ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ THU HƢƠNG
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
TRONG PHÁP LUẬT TRÁCH NHIỆM
BỒI THƢỜNG NHÀ NƢỚC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số : Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
THƢỜNG NHÀ NƢỚC 5
1.1. Khái niệm 5
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về quyền con người 5
1.1.2. Khái niệm về chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở
Việt Nam 6
1.1.3. Khái niệm về bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách
nhiệm về bồi thường nhà nước ở Việt Nam 8
1.1.4. Quan hệ pháp luật về TNBTCNN 8
1.2. TNBTCNN tại một số quốc gia trên thế giới 10
1.2.1. Quy định về TNBTCNN của một số quốc gia trên thế giới 10
1.2.2. Đánh giá 15
1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền con ngƣời trong pháp luật về
TNBTCNN ở Việt Nam 17
1.3.1. Việc xây dựng chế định TNBTCNN là phù hợp với yêu cầu của
việc bảo đảm các quyền con người cũng như phù hợp với xu thế
chung của thế giới 17
1.3.2. Quá trình ra đời Luật TNBTCNN 2010 với mục đích bảo vệ tối
đa các quyền con người về BTNN ở Việt Nam cho đến nay 19
1.4. Pháp luật TNBTCNN hiện hành ở Việt Nam 24
1.4.1. Về đối tượng được bồi thường 25
1.4.2. Về phạm vi trách nhiệm bồi thường 25
1.4.3. Về quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại trong việc yêu cầu
bồi thường 33
1.4.4. Căn cứ xác định TNBTCNN 34
1.4.5. Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường 35
1.4.6. Về các thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường 40
1.4.7. Việc áp dụng Luật TNBTCNN 43
1.5. Một số điểm mới của Luật TNBTCNN so với các văn bản
quy định trƣớc đây 44
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN BLDS
: Bộ luật dân sự
BTNN
: Bồi thường nhà nước
BTTH
: Bồi thường thiệt hại
CQNN
: Cơ quan nhà nước
QPPL
: Quy phạm pháp luật
TNBT
: Trách nhiệm bồi thường
TNBTCNN
: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
TNHT
: Trách nhiệm hoàn trả
TTDS
: Tố tụng dân sự
TTHC
: Tố tụng hành chính
TTHS
: Tố tụng hình sự
TTLT
: Thông tư liên tịch
2
Đó là lý do để học viên lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người trong pháp
luật trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Việt Nam”. Luận văn có thể sẽ là cơ
sở để xác định TNBTCNN một cách toàn diện, đầy đủ, góp phần hoàn thiện
pháp luật về TNBTCNN, làm nền tảng pháp lý cho việc bảo vệ quyền con
người ở Việt Nam.
Trong đề tài này, học viên nghiên cứu chủ yếu dựa trên các nghiên cứu từ:
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Lê Thái Phương (2006): “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà
nước”. Luận văn này chủ yếu nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản, nội
dung và quá trình thực thi pháp luật về trách nhiệm của Nhà nước.
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Phạm Thị Thu Hương (2013):
“Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính nhà nước ở tỉnh Hưng Yên”. Luận văn này chủ yếu
tập chung đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân trong thực hiện pháp luật
về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quản lý hành chính, đồng thời,
đưa ra nhiều giải pháp bảo đảm việc thực hiện pháp luật về bồi thường nhà
nước có hiệu quả.
- Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Hoàng Xuân Hoan (2013):
“Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước”. Luận văn này nghiên cứu sâu sắc về TNBTCNN tại
một số quốc gia trên thế giới.
