HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH NGUYN VN LINH
thực hiện pháp luật về giải quyết
thủ tục hnh chính của cơ quan nh nớc cấp tỉnh
ở việt nam hiện nay
LUN N TIN S LUT HC H NI - 2015
H NI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng. Những kết luận khoa học của Luận án chưa
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào. TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Văn Linh MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
8
1.1. Những công trình có ý nghĩa phương pháp luận 8
1.2. Những công trình về các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài luận án 10
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA CƠ QUAN
NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
104
4.1. Quan điểm thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan
nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay 104
4.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính
của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay 109
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ, công chức
CCHC : Cải cách hành chính
CQHC : Cơ quan hành chính
HĐND : Hội đồng nhân dân
KT-XH : Kinh tế - xã hội
MTTQ : Mặt trận Tổ quốc
NCS : Nghiên cứu sinh
TTHC : Thủ tục hành chính
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài Luận án “Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành chính của
cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” là đề tài nghiên cứu có tính lý
luận và thực tiễn cấp thiết. Điều đó được thể hiện ở ba lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất: Từ mối quan hệ giữa thủ t
ục hành chính (TTHC) với yêu cầu giải
quyết TTHC (thực hiện TTHC) hiện nay.
TTHC là cách thức tổ chức các công việc nhà nước, cũng là cách thức giải
quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức,
phản ánh bản chất dân chủ, tính phục vụ, khoa học và hiện đại của nền hành chính
nhà nước. TTHC có nhiều loại, trong đó loại TTHC giải quyết công việc liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp c
ủa cá nhân, tổ chức chiếm số lượng lớn, hết sức đa
dạng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, đời sống, sản xuất, kinh doanh của người
dân, doanh nghiệp. Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, loại thủ tục này đã bộc
lộ nhiều hạn chế, rườm rà, phức tạp, tốn kém, tiềm ẩn nguy cơ sách nhiễu, c
ửa
quyền… Chính vì thế, cải cách TTHC, trong đó cải cách các thủ tục liên quan đến
đời sống, sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp đã được Đảng và Nhà
nước ta coi là khâu đột phá của CCHC. Theo chủ trương đó và bằng sự quyết liệt
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của các Bộ, ngành và các chính quyền địa
phương, hệ thống thủ tục ấy đã được đổi mới mộ
t bước, góp phần hoàn thiện thể
chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cải thiện môi
trường đầu tư, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong sinh hoạt, sản xuất,
kinh doanh. Mặc dù vậy, thực tế cho thấy có một hệ thống TTHC tốt chỉ là điều
Cơ quan nhà nước cấp tỉnh, trực tiếp là các CQHC cấp tỉnh theo quy định
của pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng trong xây dựng và thực hiện pháp luật về
giải quyết TTHC. Điều đó được thể hiện ở
thẩm quyền và trách nhiệm của Ủy ban
nhân dân (UBND) cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định
TTHC, rà soát, sửa đổi, bổ sung TTHC được ban hành theo thẩm quyền, quy định
cụ thể thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại địa phương; quy định
tổ chức, hoạt động, quy trình tiế
p nhận, xem xét, trả kết quả tại Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả theo hai cơ chế trên, trách nhiệm xem xét, xử lý, phối hợp giải quyết
thủ tục của cán bộ, công chức (CBCC), của các cơ quan chức năng, người có thẩm
quyền, chỉ đạo, kiểm tra CQHC cấp huyện, cấp xã trong toàn tỉnh thực hiện cơ chế
một cửa, cơ chế một c
ửa liên thông.
Với trách nhiệm và thẩm quyền trên, việc nghiên cứu để có một hệ thống các
giải pháp bảo đảm phát huy vai trò, vị trí của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trong xây
3
dựng và thực hiện pháp luật về giải quyết TTHC ở địa phương là hết sức cấp thiết,
nhất là trước thực tế còn nhiều hạn chế, vướng mắc ở nhiều cơ quan nhà nước cấp
tỉnh hiện nay.
