Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM VŨ NGỌC QUANG NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

MỤC LỤC

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài luận văn 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn 4
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn 5
6. Những đóng góp mới của luận văn 5
7. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT
VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 7
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự 7

Chương 2: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO
PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH 47
2.1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Toà án cấp sơ thẩm 47
2.1.1. Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự 47
2.1.2. Kiểm sát việc ra bản án, quyết định tố tụng 50
2.1.3. Tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự 55
2.2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại Toà án cấp phúc thẩm và
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 76
2.2.1. Kiểm sát thông qua việc kháng nghị phúc thẩm và tham gia phiên
tòa, phiên họp phúc thẩm 76
2.2.2. Kiểm sát thông qua việc kháng nghị và tham gia phiên tòa giám đốc
thẩm, tái thẩm 852.3. Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị 90
2.3.1. Thực hiện quyền yêu cầu 90
2.3.2. Thực hiện quyền kiến nghị 92
Kết luận chương 2 94
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC KIỂM SÁT
VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
VÀ KIẾN NGHỊ 96
3.1. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự 96
3.1.1. Thực tiễn thực hiện kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự 96
3.1.2. Thực tiễn thực hiện việc kiểm sát bản án, quyết định 99
3.1.3. Thực tiễn thực hiện việc tham gia phiên tòa, phiên họp 104
3.1.4. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của
Tòa án 108
3.2. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện

:
Phap lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
PLTTGQCVAKT
:
Phap lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
PLTTGQCTCLĐ
:
Phap lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
TAND
:
Tòa án nhân dân
TTDS
:
Tố tụng dân sự
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
VKS
:
Viện kiểm sát
VKSND
:
Viện kiểm sát nhân dân

1
MỞ ĐẦU


Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, thời gian qua đã có quan điểm cho
rằng, trong lĩnh TTDS không cần có sự tham gia can thiệp của VKSND, bởi vì đây
là lĩnh vực chỉ liên quan đến lợi ích của các đương sự và là việc của các bên
đương sự. VKSND can thiệp vào lĩnh vực TTDS là trái với nguyên tắc quyền
quyết định, tự định đoạt của đương sự. Đây cũng là lý do mà BLTTDS năm 2004
đã hạn chế phạm vi KSVTTPL trong TTDS của VKSND. Tuy nhiên, sau hơn 5
năm thi hành, bên cạnh thành tựu đạt được, BLTTDS năm 2004 đã bộc lộ những
hạn chế, bất cập mà một trong những hạn chế, bất cập đó là mặc dù tiếp tục quy
định KSVTTPL là nguyên tắc cơ bản của TTDS và VKSND là cơ quan tiến hành
tố tụng, nhưng đã loại bỏ một số thẩm quyền của VKSND, hạn chế phạm vi hoạt
động kiểm sát so với quy định của pháp luật trước đó, chưa có cơ chế thích hợp để
VKS thực hiện được đầy đủ, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy
định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND. Trong khi đó, với việc đẩy mạnh
công cuộc đổi mới và hội nhập đất nước hiện nay, các tranh chấp dân sự phát sinh
ngày càng nhiều với tính chất ngày càng phức tạp thì vấn đề bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân mà trước hết là lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng, bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự kịp thời và đúng pháp luật
trở thành các yêu cầu quan trọng cần được giải quyết trong quá trình thực hiện
công cuộc cải cách tư pháp. Mặt khác, xuất phát từ điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể
của đất nước, từ đặc điểm chính trị, từ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ
máy Nhà nước ta cũng như lịch sử quá trình hình thành, phát triển, những thành
tựu và hiệu quả trong hoạt động thực hiện chức năng của VKSND cho thấy cần
thiết phải có sự can thiệp của VKSND vào quá trình tố tụng giải quyết các vụ việc
dân sự theo hướng mở rộng phạm vi hoạt động kiểm sát, tạo cơ chế thuận lợi để
VKSND thực hiện có hiệu quả chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh
vực dân sự. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà Đảng và Nhà nước ta đang
đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, với yêu cầu VKSND phải thực hiện có hiệu
quả và tốt hơn chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, thì việc nghiên cứu để
làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, nội dung của nguyên tắc KSVTTPL trong