Bên cạnh đó, học viên còn nghiên cứu những báo cáo khoa học, bài
nghiên cứu, các bài báo, các văn bản Luật có liên quan đến BTNN, …
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu các bản Hiến pháp có quy định về BTNN,
pháp luật quốc tế về chế định BTNN, các văn bản Luật về BTNN tại một số
quốc gia và đạo luật riêng về TNBTCNN ở Việt Nam, cụ thể là Luật
4
5. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
TNBTCNN là một vấn đề mới, chỉ mới thực sự được biết đến kể từ khi
Luật TNBTCNN năm 2010 ra đời, do đó, chưa có nhiều bài viết nghiên cứu
vấn đề này. Luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề mà thực tiễn
phát sinh, đánh giá được những hạn chế liên quan đến phạm vi bồi thường,
đối tượng bồi thường, thiệt hại được bồi thường và khó khăn, vướng mắc
trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại cũng
như việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với thủ tục giải quyết bồi
thường của cơ quan có TNBT. Học viên nghiên cứu đề tài này với tham vọng
Luận văn sẽ là cẩm nang để người dân cũng như các cán bộ, công chức của cơ
quan Nhà nước nghiên cứu, vận dụng để tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình,
quyền và lợi ích của Nhà nước. Đồng thời, Luận văn được hy vọng sẽ là một
phương tiện, mà thông qua đó, có tính chất tuyên truyền, giáo dục tới các đối
tượng trong xã hội đã, đang và sẽ có liên quan đến TNBTCNN.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
nhà nước trong xây dựng, sửa đổi và thực thi các văn bản pháp luật liên quan
đến bảo vệ quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước ở Việt Nam. Thêm vào đó, luận văn cũng có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho việc nghiên cứ, giảng dạy môn luật nhân quyền và các
môn học khác có liên quan ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo,
nghiên cứu khác.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận; Lời cam đoan; Danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con người trong pháp luật
trách nhiệm bồi thường nhà nước.
Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật về
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong pháp
kiến, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến
6
ngày nay. Xuất phát từ bối cảnh lịch sử đó, ở nước ta, quyền con người được
hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người
được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế” [52, tr.42].
Như vậy, từ khái niệm mang cấp độ quốc tế đến khái niệm mang cấp độ
quốc gia, mà ở đây là nước Việt Nam, cho thấy dù nhìn quyền con người ở
góc độ nào và cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là
những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ; là những
giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai
đoạn lịch sử.
1.1.1.2. Đặc điểm của quyền con người
Quyền con người có đặc điểm cơ bản của riêng nó, mà trong đó, quyền
con người mang tính phổ biến được hiểu là những quyền tự nhiên, vốn có, tất
yếu của con người khi sinh ra, được áp dụng bình đẳng, không phân biệt về
chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, giới tính, thành phần, xuất thân…Đồng thời,
quyền con người còn mang tính không thể chuyển nhượng thể hiện ở việc các
quyền đó không thể bị tước đoạt hay hạn chế một các tùy tiện bởi bất cứ ai,
Nhà nước nào, chủ thể nào trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia cho
phép; quyền con người mang tính không thể phân chia, mọi quyền đều có tầm
quan trọng như nhau, việc tước bỏ hay hạn chế vát kỳ quyền con người nào
đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, gia trị và sự phát triển của con người.
Và, quyền con người mang tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, sự vi
phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc
bảo đảm các quyền khác và ngược lại.
1.1.2. Khái niệm về chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở
Việt Nam
Bồi thường là việc “đền bù những tổn thất đã gây ra” [60, tr.191]. Về
8
cần có sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật để bảo đảm các hoạt động
này đi đúng với các chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Do đó, pháp luật về TNBTCNN được hiểu là tổng thể các văn bản quy phạm
pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, từ các quy định của
Hiến pháp, các văn bản luật và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các vấn đề khác có liên quan để thực
hiện có hiệu quả trách nhiệm này. Như vậy, pháp luật về TNBTCNN là hệ
thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do các CQNN có
thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện trên nguyên tắc thỏa thuận, bình
đẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện
TNBTCNN, xử lý trách nhiệm của người thi hành công vụ và hoạt động quản
lý nhà nước về công tác bồi thường.