Thứ ba: Về phương diện lý luận, có thể khẳng định công tác nghiên cứu lý
luận về nền hành chính, trong đó nghiên cứu lý luận về TTHC, giải quyế
t TTHC,
pháp luật về giải quyết TTHC chỉ được quan tâm đẩy mạnh khi Đảng đề ra chủ
trương CCHC tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII).
Mặc dù đạt được nhiều kết quả, song công tác ấy vẫn còn nhiều hạn chế, ngay cả
khái niệm TTHC hiện trong giới khoa học pháp lý vẫn chưa có sự thống nhất về
nhận thức. Việc nghiên cứu những vấn đề
luật về giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan nhà
nước cấp tỉnh trong tiến trình CCHC, trong cả
i cách nền hành chính nhà nước ở
địa phương.
- Luận chứng các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về giải
quyết TTHC tại cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các quy phạm pháp luật về giải quyết
TTHC đối với các công việc liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức, tập trung nghiên cứu các Nghị định của Chính phủ quy định việc kiểm soát
TTHC, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết TTHC theo cơ chế
một cửa, một cửa liên thông tại CQHC địa phương và các quy định về giải quyết
TTHC do cơ quan nhà nước cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyền. Đối tượng nghiên
cứu của Lu
ận án còn là các quan hệ phát sinh từ thực tiễn thực hiện pháp luật về
giải quyết TTHC của cơ quan nhà nước cấp tỉnh.
Về phạm vi nghiên cứu
Luận án không nghiên cứu sâu về pháp luật quy định TTHC nói chung, mà
tập trung nghiên cứu pháp luật về giải quyết TTHC và thực tiễn thực hiện pháp luật
đó của các CQHC cấp tỉnh và chỉ đối với các thủ tục liên quan đến quyền và lợi ích
hợp pháp c
ủa cá nhân, tổ chức. Luận án cũng không nghiên cứu việc thực hiện pháp
luật giải quyết TTHC trên từng lĩnh vực cụ thể của quản lý nhà nước (xây dựng,
thuế, hải quan, đầu tư…), mà chỉ nghiên cứu cơ chế pháp lý chung áp dụng đối với
việc giải quyết tất cả các loại thủ tục liên quan.
Luận án có phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian kể từ khi Thủ
tướng Chính
phủ ra Quyết định số 38/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể CCHC nhà
luật học so sánh, phương pháp của khoa học thống kê được sử dụng tại Chương 3.
Chương 4 sử dụng đồng thời các phương pháp nêu trên.
5. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận án
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ Tiến sỹ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có h
ệ thống về thực
hiện pháp luật về giải quyết TTHC của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam. Có
thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp của Luận án:
- Điểm mới thứ nhất: Luận án đã xây dựng mới khái niệm TTHC dựa trên
những quan niệm khác nhau về TTHC và đặt trong mối quan hệ với CCHC, chuyển
từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phụ
c vụ mà cải cách TTHC là khâu
6
đột phá, trong đó những yếu tố tạo thành nội hàm của khái niệm TTHC giải quyết
công việc của cá nhân, tổ chức được xác định gắn liền với chức năng thực hiện dịch
vụ công, thực hiện các giao dịch hành chính. TTHC theo đó không chỉ là công cụ
quản lý của CQHC, là cách thức phục vụ dân của các cơ quan này mà còn là công
cụ thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích của tổ chứ
c và cá nhân.