pháp luật và bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS. 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài luận văn
3.1. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài luận văn
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm rõ những vấn đề lý
luận, nội dung và thực tiễn thực hiện nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS; trên cơ sở
đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện hiệu quả nguyên tắc theo yêu
cầu cải cách tư pháp.
3.2. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài luận văn
Để đạt được mục đích đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn có các nhiệm vụ
cơ bản sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề về lý luận như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở
của nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS và mối quan hệ giữa nguyên tắc này với các
nguyên tắc cơ bản khác của TTDS.
- Nghiên cứu và tham khảo pháp luật một số nước trên thế giới về vai trò,
trách nhiệm của Viện công tố/VKS trong TTDS để thấy được những ưu điểm phù
hợp với điều kiện của nước ta cần tiếp thu; làm rõ lịch sử hình thành và phát triển
nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS.
- Nghiên cứu làm rõ nội dung nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS, các quy
định của pháp luật TTDS cụ thể hoá nguyên tắc này và chỉ ra những hạn chế, bất
cập của pháp luật quy định về nguyên tắc.
- Khảo sát thực tiễn thực hiện nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS và chỉ
ra những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nguyên tắc này
trong thực tiễn.
- Trên cơ sở những hạn chế, bất cập của pháp luật và những hạn chế, khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện nguyên tắc, đề xuất các kiến nghị tiếp
tục hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc KSVTTPL
trong TTDS.

thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, thống kê, so
sánh, tổng hợp, tham khảo ý kiến chuyên gia …
6. Những đóng góp mới của luận văn
Có thể nói, đề tài luận văn là công trình nghiên cứu khoa học toàn diện, có hệ
thống và mới nhất ở cấp độ luận văn thạc sĩ về nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS.
Đề tài luận văn có những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn sau đây: 6
- Làm rõ khái niệm nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS và cơ sở lý luận, cơ
sở thực tiễn của việc xác định KSVTTPL trong TTDS là một trong những nguyên
tắc cơ bản của Luật TTDS trong điều kiện cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
- Làm rõ nội dung cơ bản của nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS quy định
tại Điều 21 và một số quy định cụ thể của BLTTDS năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2011) có liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn của VKSND trong TTDS.
- Chỉ ra được những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về nguyên
tắc KSVTTPL trong TTDS; những kết quả đạt được và hạn chế, vướng mắc, khó
khăn trong thực tiễn thực hiện nguyên tắc.
- Đề xuất được các nội dung xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực
hiện có hiệu quả nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS.
Với kết quả nghiên cứu, đề tài luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận cơ bản về nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS và là cơ sở để tiếp tục ghi
nhận, khẳng định KSVTTPL trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bản của
TTDS Việt Nam. Các kiến nghị mà tác giả đưa ra trong đề tài luận văn là cơ sở để
tiếp tục hoàn thiện pháp luật, giúp cho những người làm công tác thực tiễn về kiểm
sát việc giải quyết các vụ việc dân sự xác định đúng và sử dụng đầy đủ trách nhiệm,
quyền hạn của VKS trong TTDS, góp phần thực hiện hiệu quả nguyên tắc
KSVTTPL trong TTDS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

Luật TTDS là một trong những ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
của Nhà nước ta. Hoạt động xây dựng và thực hiện Luật TTDS một mặt cũng phải
tuân theo những nguyên tắc chung của pháp luật, nhưng mặt khác chịu sự chi phối,
chỉ đạo bởi các nguyên tắc đặc thù chuyên ngành phù hợp với tính chất, đặc điểm
các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó. Để thực hiện được mục đích
giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, đảm bảo lợi ích 8
của nhà nước, tập thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì cần
phải có những định hướng trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS.
Những định hướng này thể hiện quan điểm, đường lối và chính sách của Nhà nước
ta trong quá trình tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự, được quy định trong luật và
được gọi là nguyên tắc của Luật TTDS. Theo đó, nguyên tắc của Luật TTDS được
hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình
nhận thức, xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS.
Các nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS được ghi nhận trong BLTTDS năm
2004 thành một chế định riêng biệt (tại Chương II). Tổng cộng, BLTTDS năm 2004
(được sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định 23 nguyên tắc cơ bản của Luật TTDS
Việt Nam, từ Điều 3 đến Điều 24 (bao gồm nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận
trong TTDS mới được bổ sung tại Điều 23a). Trong số 23 nguyên tắc cơ bản,
nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS được quy định tại Điều 21 BLTTDS.
Với quy định tại Điều 21 BLTTDS đã khẳng định VKSND là cơ quan chịu
trách nhiệm KSVTTPL trong TTDS; các hoạt động TTDS của những người tiến
hành TTDS và những người tham gia TTDS là đối tượng của hoạt động kiểm sát
của VKSND. Cụ thể hóa nguyên tắc này, BLTTDS cũng đã có những quy định cụ
thể về trách nhiệm, thẩm quyền của VKSND trong TTDS.
Pháp luật TTDS quy định tương đối đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể. Khi tham gia quan hệ pháp luật TTDS, các chủ thể thực hiện các quyền và
nghĩa vụ do pháp luật quy định để bảo vệ quyền, lợi ích của chính mình hoặc của tổ

cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm
cho việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, kịp thời và đúng quy định của pháp
luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của
các đương sự.
Từ định nghĩa trên đây, có thể rút ra các đặc điểm của nguyên tắc KSVTTPL
trong TTDS, đó là: (1) là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình TTDS giải
quyết các vụ việc dân sự; (2) là cơ chế pháp lý (kiểm tra, giám sát trong TTDS) do
chủ thể duy nhất là VKSND thực hiện; (3) nội dung là việc sử dụng các biện pháp,
quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định để ngăn ngừa, phát hiện và loại bỏ vi
phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố 10
tụng; (4) mục đích là nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng,
kịp thời và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự; (5) được ghi nhận và thể hiện thông qua các quy
phạm của pháp luật TTDS.
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự
Việc ghi nhận KSVTTPL trong TTDS là một trong những nguyên tắc cơ bản
của TTDS có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện ở các nội dung sau đây:
Một là, nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS là sự cụ thể hóa quy định của
Điều 126 và Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) về nhiệm
vụ và chức năng của VKSND:
“VKSND nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức
năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN và quyền
làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng,
tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân”.
“VKSND tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp,
góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Lịch sử hình thành và phát triển bộ máy nhà nước ta hơn 65 năm qua đã
khẳng định rằng, để hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước đạt hiệu quả cao, đòi
hỏi phải có cơ chế kiểm tra, giám sát. Và bất kỳ cơ quan nhà nước nào cũng đều tồn
tại (có) bộ phận thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của cơ quan đó mà chúng ta
thường gọi là cơ chế tự kiểm tra, giám sát từ bên trong của hệ thống. Điều này hoàn
toàn phù hợp với lý luận về quy trình quản lý, trong đó bao gồm các khâu: Nhận
thức chủ thể; ra quyết định; tổ chức thực hiện quyết định; kiểm tra (giám sát) việc
thực hiện quyết định và cuối cùng là đánh giá hiệu quả việc thực hiện quyết định và
tổng kết kinh nghiệm [23]. Như vậy, cơ chế kiểm tra, giám sát bên trong, hay còn
gọi là tự kiểm tra, giám sát hoạt động của chính mình (cơ quan, tổ chức) là một
khâu trong quy trình quản lý và đó là nhu cầu tự thân, khách quan. Tuy nhiên, cơ
chế tự kiểm tra, giám sát từ bên trong của chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước (cơ
quan nhà nước cụ thể) bao giờ cũng có những yếu tố chủ quan, khó kiểm soát được 12
hoạt động của chính mình nên đã dẫn đến sự lạm quyền, vi phạm pháp luật. Để khắc
phục tình trạng này, cần thiết phải có một cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài do
một cơ quan chuyên trách thực hiện.
Hoạt động TTDS giải quyết các vụ việc dân sự của TAND là một trong
những hoạt động tư pháp thực hiện quyền lực Nhà nước và hoạt động này có ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân. Những sai sót, vi phạm
trong hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự luôn có khả năng hạn chế quyền của
các đương sự, gây thiệt hại cho người khác, làm giảm niềm tin của nhân dân vào
công lý. Chính vì vậy, để hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự có hiệu quả,
nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, thì hoạt động này cần thiết phải chịu sự kiểm
tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau, bao gồm cả cơ chế tự kiểm tra bên trong
và cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài. Đặc biệt phải thiết lập cho được cơ chế
giám sát trực tiếp, thường xuyên, có tính chuyên nghiệp cao. Trong điều kiện cụ thể

