Những thay đổi về việc tham gia kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trước và sau khi có bộ luật TTDS 2004 những điểm mới về sự tham gia tố tụng dân sự của VKS khi bộ luật sửa đổi, bổ sung tố tụng dân sự 2011 có hiệu lực pháp luật - Pdf 26

TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………
PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………………
1.Khái quát chung…………………………………………………………………………
2.Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự của Viện
kiểm sát ở Việt Nam qua các thời kỳ………………………………………………………
2.1.Trước khi có Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (có hiệu lực vào ngày1/1/2005)………
2.1.1.Trước năm 1975………………………………………………………………………
2.1.2.Từ 1975 đến 1989……………………………………………………………………
2.1.3.Từ 1990 đến ngày 1/1/2005…………………………………………………………
2.2.Từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực đến trước khi Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 có hiệu lực (1/1/2012)………………
2.2.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong giải quyết việc dân sự…
2.2.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong giải quyết vụ án dân
sự.
2.2.3. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo
của Tòa án………………………………………………………………………
2.3. Từ khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 có
hiệu lực đến nay……………………………………………………………………
2.3.1. Sửa đổi bổ sung quy định về nguyên tắc “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
tố tụng dân sự”………………………………………………………………………
2.3.2. Sửa đổi, bổ sung quy định về việc tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ
việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân……………………………………………
2.3.3. Sửa đổi, bổ sung quy định về trả lại đơn khởi kiện, khiếu nại và giải quyết khiếu
nại về việc trả lại đơn khởi kiện theo hướng bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện
được quyền kiểm sát đối với việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án………………
2.3.4. Sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục giám đốc thẩm, theo đó quy định kéo dài thời
hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của người có thẩm quyền kháng nghị
(trong đó có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) đối với một số trường
hợp đã hết thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm…………………………………

trong hoạt động tố tụng dân sự nói riêng là một vấn đề cấp bách trong bối cảnh
nhiều quan điểm khác nhau tranh luận về sự tồn tại của chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát của nước ta hiện
nay. Với đề tài tiểu luận: “Những thay đổi về việc tham gia kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của VKS trước và sau khi có Bộ luật TTDS 2004. Những điểm mới về
sự tham gia tố tụng dân sự của VKS khi Bộ luật sửa đổi, bổ sung tố tụng dân sự
2011 có hiệu lực pháp luật.” nhóm chúng tôi sẽ cung cấp kiến thức về hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo trình tự các phần chính như sau:
1. Khái quát chung
2. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của
Viện Kiểm sát qua các thời kỳ- phân tích, bình luận
PHẦN NỘI DUNG
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 4
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
1. Khái quát chung
Hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật là hoạt động mang tính tất yếu khách
quan của tất cả các Nhà nước, ở mọi thời đại lịch sử. Có thể khẳng định, ngay từ khi Nhà
nước xuất hiện trong lịch sử, bất luận Nhà nước nào cũng ban hành pháp luật để quản lý
nhà nước và tiến hành hoạt động giám sát đối với toàn xã hội trong việc tuân thủ pháp
luật của mình. Không có một Nhà nước nào tồn tại và phát triển mà không tiến hành hoạt
động giám sát. Ở các nước trên thế giới, cơ quan chính thực hiện cơ chế này được gọi là
những tên khác nhau tùy theo chế độ nhà nước chẳng hạn như Viện công tố Pháp, Viện
Công tố Hoa Kỳ, Viện Công tố Nhật Bản, Viện Công tố Cộng hòa Indonesia, Viện Kiểm
sát Liên Bang Nga, Viện Kiểm sát Trung Quốc… Nhìn chung thì các cơ chế này trên thế
giới đều có chung 2 đặc điểm chung đó là:
• Đều là hoạt động mang tính quyền lực chính trị
• Đều nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật của mình được chấp hành một
cách nghiêm chỉnh và thống nhất
Cơ chế kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở nước ta xuất phát từ bản chất của hoạt
động tư pháp. Đây là một loại hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, gắn với việc giải