- Điểm mới thứ hai: Trên cơ sở của phương pháp trừu tượng hóa và mối
quan hệ biện chứng giữa pháp luật và thực hiện pháp luật, từ thực trạng thực hiện
các quy định pháp luật, Luận án đã xây dựng khái niệm pháp luật về giải quyết
TTHC, chỉ ra những đặc điểm của pháp luật này. Luận án khẳng định pháp luật về
giải quy
ết TTHC là lĩnh vực pháp luật đặc thù của hệ thống pháp luật hành chính có
nhiệm vụ hiện thực hóa và bảo đảm sự thống nhất, công bằng, khách quan, kịp thời
trong giải quyết TTHC, mà nội dung cơ bản của nó là cơ chế thực hiện và kiểm soát
TTHC. Luận án cũng xác định rõ các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà
nước ở Trung ương và cơ quan nhà nước cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyề
Luận án góp phần bổ
sung và phát triển một số vấn đề lý luận của bộ môn lý
luận chung về nhà nước và pháp luật và khoa học luật hành chính về TTHC, về
pháp luật và thực hiện pháp luật về giải quyết TTHC. Từ kết quả đạt được, Luận án
góp phần nâng cao sự nhận thức thống nhất của đội ngũ CBCC về pháp luật và thực
hiện pháp luật về giải quyết TTHC, nhất là về vai trò c
ủa pháp luật này trong việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nền hành chính, trong CCHC đối với nền hành
chính nhà nước ở địa phương. Về mặt học thuật, Luận án có thể làm tài liệu tham
khảo bổ ích cho công tác giảng dạy và nghiên cứu của các cơ sở đào tạo luật, các cơ
sở nghiên cứu khoa học pháp lý, cũng là tài liệu tham khảo bổ ích trong tuyên
truyền, giáo dục pháp luật và trong giải quy
ết TTHC của các cấp chính quyền.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công
bố và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương, 14 tiết.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Có thể nhận thấy, chỉ sau khi Đảng ta đề ra chủ trương cải cách một bước
nền hành chính nhà nước, trong đó xác định cải cách TTHC là khâu đột phá tại Hội
nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII - 1995) thì việc nghiên cứu
những vấn đề lý luận về TTHC, pháp luật về giải quyết TTHC và những vấn đề liên
quan mới được xúc tiến. Có khá nhiều công trình khoa học về vấn đề này, trong đó
nh
ững công trình liên quan đến đề tài có thể phân chia ra như sau:
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH CÓ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Thực tiễn cho thấy việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có pháp luật về giải quyết TTHC có được
ủa dân, do dân, vì dân là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu mục tiêu,
yêu cầu đổi mới, cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta trên các lĩnh vực
lập pháp, hành pháp, tư pháp, xây dựng mối quan hệ ràng buộc trách nhiệm giữa
nhà nước và công dân. Đó là những vấn đề có tính phương pháp luận, là chỗ dựa
khoa học cho các nghiên cứu đề tài Luận án. Đề tài KX 04.01 đồng thời đã đưa ra
một hệ th
ống giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó
có hệ thống giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm dân chủ, nghiêm minh,
thống nhất, thể hiện tính pháp quyền của nhà nước.
- Đề tài “Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay” thuộc Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước [3]. Đề tài đã
nghiên cứu khái niệm, c
ấu trúc và những đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị
nước ta; vị trí của các thiết chế trong hệ thống chính trị, khẳng định nhà nước có vị
trí trụ cột đồng thời đưa ra các giải pháp đổi mới nhà nước, trong đó có việc đổi mới
việc thực thi chức năng và quyền lực của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp
và chính quyền đị
a phương các cấp. Những kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở
cho các lập luận khẳng định nền hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành quan
trọng của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới.