1.1.3. Khái niệm về bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách
nhiệm về bồi thường nhà nước ở Việt Nam
Từ những khái niệm nêu trên về quyền con người, về TNBTCNN, học
viên cho rằng bảo vệ quyền con người trong pháp luật TNBTCNN là việc xây
dựng một hệ thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của
Đảng, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình thi hành công vụ giữa các CQNN có thẩm
quyền với các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ những nhu cầu, lợi ích tự nhiên,
vốn có và khách quan của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
1.1.4. Quan hệ pháp luật về TNBTCNN
Có thể hiểu quan hệ pháp luật về TNBTCNN là những quan hệ phát
sinh trong quá trình thực hiện TNBTCNN và được các quy phạm pháp luật về
TNBTCNN điều chỉnh, trong đó các chủ thể có quyền và nghĩa vụ đối với
nhau trên nguyên tắc bình đẳng và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Cũng
9
ngoài những điểm giống nhau thì giữa TNBTCNN và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng cũng có những điểm khác biệt, chứa đựng những yếu
tố đặc thù về xác định TNBTCNN bao gồm: không quy định lỗi là một căn cứ
xác định TNBTCNN; hành vi gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ phải
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là trái pháp luật; hành vi trái
pháp luật gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ phải thuộc các trường
hợp được bồi thường mà Luật quy định.
1.2. TNBTCNN tại một số quốc gia trên thế giới
Chế định pháp luật về TNBTCNN là một chế định khá phức
tạp và có nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến chính sách pháp lý
của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, với nỗ lực mong muốn bảo vệ triệt để
các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm bởi
hoạt động công quyền; kiểm soát, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp
luật, xu hướng lạm dụng quyền lực của những người thực hiện công
quyền mà việc xây dựng và hoàn thiện chế định pháp luật này là
hoàn toàn cần thiết [34, tr.68].
1.2.1. Quy định về TNBTCNN của một số quốc gia trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới, chế định pháp luật về BTNN của các nước có
hai mô hình chính bao gồm nhóm quốc gia có đạo luật riêng về BTNN và
nhóm các quốc gia không có đạo luật riêng về BTNN. Việc quy định
TNBTCNN trong một văn bản luật riêng hay chỉ quy định tại một số điều
trong văn bản luật chung của một số quốc gia, mục đích duy nhất và chung
nhất, là nhằm bảo vệ một cách cao nhất, có hệ thống các quyền của con người
trong việc thể hiện TNBTCNN. Do đó, có thể hiểu, dù ở quốc gia nào, dân tộc
nào, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ra sao, hệ thống pháp luật quy
định như thế nào, thì mưu cầu mang lại sự bình đẳng, dân chủ cho người dân
11
luôn ở vị trí thượng tôn. Việc hình thành và phát triển của pháp luật về
TNBTCNN gắn liền với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời,
luật hết sức phức tạp và thiếu vắng tính hệ thống. Bên cạnh những quy phạm
pháp luật thành văn thì hình thức tồn tại chủ yếu của pháp luật về BTNN của
Đức đến nay vẫn chủ yêu là án lệ” [33, tr. 158].
Ở các quốc gia này, nhìn chung, các quy định về TNBTCNN nhằm
điều chỉnh đối với các vấn đề như sau:
- Về quyền yêu cầu bồi thường thể hiện ở hai khía cạnh là: “khi nào thì
người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường và người bị thiệt hại có quyền
yêu cầu ai bồi thường” [36, tr.5]. Đa số pháp luật của các nước quy định
người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu bồi thường
nhưng người bị thiệt hại lại không có quyền yêu cầu người thi hành công vụ
bồi thường mà phải yêu cầu Nhà nước, hoặc CQNN bồi thường. Ví dụ: Thụy
Sỹ quy định người bị thiệt hại phải gửi yêu cầu của mình đến Bộ Tài chính để
xem xét việc yêu cầu bồi thường và sau đó mới có quyền khởi kiện ra Tòa án
để yêu cầu bồi thường; Nhật Bản lại quy định cho người bị thiệt hại có quyền
khởi kiện ngay ra Tòa để yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Về thời hiệu yêu cầu bồi thường quy định tương tự thời hiệu yêu cầu
bồi thường trong luật dân sự, như Nhật Bản quy định thời hiệu yêu cầu bồi
thường như quy định của BLDS. Thụy Sỹ quy định thời hiệu yêu cầu Liên
bang bồi thường là 06 tháng. Nếu trong thời hạn 1 năm sau khi biết về thiệt
hại mà người bị thiệt hại không yêu cầu bồi thường thì Liên bang không có trách
nhiệm bồi thường, đồng thời, “trong thời hạn 10 năm kể từ ngày công chức thực
hiện hành vi gây thiệt hại nếu Liên bang từ chối yêu cầu hoặc không trả lời
trong thời hạn 03 tháng, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện trong thời hạn 06
tháng, nếu không khởi kiện thì mất quyền được bồi thường” [36, tr.5]. Trong khi
13
đó, Trung Quốc quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 2 năm, kể từ khi xác
định được hành vi của người thi hành công vụ là trái quy định của pháp luật.