hiệu hóa hoặc biến dạng các quy định của luật [38]. Theo Lênin, để bảo đảm pháp
chế thống nhất, chống lại chủ nghĩa địa phương, phải thành lập hệ thống cơ quan
VKS. Quyền và bổn phận của VKS là phải làm cho sự nhận thức và thực hiện pháp
luật thống nhất trên toàn quốc, đó là nhân tố đảm bảo hơn tất cả mọi sự đảm bảo của
việc thiết lập pháp chế [67, tr 19]. Với nhu cầu về một cơ quan nhà nước có chức
năng duy nhất là giám sát tuân thủ pháp luật, bảo đảm pháp chế thống nhất trong
mọi lĩnh vực hoạt động nhà nước, Lênin đã tiếp thu và phát triển từ mô hình Viện
công tố của Pier Đệ nhất năm 1772 khi mở rộng phạm vi hoạt động kiểm sát tuân
theo pháp luật và coi hoạt động này như là chức năng thuộc tính - chức năng nhà
nước - của VKS.
Đối với nước ta, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cách mạng bước vào
giai đoạn phát triển mới, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược theo Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng vạch ra là: Xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam tiến
tới thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhu cầu của cuộc
cách mạng XHCN đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất, đòi hỏi một sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân
và nhà nước cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau. Nếu không đạt 14
được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội (CNXH) sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức ra VKSND để
KSVTTPL nhằm giữ vững pháp chế XHCN, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh và thống nhất [70, tr 5]. Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 1959 đã đưa ra
chế định VKSND, tạo cơ sở pháp lý thành lập hệ thống cơ quan VKSND ở nước ta.
Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức VKSND năm 1960 được ban hành đã đánh dấu
sự ra đời của một hệ thống cơ quan nhà nước mới trong bộ máy của nhà nước ta, thực
hiện chức năng KSVTTPL và thực hành quyền công tố. Như vậy, sự ra đời của mô
hình VKS thay thế cho mô hình Viện công tố ở nước ta gắn liền với yêu cầu của

Bộ máy Nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, không theo nguyên
tắc tam quyền phân lập. Theo nguyên tắc tập quyền, thì quyền lực nhà nước là
thống nhất, chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước là nhân dân, nhân dân thực
hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Quốc hội được khẳng định là cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Song, do tính chất của Quốc hội là cơ quan đại
biểu cao nhất của nhân dân; phần lớn đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ kiêm
nhiệm; chế độ làm việc của Quốc hội thông qua các kỳ họp v.v…nên Quốc hội chỉ
thực hiện quyền lập Hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà
nước thông qua hình thức nghe, xem xét báo cao (giám sát gián tiếp). Đối với hoạt
động tư pháp, bao gồm các lĩnh vực hoạt động tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính giải quyết các vụ án hình sự (khởi tố, điều tra, giam, giữ, truy tố,
xét xử ), các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và thi hành án, Quốc hội phân công
cho VKS thực hiện KSVTTPL, bảo đảm cho pháp luật trong lĩnh vực hoạt động tư
pháp được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Do đó, kiểm sát các hoạt động tư
pháp là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước (quyền giám sát) do Quốc hội giao
cho VKS. Vì vậy, chừng nào còn thừa nhận chế độ nhất nguyên về chính trị với vai
trò lãnh đạo tuyệt đối và duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, vận dụng nguyên
tắc quyền lực nhà nước là thống nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước, thì việc quy định VKSND thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư
pháp nói chung và KSVTTPL trong việc giải quyết các vụ việc dân sự nói riêng với
tính cách một nguyên tắc của TTDS là phù hợp và rất cần thiết. 16
Thứ tư, xuất phát từ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về xây
dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN, mà một trong những nội dung cốt lõi chính là sự quản lý nhà
nước và xã hội bằng pháp luật, sự tuân theo pháp luật triệt để của các cơ quan nhà