- Đề tài KX-XH 05.03 (2000), “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” thuộc
Ch
ương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước [89], trong đó đã luận chứng một
cách thuyết phục các tiêu chuẩn và giải pháp xây dựng đội ngũ công chức nhà nước
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
- Bộ sách (2 tập): “Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986
đến nay” (2006) [70]. Tập I của Bộ sách đã dành một Chương trình bày vấn đề “Đổi
mới tư duy lý luận củ
a Đảng trên lĩnh vực chính trị”, phân tích mối quan hệ giữa đổi
hiệu quả người dân, đưa đất nước phát triển.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH VỀ CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đó là những vấn đề lý luận về pháp luật, thực hiện pháp luật, vai trò và mối
quan hệ của nó với xây dựng pháp luật. Từ lâu những vấn đề này đã được nhiều
trường phái, học thuyết chính trị - pháp lý, nhiều nhà tư tưởng lớn của nhân loại quan
tâm nghiên cứu, đề cao. Quản từ - học trò xuất sắc của Hàn Phi tử, người đề xướng
Học thuyết Pháp trị thờ
i Trung Hoa cổ đại, đã nói: “Vua tôi, trên dưới, sang hèn nhất
11
nhất tuân theo pháp luật ấy là thịnh trị”. Các nhà tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin
trong Học thuyết của mình về Nhà nước kiểu mới XHCN cũng đã đặc biệt đề cao vấn
đề thực hiện pháp luật. Các Mác khi sinh thời đã cho rằng “một đạo luật nếu không
được thực hiện cũng chỉ là đống giấy lộn”. Cùng tư tưởng của Các Mác, VI.Lênin đã
khẳng định“một
đạo luật nếu không được thực hiện thì cùng lắm cũng chỉ làm lay
động không khí”. Đặc biệt, trong Tác phẩm “Chính sách kinh tế mới và những nhiệm
vụ của Ban Giáo dục chính trị”, VI.Lênin đã khẳng định: “Một đạo luật chỉ có thể
đưa đến kết quả xấu hơn, nếu trên thực tiễn nó được đem áp dụng trong điều kiện nạn
hối lộ còn được dung thứ và đ
ang thịnh hành” [48, tr.218]. Các nhà tư tưởng cũng
đồng thời đặc biệt quan tâm đến xây dựng pháp luật, đến chất lượng của pháp luật,
của các đạo luật, coi là tiền đề và điều kiện tiên quyết cho thực hiện pháp luật. Cũng
vì lẽ ấy, khi sinh thời VI.Lênin đã khẳng định: “Mọi đề nghị nhằm sửa đổi những luật
pháp cũ sẽ luôn luôn không gặp một sự kìm hãm nào mà
đều gặp sự ủng hộ và thái
độ tốt của bộ máy luật pháp tối cao của chúng ta” [47, tr.251].
Những vấn đề lý luận cơ bản trực tiếp liên quan đến đề tài Luận án, từ những
khái niệm thực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật, trong đó có hình
ý thức pháp luật
trong xã hội và các điều kiện, môi trường thực hiện pháp luật. Về hiệu quả thực hiện
pháp luật, sách đã trình bày khái niệm “hiệu quả thực hiện pháp luật”, các tiêu chí
đánh giá hiệu quả và những kiến giải về việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.
- Hướng nghiên cứu những vấn đề lý luận thi hành pháp luật của các cơ quan
nhà nước, trong đó có vấn
đề về quản lý nhà nước công tác thi hành pháp luật. Năm
2008, Chính phủ đã ra Nghị định mới số 93/2008/NĐ-CP quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, trong đó có bổ sung nhiệm
vụ theo dõi chung về thi hành pháp luật. Nhằm xây dựng những luận cứ khoa học
về thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước, phát triển khoa học pháp lý, phục vụ
tr
ực tiếp cho việc thực hiện Nghị định 93 nêu trên, Bộ Tư pháp đã xây dựng luận cứ
và thực hiện Đề tài khoa học cấp Nhà nước, với tiêu đề “Nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật của các cơ quan nhà nước, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam” [22]. Trên cơ sở các phương pháp tiếp cận thực hiện pháp luật
theo cơ chế, theo phương pháp toàn diện, liên ngành và thực tiễn. Đề
tài đã đề xuất
nghiên cứu bốn nội dung, gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về thi hành pháp luật, trong đó đã
làm rõ cách thức và đặc trưng thi hành pháp luật của các cơ quan cụ thể trong bộ
máy nhà nước (Quốc hội, CQHC, Tòa án, Viện kiểm sát), nhận diện các yếu tố tác
động đến hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan đó;
Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệ
m nước ngoài về nâng cao hiệu quả thi hành
pháp luật của cơ quan nhà nước;
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng và dự báo những vấn đề đặt ra trong thi hành
pháp luật của cơ quan nhà nước trên một số lĩnh vực của đời sống KT-XH;
13
lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật đã đi sâu phân tích các đặc thù của việc thực
hiện pháp luật trên từng lĩnh vực quả
n lý nhà nước, từng lĩnh vực pháp luật, xem là
cơ sở để luận chứng những giải pháp cần thiết, trong khuôn khổ của cơ chế thực
hiện phù hợp.