Trước 1945:
Việt Nam, trước thời Pháp thuộc, nền kinh tế vẫn còn lạc hậu và kém phát
triển. Vì vậy, pháp luật lúc bấy giờ chưa hoàn thiện, vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề
của tư tưởng phong kiến và chưa có sự phân định rõ rệt giữa các lính vực như hình sự,
dân sự, hành chính và tố tụng.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, chịu ảnh hưởng của bộ luật tố tụng dân sự Pháp năm
1807 và tàn dư của chế độ phong kiến, BLTT thời kỳ này đã có những quy định rõ
ràng, cụ thể. Tuy nhiên, về vấn đề thẩm quyền của Viện Kiểm sát, đặc biệt là hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát vẫn chưa được quy định
trong lĩnh vực tố tụng dân sự lúc bấy giờ.
• Từ 1945 đến 1954:
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 6
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chính phủ lâm thời mà đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành một số sắc lệnh tạo lập hệ thống cơ quan tư
pháp, trong đó có cơ quan Công tố (là tiền thân của Viện Kiểm sát nhân dân) với chức
năng "đấu tranh một cách kịp thời và có hiệu quả với các hành vi phạm tội, bảo đảm
cho việc củng cố chính quyền cách mạng và bảo vệ lợi ích của nhân dân"
1
.
Về cơ cấu tổ chức của cơ quan Công tố được quy định cụ thể ở các sắc lệnh như
Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, Sắc lệnh số
131/SL ngày 20/7/1946.v.v.
Ở Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946, nguyên tắc cơ bản
về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp được quy định tại chương VI- từ
Điều 63 đến Điều 69, tuy nhiên đối với cơ quan Công tố chưa được quy định cụ thể.
Do hoàn cảnh chiến tranh, Hiến pháp năm 1946 không được đưa vào sử dụng, thay
vào đó, Quốc hội đã giao cho Chính phủ và Uỷ ban thường vụ Quốc hội dựa trên
nguyên tắc của Hiến pháp ban hành các Sắc lệnh. Lúc này, tổ chức hoạt động của cơ
quan công tố cũng được quy định. Cụ thể, căn cứ Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946,

chủ trương kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến các địa phương,
trong đó có sự thay thay đổi các cơ quan tư pháp, đặc biệt là các cơ quan Công tố.
Theo đó, cơ quan Công tố có những nhiệm vụ sau: Một là, điều tra và truy tố trước
Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự. Hai là, giám sát việc chấp hành pháp luật
trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra. Ba là, giám sát việc chấp hành pháp luật
trong việc xét xử của các Toà án. Bốn là, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc
thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của các cơ quan giam, giữ
và cải tạo. Năm là, khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng
có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân. Những quy định này của pháp
luật đã xác định tương đối cụ thể và rõ ràng vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền của
Viện công tố trong bộ máy Nhà nước ta.
Chế định Viện kiểm sát lần đầu tiên được quy định trong hiến pháp năm 1959.
Theo đó, tại điều 105 quy định Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan 4 thuộc Hội đồng
Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 8
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
dân. Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo Pháp luật của VKS đã được quy định rõ ràng
tại Hiến pháp và trở thành nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của VKSND.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 do chủ tịch Hồ Chí Minh ban
hành đã cụ thể hóa nguyên tắc trên tại điều 30. Theo đó, việc kiểm sát việc tuân theo
pháp luật của VKS nhân dân được thực hiện bằng cách:
a. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư,
chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước
địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước và của
công dân;
b. Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân dân
những người phạm pháp về hình sự;
c. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của Cơ quan Công an và
của cơ quan điều tra khác;