cơ bản về sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đã xác định: VKSND là cơ quan thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Vì vậy, việc ghi nhận
nguyên tắc KSVTTPL trong TTDS chính là sự cụ thể hóa quan điểm, chủ trương,
đường đối của Đảng về cải cách tư pháp.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của việc ghi nhận nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong trong tố tụng dân sự
Ngoài cơ sở lý luận trên đây, việc quy định nguyên tắc KSVTTPL trong tố
tụng dân sự còn xuất phát từ những cơ sở thực tiễn sau:
Thứ nhất, xuất phát từ điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể của nước ta.
Nếu như ở các nước đã có trình độ phát triển cao và truyền thống pháp luật
đã có quá trình lâu dài, người dân có sự hiểu biết về pháp luật đầy đủ, thu nhập cao,
dịch vụ pháp lý phát triển nên họ có khả năng (tự mình hoặc thuê Luật sư riêng) để
bảo vệ quyền và lợi ích của họ khi có tranh chấp; thì ở nước ta đại đa số người dân
chưa có được điều kiện đó.
Nền kinh tế nước ta có xuất phát điểm chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, vừa thoát ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, đời
sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, sự hiểu biết về pháp luật của người dân
còn thấp, đặc biệt là nhân dân ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Khi trình độ dân trí còn hạn chế thì người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự
chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án và với thu
nhập của đa số người dân còn thấp nên họ không có điều kiện mời Luật sư bảo vệ
quyền lợi cho mình khi có tranh chấp. Trong khi đó, hệ thống bổ trợ tư pháp chưa
phát triển, chưa trở thành công cụ hỗ trợ cho người dân khi phát sinh và giải quyết
tranh chấp (số lượng Luật sư ở nước ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu tham
gia tất cả các phiên tòa, so với nhu cầu về dịch vụ pháp lý hiện nay và xu thế gia
tăng nhanh của nhu cầu này trong những năm tới, thì số lượng Luật sư ở nước ta 18
còn chưa tương xứng) [69]. Theo số liệu báo cáo của Liên đoàn Luật sư Việt Nam,

19
tham gia của Công tố viện vào việc giải quyết các vụ án dân sự. Cơ quan Công tố đã
góp phần bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, bảo vệ lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong bối cảnh chính quyền cách
mạng mới được thành lập và đang tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực
dân pháp và âm mưu chia rẽ đất nước.
Từ khi hệ thống cơ quan VKSND được thành lập (năm 1960), hoạt động
kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự của VKS được pháp luật quy định đầy đủ
và cụ thể hơn trong Luật Tổ chức VKSND qua các thời kỳ (1960, 1981, 1992,
2002), đặc biệt Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS)
năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) năm
1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ)
năm 1996 đã ghi nhận KSVTTPL như là nguyên tắc của TTDS, tố tụng kinh tế và
tố tụng lao động. Sau đó, BLTTDS năm 2004 hạn chế phạm vi hoạt động kiểm sát,
song vẫn ghi nhận KSVTTPL trong TTDS là nguyên tắc cơ bản trong TTDS. Trên
cơ sở quy định của pháp luật, hoạt động kiểm sát của VKS đã phát hiện nhiều vi
phạm đặc trưng của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và việc giải quyết án
dân sự của Toà án qua các thời kỳ. Thời kỳ trước khi có BLTTDS, hoạt động khởi
tố vụ án dân sự của VKS được phát huy. Hoạt động kiểm sát lập hồ sơ vụ án của
Tòa án cũng được tăng cường, qua đó kịp thời yêu cầu Tòa án điều tra bổ sung hoặc
tự mình xác minh, bổ sung chứng cứ; số vụ án dân sự Tòa án đưa ra xét xử có Kiểm
sát viên (KSV) tham gia phiên tòa ngày càng nhiều và chiếm tỷ lệ cao trong số vụ
án Tòa án đưa ra xét xử (trong 03 năm 2002 - 2004, tỷ lệ KSV tham gia phiên tòa
xét xử các vụ án dân sự đạt từ 90% trở lên); số bản án, quyết định của Tòa án bị
kháng nghị nhiều
Từ năm 2005 đến 2011, thực hiện BLTTDS năm 2004, hoạt động kiểm sát
tập trung kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, chủ động nắm các khiếu nại của
đương sự đối với việc thu thập chứng cứ của Tòa án để yêu cầu xác minh; công tác
kháng nghi được chú trọng. Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc
dân sự, Viện kiểm sát đã ban hành hàng nghìn bản kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status