14
Đặc biệt gần đây, từ thực tiễn CCHC, thực hiện Quyết định số 181 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại CQHC nhà
nước ở địa phương trong việc giải quyết các yêu cầu của cá nhân, tổ chức và Quyết
định số 93 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế một cửa, một cửa liên thông thay thế
cho Quyết định trên đã có những công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn trực tiếp liên quan đến đề tài luận án, đáng chú ý là các công trình sau:
- Luận án tiến sĩ của Trần Thanh Phương với đề tài về “TTHC trong hoạt
động của UBND cấp huyện” (2003) [60].
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hạnh với đề tài về “Hoàn thiện thủ tục pháp lý
về giải quyết khiếu nạ
i của công dân” (2005) [37].
- Luận văn thạc sĩ luật của Lê Thị Hằng, về “Cơ chế một cửa, cơ chế một của
liên thông tại UBND cấp xã của Thành phố Huế hiện nay” (2011) [36].
Kết quả nghiên cứu của các luận án, luận văn trên có giá trị tham khảo bổ ích
cho việc thực hiện luận án của NCS, đặc biệt là những đánh giá về các cơ chế giải
quyế
t TTHC, những ưu điểm, hạn chế và khó khăn, vướng mắc của việc thực hiện
các cơ chế ấy trong quá trình giải quyết TTHC.
1.4. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NỀN
HÀNH CHÍNH, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, TRONG ĐÓ CÓ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH, CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Như trên đã nêu, trước Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương
- Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của các cơ sở đào tạo luật (Đại học
Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Viện Đại học Mở Hà Nội…).
Điểm chung của các giáo trình trên là đều xác định TTHC là một chế định thuộc phần
chung của ngành luật hành chính, với nhữ
ng nội dung lý luận khá nhất quán trên
những vấn đề về khái niệm, đặc điểm của TTHC, phân loại TTHC, các nguyên tắc
xây dựng và thực hiện TTHC. Trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận của những
giáo trình của các cơ sở đào tạo luật khác, đồng thời tổng kết thực tiễn thực hiện Nghị
định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC (sau đây
g
ọi là Nghị định số 63) [16], các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế giải
quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức, các tác giả giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
của Viện Đại học mở đã quan niệm “TTHC là cách thức tiến hành hoạt động quản lý
hành chính nhà nước, được QPPL hành chính quy định, trong đó xác định rõ các việc
cụ thể, yêu cầu, điều kiện đối với những việc ấ
y cũng như trình tự thực hiện mà các
cơ quan nhà nước, CBCC nhà nước, các cá nhân, tổ chức có liên quan phải tuân thủ”
[120]. Với quan niệm ấy, TTHC là cách thức thực hiện hoạt động quản lý hành chính
nhà nước, cũng là cách thức thực hiện quyền hành pháp do nhân dân ủy nhiệm cho
CQHC, đồng thời là cách thức phục vụ nhân dân của nền hành chính nhằm đáp ứng
tốt nhất các yêu cầu về vật chất, tinh thần của nhân dân. Các tác giả
giáo trình cũng
16
nhấn mạnh: Trong nhà nước pháp quyền XHCN, TTHC - về bản chất, là “tổng hòa
của nhiều thuộc tính, trong đó tính hợp lý, đơn giản, chặt chẽ và tính phục vụ là
những thuộc tính quan trọng nhất, thể hiện tập trung trong việc xây dựng và thực hiện
TTHC giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức” [120]. Giáo trình Luật Hành
chính Việt Nam nêu trên đã xác định các nguyên tắc quan trọng trong thực hiện
TTHC, trong đó có nguyên tắc công khai, minh bạch, nguyên tắ
17
Kỷ yếu của hai cuộc Hội thảo khoa học trên đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu,
trong đó có bài “Các yêu cầu trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam -
Hoa Kỳ và các Hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) về TTHC” của
John Benliley - Cố vấn trưởng pháp luật của Dự án Star - Việt Nam. Bài viết là
công trình khoa học có giá trị tham khảo bổ ích không chỉ cho việc bảo đảm tính
phù hợp của Luật TTHC với pháp luật và thông lệ quốc tế mà còn gợi mở nhiều vấn
đề quan trọng trong việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật TTHC.