công dân”.
Trên cơ sở sửa đổi Hiến pháp, năm 1989, Quốc hội cũng thông qua Luật tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được sửa đổi, bổ sung. Trong quá trình thảo luận dự
thảo luật, do quá đề cao vai trò của Hội đồng nhân dân, đã có một số ý kiến cho rằng nên
đặt hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân dưới sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng
cấp. Theo đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương phải báo cáo Hội đồng
nhân dân về hoạt động công tác của Viện kiểm sát nhân dân. Tuy ý kiến này không được
chấp nhận, nhưng luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1989 cũng đã
ghi nhận một phần nội dung của ý kiến trên tại điều 23: "Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và báo cáo tình hình chấp hành pháp luật ở
địa phương theo yêu cầu của Hội đồng nhân dân". Việc thay đổi này đã "đánh dấu xu
hướng bắt đầu từng bước xa rời dần nguyên tắc đặc thù tổ chức và hoạt động của Viện
kiểm sát và chức năng của cơ quan này"
2
.
2 Bài viết " Về đổi mới tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân trong chiến lược cải cách tư pháp của
nước ta hiện nay" của PGS.TS Trương Đắc Linh, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 10
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1.3. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong tố tụng
dân sự từ 1990 đến 1/1/2005:
Cùng với sự phát triển của xã hội, đổi mới kinh tế đất nước, nhờ thực hiện chủ
trương và biện pháp đổi mới, ngành Kiểm sát nhân dân đã đạt được những kết quả tốt
đẹp, góp phần vào giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động tố tụng dân sự. Điều
này đã được cụ thể hóa thông qua quy định của pháp luật, thể hiện được vai trò chức
năng của Viện kiêm sát trong việc tham gia tố tụng dân sự. Dưới đây chúng tôi sẽ trình
bày một số vai trò chính của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật ở một số văn bản pháp luật điển hình cho hoạt động tố tụng giai đoạn này cùng với
những hạn chế nhất định cần được khắc phục.
2.1.3.1. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989

vụ án về tranh chấp hợp đồng, thể hiện sự tự do thỏa thuận giữa các bên, mang tính chất
riêng tư, không còn là vấn đề chung của toàn xã hội như trong giải quyết một số vụ án
dân sự, vậy nên các nhà làm luật đã không quy định thẩm quyền khởi tố cho Viện kiểm
sát trong vụ án kinh tế mà chỉ có quyền tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết.
Mặc dù không có thẩm quyền khởi tố như trong giải quyết vụ án dân sự nhưng
thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án của Tòa sơ thẩm theo thủ tục
phúc thẩm và thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm với vụ án đã có hiệu lực thi hành thì vẫn
được duy trì. Thời gian kháng nghị cũng theo quy định của Pháp lệnh này.
Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Toà án gửi cho Viện Kiểm sát cùng cấp các bản sao bản án, quyết định của Toà
án ngay sau khi ra các văn bản đó; chuyển cho Viện Kiểm sát hồ sơ vụ án để xem xét
theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo yêu cầu của Viện Kiểm sát
2.1.3.3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án lao động năm 1996 quy định về
việc tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân:
Cũng như trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự và Pháp lệnh thủ tục
giải quyết vụ án kinh tế, trong lĩnh vực lao động Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án lao
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 12
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
động cũng quy định thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối
với hoạt động của Tòa án, cơ quan chức năng và các đương sự tham gia giải quyết vụ án.
Theo đó:
Trong quá trình giải quyết vụ án lao động, Viện kiểm sát có quyền tham gia tố
tụng ở bất cứ giai đoạn nào khi xét thấy cần thiết. Riêng với những vi phạm pháp luật liên
quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người
tàn tật và các vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi kiện thì Viện
kiểm sát có quyền khởi tố để bảo vệ quyền và lợi ích cho họ.
Kháng nghị là quyền đặc thù của Viện kiểm sát, do vậy mà trong lĩnh vực lao
động cũng không có ngoại lệ, vậy nên Viện kiểm sát cũng có quyền kháng nghị bản án
dân sự sơ thẩm của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm và thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái

hạn tạm đình chỉ thi hành án không quá sáu tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ
thi hành án.
Khi cơ quan thi hành án có những thông báo về quyết định thi hành án thì quyết
định này phải đồng thời được gửi đến Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét.
Trong quá trình cơ quan thi hành án thực hiện hoạt động tiêu hủy vật chứng, tài
sản, Viện kiểm sát cùng cấp sẽ trực tiếp kiểm sát hoạt động này.
Ngoài những hoạt động vừa nêu ở trên Viện kiểm sát còn có thẩm quyền quan
trọng nữa là kháng nghị đối với các quyết định về thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi
hành án, Chấp hành viên Cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới theo quy định của
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.Thời hạn kháng nghị là mười lăm ngày đối với Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp và ba mươi ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp trên
trực tiếp, kể từ ngày nhận được quyết định về thi hành án
* Hạn chế:
Ngành Kiểm sát nhân dân đã có những bước đổi mới trong nhận thức về vị trí,
tầm quan trọng của công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, lao động, kinh tế, hôn
nhân, gia đình, … Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Thời
kỳ này nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới như Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân (sửa đổi) năm 1998, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, các
Pháp lệnh về thủ tục giải quyết và thi hành án dân sự. Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 14
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động v.v… Những văn bản
pháp luật trên đây đã tạo những cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động
kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự và các việc khác mà trước hết là mở rộng phạm vi
hoạt động của công tác kiểm sát, trên cơ sở đó đã tăng cường về mặt tổ chức và đội
ngũ cán bộ cho công tác này.
Tuy nhiên hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự cũng
tồn tại những hạn chế nhất định mà chúng ta cần xem xét và khắc phục.
Trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực kinh tế, việc nắm
thông tin vi phạm pháp luật chưa được thực hiện tốt, nhiều cuộc kiểm sát trực tiếp có khi

Để đảm bảo cho hoạt động xét xử giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa sơ thẩm
được diễn ra đúng pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi hợp pháp của các bên. Pháp luật
TTDS Việt Nam trong thời kỳ từ 2005( năm BLTTDS 2004 bắt đầu có hiệu lực) đến
trước khi bị sửa đối bổ sung, đã dành nhiều quy phạm quy định về hoạt động kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của VKS trong suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự, kể từ khi
tòa án thông báo thụ lý vụ án cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu không bị
kháng cáo kháng nghị. Điều này được thể hiện cụ thể thông qua một số quy định của
BLTTDS 2004 và văn bản hướng dẫn cụ thể vấn đề này là Thông tư liên tịch
03/2005/TTLT- VKSNDTC- TANDTC, cụ thể như sau:
 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thụ lý vụ án của tòa
án:
Theo quy định tại Điều 174 BLTTDS 2004 và tiểu mục 1.1 mục 1 phần I của
TTLT 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC: Trong trường hợp tòa án quyết định thụ lý
vụ án dân sự thì trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, TÁ phải thông báo
bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết.
Đồng thời tại Điều 6 Quy chế KSDS quy định một cách cụ thể hơn: Khi nhận
được thông báo thụ lý vụ án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải vào sổ thụ lý theo dõi,
kiểm tra văn bản thông báo thụ lý theo những nội dung được quy định tại Điều 174 Bộ
luật tố tụng dân sự; lập phiếu kiểm sát theo dõi vi phạm để tổng hợp kiến nghị với Toà án
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 16
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
các vi phạm về thời hạn gửi thông báo, nội dung, hình thức thông báo; theo dõi quyết
định chuyển vụ án của Toà án.
 Trong giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử:
Trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, bước hòa giải tại tòa là
thủ tục bắt buộc, điều này có thể xuất phát từ nhiều cơ sở lý luận khác nhau, chẳng hạn
như: Giúp giảm bớt số vụ án phải tiến hành xét xử cho tòa, đảm bảo các bên vẫn còn
“hòa khí” tốt đẹp với nhau,…Tuy nhiên trên thực tế có thể vì nhiều lý do khác nhau,
nhiều trường hợp tòa án đã bỏ qua thủ tục hòa giải, cho nên để tránh cho điều này xảy ra.
Những người làm ra BLTTDS 2004 đã quy định tại Khoản 1 Điều 187 BLTTDS 2004 về

