắt, cần tuyên truyền, giáo dục pháp luật về các nội dung liên
quan đến trách nhiệm, nghĩa vụ của Thẩm phán và HTND cấp tỉnh trong Luật
Tổ chức TAND năm 2014.
- Đối với việc hỏi bị báo: Bộ luật TTHS năm 2015, tại điều 309 quy định về
trình tự, thủ tục hỏi bị cáo. Như vậy, cần nhanh chóng ban hành quy định cụ thể
để hướng dẫn tổ chức thực hiện những quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa
sơ thẩm hình sự.
*Về hoạt động tranh luận:
Bộ luật TTHS năm 2015 quy định cụ thể, cần phải nghiên cứu, sớm ban
hành văn bản hướng dẫn thực hiện một số nội dung như sau:
- Quy định cụ thể trách nhiệm của Chủ tọa phiên tòa phải bảo đảm để
quyền của bị cáo và người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền
trình bày ý kiến đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với


20

KSV về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội.
- Cần có quy chế về Phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án hình sự để: Chủ toạ
phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho
KSV, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận,

sát phải tạo điều kiện hơn nữa khi cho bị cáo được gặp người bào chữa để trình
bày ý kiến; để cho bị cáo trình bày ý kiến về đồ vật, tài liệu; để cho bị cáo trình
bày ý kiến về chứng cứ. TAND cần tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí
thông tin hoạt động xét xử.
*Đối với KSV
- Trước khi mở phiên tòa, khi nhận được quyết định phân công thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử, KSV thu xếp thời gian gặp gỡ bị


21

cáo, tìm hiểu nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo cũng như tâm tư,
nguyện vọng của bị cáo.
- KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án (bao gồm những chứng cứ buộc tội
và chứng cứ gỡ tội cho bị cáo) trước khi phiên tòa tiến hành.
- KSV cần nắm chắc toàn bộ tiến trình điều tra vụ án và những tài liệu
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Việc chuẩn bị tốt cho việc tranh tụng tại phiên
tòa có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hành quyền
công tố của KSV. Khi có đủ các chứng cứ, tài liệu cho thấy bị cáo có yếu tố
giảm nhẹ TNHS thì KSV có quyền quyết định việc rút một phần (hoặc toàn bộ
cáo trạng) hoặc kết luận về một tội khác nhẹ hơn tại phiên tòa.
*Đối với HTND
- Khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và phân công tham gia
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND, HTND phải thu xếp thời để đánh
giá hết các chứng cứ trong hồ sơ để có quyết định đúng đắn về vụ án, nhất là
đối với những vụ án sơ thẩm hình sự cấp tỉnh có nhiều tình tiết phức tạp.
- Trong quá trình nghị án và biểu quyết về nội dung của vụ án, để bảo vệ
quyền của bị cáo khi thấy có lý do chính đáng, có chứng cứ và tài liệu, căn cứ
để bị cáo được giảm nhẹ TNHS nhưng ý kiến của HTND không giống như ý
kiến của đa số thành viên HĐXX thì HTND có thể thực hiện quyền bảo lưu ý

- Xây dựng cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có tâm huyết, đủ đức,
tài vào làm việc ở trong các TAND cấp tỉnh.
- Cần phải đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của
thẩm phán tòa án hình sự của TAND cấp tỉnh với các biện pháp cụ thể như sau:
Đổi mới công tác đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ,
Thẩm phán và HTND của TAND cấp tỉnh để tạo nguồn nhân lực có chất lượng
với các hình thức như: đào tạo Thẩm phán, đào tạo cán bộ quản lý và đào tạo
cán bộ khác. Kết hợp đào tạo trong nước với đào tạo ở nước ngoài để tăng số
lượng và nâng cao chất lượng thẩm phán, phục vụ yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Cần có một quy định bảng lương và mức lương của thẩm phán TAND
các cấp trong đó có chế độ riêng cho các thẩm phán TAND cấp tỉnh – những
người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xét xử, bảo đảm quyền của bị cáo trong
phiên tòa sơ thẩm hình sự.
* Nâng cao chất lượng HTND tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của TAND cấp tỉnh
Để tiếp tục bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của TAND cấp tỉnh cần tiến hành một số giải pháp sau:
- Ngành TAND và các TAND cấp tỉnh tổ chức các khóa bồi dưỡng về
nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng giải quyết vụ án hình sự
sơ thẩm cấp tỉnh bảo đảm phán quyết khách quan, khoa học, đúng người, đúng
pháp luật, bảo đảm quyền của bị cáo.
- Xây dựng tiêu chuẩn về Hội thẩm phù hợp với các cấp Tòa án trong đó
có tiêu chí về Hội thẩm tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND
cấp tỉnh phù hợp với các quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014.
- Tổ chức định kỳ Hội nghị tổng kết công tác xét xử của HTND, qua đó
TAND đánh giá chất lượng công tác của HTND, Đoàn HTND, kịp thời khắc
phục những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ của Hội thẩm,
xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa TAND với cơ quan, đơn vị cử HTND
tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án nhân dân cấp tỉnh để nâng cao
tinh thần, trách nhiệm của các HTND trong việc bảo đảm các quyền của bị cáo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status