Ngoài ra, Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Bộ Tư pháp trong khuôn khổ Dự án
VE/02/015-VNCI về “Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Luật Ban hành văn
bản QPPL (sửa đổi)” [76] cũng có nhiều bài viết của các nhà khoa học nghiên cứu
các yếu tố
ảnh hưởng đến tính hiệu quả và khả thi của pháp luật, đụng chạm trực
tiếp đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTHC.
Nhằm thực hiện Đề án “Đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực quản lý nhà
nước, giai đoạn 2007-2010” [82] theo Quyết định 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của
Thủ tướng Chính phủ (Đề án 30) và từ kết quả thực hiện Đề án, nhiều tác giả, trong
đó có Cục Kiể
m soát TTHC, Bộ Tư pháp đã biên tập nhiều sách tham khảo có giá
trị lý luận và thực tiễn, nhất là giá trị thực tiễn, trong xây dựng và thực hiện pháp
luật về giải quyết TTHC, đáng chú ý là các ấn phẩm sau:
- Các Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam, “Kiến nghị chính sách thương mại”
(2011) [21]. Cuốn sách được biên tập dưới sự tài trợ của Liên minh Châu Âu, được
coi là “Cuốn sách trắng”, trình bày các quan điểm, kiến nghị của các Hiệ
p hội
doanh nghiệp Việt Nam, như Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), Hiệp hội Da
giày Việt Nam (LEFASO), Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
(VASEP), Hiệp hội các Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (HASMEX),
Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam Chi nhánh thành phố Hồ Chí
Minh… nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ những khó khăn về chính
luận và thực tiễn quan trọng, trong đó đã trình bày những vấn đề lý luận về kiểm
soát TTHC, về sự tham gia ý kiến đối với quy định về TTHC, tính toán chi phí xây
dựng và thực hiện TTHC, công bố công khai TTHC, rà soát quy định TTHC, vấn
đề tiếp cận, xử lý phản ánh, kiến nghị
, kiểm tra việc thực hiện TTHC, và đặc biệt là
vấn đề quản lý và sử dụng cán bộ đầu mối kiểm soát TTHC. Có thể khẳng định
cuốn sách là cơ sở quan trọng để Luận án tham khảo trong các nghiên cứu việc thực
hiện và kiểm soát TTHC của chính quyền cấp tỉnh ở Việt Nam.
1.5. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI
Một số tác giả nước ngoài có công trình nghiên cứu về nền hành chính, về vị
trí, vai trò của các cấu trúc nền hành chính, về quản trị nhân sự hành chính, về
CCHC ở các nước đang phát triển và về TTHC. Những công trình đó đã đưa ra
những nhận định, đánh giá mang tính khoa học, khách quan đối với công cuộc
CCHC nhà nước ở Việt Nam. Đáng chú ý trong các công trình đó là những báo cáo
19
của Ngân hàng Châu Á, Ngân hàng Thế giới, các tổ chức quốc tế có dự án tài trợ
nhằm nâng cao năng lực xây dựng pháp luật của Quốc hội, Chính phủ. Đặc biệt, Dự
án STAR-Việt Nam đã đề cập nhiều vấn đề trực tiếp đến cải cách TTHC, bảo đảm
tính công khai, minh bạch, tiết kiệm, tạo cơ hội tối đa trong tiếp cận pháp luật của
các cá nhân, tổ chức có nhu c
ầu giải quyết thủ tục, kinh nghiệm cải cách TTHC ở
một số nước trên thế giới, cụ thể là:
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Nâng cao năng lực của cán bộ Chính phủ trong
CCHC” [42]. Kỷ yếu trình bày những kinh nghiệm xây dựng nguồn nhân lực cán
bộ Chính phủ, vai trò và nội dung hoạt động của Viện Nhân sự trong cơ cấu Chính
phủ, những vấn đề về tổ ch
ức nhân sự nền hành chính.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học về “Quản lý thể chế và năng lực cạnh tranh
trong nền kinh tế suy thoái” [43]. Hội thảo đã có nhiều tham luận quan trọng, đáng