85 BLTTDS 2004
 Những vụ án không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 85
BLTTDS 2004, nhưng Toà án tự mình tiến hành một hoặc một số biện
pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 87, Khoản 1
Điều 88 điểm b Khoản 1 Điều 92 BLTTD 2004.
“ Khiếu nại của đương sự về việc thu thập chứng cứ” của Toà án là khiếu nại đối
với quyết định, hành vi của Toà án trong việc thu thập chứng cứ mà đương sự có căn cứ
cho rằng quyết định đó hoặc hành vi đó là không đúng pháp luật, bao gồm các trường
hợp sau:
 Thẩm phán không tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự
 Thẩm phán đã tiến hành biện pháp để thu thập chứng cứ không đúng với
biện pháp mà đương sự yêu cầu
 Thẩm phán tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ theo đúng yêu cầu của
đương sự nhưng không đầy đủ hoặc không đúng quy định của BLTTDS về
việc tiến hành biện pháp đó
 Trong vụ án dân sự mà đương sự khiếu nại về việc Toà án thu thập chứng
cứ theo yêu cầu của đương sự khác;
 Trong vụ án dân sự mà không có đương sự nào có yêu cầu Toà án thu thập
chứng cứ, nhưng Toà án vẫn tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập
chứng cứ
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 18
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
 Trong vụ án dân sự mà đương sự khiếu nại về việc Toà án tự thu thập
chứng cứ không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 87, khoản 1 Điều 88
và điểm b khoản 1 Điều 92 BLTTDS.
Tại tiểu mục 2.1.3 của Mục này còn nêu rõ vai trò của trong trường hợp Toà án
nhận được đơn khiếu nại của đương sự thì trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày
nhận đơn, Toà án chuyển bản sao đơn khiếu nại (có đóng dấu xác nhận của Toà án) cho
Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật và
xem xét việc tham gia phiên toà. Sau khi nhận được bảo sao đơn khiếu nại VKS cần xem

nội dung của vụ án không? Trong BLTTDS 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã
không giải thích khái niệm này cho nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên
dựa trên cơ sở quy định tại Điều 21 BLTTDS 2004 có quy định “ Viện kiểm sát nhân dân
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự”; đồng thời dựa trên bản chất của
quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ giữa hai bên bình đẳng với nhau, cho nên VKS sẽ
không thay thế thực nhà nước để thực hiện quyền công tố như trong tố tụng hình sự. Do
vậy trong trường hợp này có thể suy luận: Phát biểu về việc giải quyết vụ án dân sự chỉ
là phát biểu về việc HĐXX, đương sự, và những người tham gia tố tụng khác có thực
hiện đúng như những gì mà pháp luật tố tụng dân sự không.
 Kiểm sát việc hoãn phiên tòa của tòa án:
Để đảm bảo cho VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của tòa án
thì tại Khoản 3 Điều 238 BLTTDS 2004 còn quy định: Nếu phiên tòa phải hoãn thì TA
phải gửi quyết định hoãn đó cho VKS cùng cấp.
Nếu sau đó, không thể mở phiên tòa đúng thời gian, địa điểm như trong quyết định
hoãn thì TA phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp biết về thời gian, địa điểm mở lại
phiên tòa.
 Quyền xem biên bản phiên tòa và yêu cầu sửa đổi biên bản phiên
tòa:
Khoản 4 Điều 211 BLTTDS 2004 quy định: KSV được quyền xem biên bản phiên
tòa ngay sau khi kết thúc phiên tòa và được quyền yêu cầu ghi sửa đổi, bổ sung và biên
bản phiên tòa nhưng phải ký xác nhận
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 20
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
 Quyền tham gia hỏi của KSV tại phiên tòa:
Điều 222 BLTTDS 2004 : KSV được quyền tham gia hỏi tại phiên tòa sau khi
HĐXX, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự hỏi.
Đồng thời tại Điều 231 BLTTDS 2004 còn quy định: Trước khi kết thúc việc hỏi
tại phiên tòa chuyển sang phần tranh luận, HĐXX phải hỏi KSV có câu hỏi gì thêm hay
không?
 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật qua quyền yêu cầu HĐXX công

cầu Toà án chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát.
Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Viện kiểm sát, Toà án chuyển hồ sơ vụ án
dân sự cho Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu.
• Thẩm quyền kháng nghị:
Theo quy định tại Điều 250 BLTTDS 2004: Viện trưởng VKS cấp trên và cùng cấp
có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của tòa
Sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm với thời hạn kháng nghị được quy định tại
Điều 252 BLTTDS, đó là: Đối với bản án của tòa sơ thẩm thì thời hạn của VKS cùng cấp
là 15 ngày và của VKS cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc từ ngày
VKS cùng cấp nhận được bản án, trong trường hợp KSV không tham gia phiên tòa; còn
đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì thời hạn kháng nghị
của VKS cùng cấp là 7 ngày và của VKS cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày VKS
cùng cấp nhận được quyết định.
Tuy nhiên theo quy định tại mục 5 phần I của TTLT 03/2005/TTLT-VKSNDTC-
TANDTC thì có một trường hợp ngoại lệ đặc biệt sau: Đối với các vụ việc dân sự do Toà
án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thì
Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
phúc thẩm được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Toà án cấp sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Thứ hai, tham gia phiên tòa phúc thẩm:
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 22
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2004 thì VKS tham gia phiên tòa phúc
thẩm trong các trường hợp sau:
• Trường hợp 1: Tòa án có thu thập chứng cứ mà bị đương sự khiếu nại:
Trường hợp này được VKS nhân dân tối cao và tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ
thể tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II TTLT 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC như sau:
“Trường hợp xét thấy cần thiết phải tham gia phiên toà phúc thẩm thì Viện kiểm sát
thông báo bằng văn bản cho Toà án cấp phúc thẩm biết. Toà án cấp phúc thẩm phải gửi

hoạt động tại phiên tòa phúc thẩm được quy định trong các Điều luật tương ứng trong
BLTTDS 2004 như sau:
Đồng thời Điều 256: Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa PT VKS đã ra
quyết định kháng nghị có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị
• Trình bày nội dung kháng nghị tại phiên tòa: Theo quy định tại điểm a Khoản 1
Điều 271 BLTTDS 2004: Tại phiên tòa KSV sẽ trình bày về nội dung kháng nghị,
và như vụ án đó vừa có kháng cáo kháng nghị, thì VKS sẽ sẽ trình bày nội dung
kháng nghị sau khi các đương sự trình bày nội dung kháng cáo của mình
• Quyền yêu cầu xuất trình bổ sung chứng cứ: Theo quy định tại Khoản 3 Điều
271 BLTTDS 2004: Tại phiên tòa KSV có quyền yêu cầu xuất trình bổ sung
chứng cứ
Thứ tư, kiểm sát bản án, quyết định của tòa phúc thẩm:
Ngoài những hoạt động kiểm sát thông qua các hoạt động ở trên thì hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của VKS còn được thể hiện thông qua quyền kiểm sát bản
án, quyết dịnh của tòa phúc thẩm, cụ thể:
Tại Điều 249 BLTTDS 2004 quy định: Trong trường hợp, tòa cấp sơ thẩm chấp nhận
kháng cáo hợp lệ thì phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết.
GVHD: ThS. NGUYỄN NGỌC THỨPage 24
TIỂU LUẬN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Điều 258 BLTTDS 2004 quy định: Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải gửi cho VKS
cùng cấp
Điều 262 BLTTDS 2004: Sau khi thụ lý vụ án thì tòa phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ
án cho VKS cung cấp nghiên cứu, và VKS nghiên cứu trong vòng 15 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án, hết thời hạn này thì VKS sẽ trả lại hồ sơ cho tòa
Điều 281 BLTTDS 2004: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định phúc
thẩm, tòa phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho VSK cùng cấp
Thứ năm, vai trò của kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật của VKS còn được
thể hiện thông qua một số quy định khác, cụ thể
Tại Điều 266 BLTTDS 2004 quy định: Nếu KSV tham gia phiên tòa vắng mặt thì
phải hoãn phiên tòa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status