Nước Đức thì quy định thời hiệu tùy theo loại TNBT căn cứ thời hiệu quy
định của pháp luật chuyên ngành.
sự việc tích cực và tiêu cực” [7, tr.59].
- Về thủ tục giải quyết bồi thường được quy định rất khác nhau, trong
đó, có nhiều loại hình thủ tục như thủ tục tố tụng, thủ tục thương lượng bắt
buộc, trong đó, Canada quy định “Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền
giải quyết bồi thường và thủ tục giải quyết bồi thường là thủ tục tố tụng dân
sự” [60, tr.176]. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Canada chưa có văn bản nào
quy định cụ thể về vấn đề đền bù thiệt hại cho người buộc tội oan mà chủ yếu
thực hiện thông qua án lệ. Giống như Canada, Hàn Quốc cũng quy định thủ
tục giải quyết bồi thường là TTDS. Hoa Kỳ quy định thủ tục giải quyết bồi
thường tại cơ quan có TNBT, nếu không được thụ lý giải quyết bồi thường thì
người bị thiệt hại “có thể khởi kiện ra Toà án liên bang cấp quận với thời
hiệu không giới hạn” [48, tr.11] để yêu cầu giải quyết bồi thường. Ngược lại
với các quốc gia trên, Pháp quy định “người bị hại có quyền lựa chọn một
trong hai khả năng: khởi kiện công chức ra Tòa án tư pháp để yêu cầu bồi
thường theo thủ tục dân sự, hoặc khởi kiện CQNN ra trước Tòa án hành
chính để yêu cầu bồi thường theo thủ tục BTNN” [57, tr.116]. Ngoài ra, Nhật
Bản, do có hai cơ chế là bồi thường thiệt hại và đền bù tổn thất, do đó, đối với
TNBT thiệt hại thì đây là nghĩa vụ bắt buộc của Nhà nước nên cơ chế thực
hiện trách nhiệm là cơ chế dân sự, “bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà
nước bồi thường thông qua thương lượng hoặc khởi yêu cầu Nhà nước bồi
thường theo pháp luật tố tụng dân sự” [35, tr.125]. Đối với trách nhiệm đền
bù tổn thất là một chính sách của Nhà nước nhằm bù đắp một phần thiệt hại,
15
vì vậy, “trong quá trình giải quyết vụ việc, khi cơ quan có thẩm quyền giải
quyết vụ việc sẽ quyết định luôn việc đền bù theo mức cố định đã được pháp
luật quy định” [35, tr.125].
- Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, hầu hết pháp luật
của tất cả các nước đều có quy định về TNHT của người thi hành công vụ,
được coi là một chế tài không thể thiếu mang tính răn đe, giáo dục đối với cán
án lệ thì vấn đề cốt lõi những quy định đó của pháp luật mỗi quốc gia cùng
hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người khi bị gây ra thiệt hại của người
thi hành công vụ của cơ quan công quyền. Do đó, việc vận dụng các quy định
của pháp luật cũng như từ thực tiễn thi hành của các quốc gia trên thế giới
liên quan đến TNBTCNN là điều vô cùng quan trọng để xây dựng một hệ
thống pháp luật về BTNN ở Việt Nam, mang tinh thần thượng tôn trong việc
bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực BTNN. Điển hình, việc ghi nhận các
quy định liên quan đến phạm vi bồi thường, các yếu tố lỗi để xác định TNBT
của người thi hành công vụ và các thiệt hại thực tế xảy ra là kim chỉ nam cho
việc xây dựng một đạo luật riêng, linh hoạt, có tính bền vững và hiệu quả áp
dụng cho Việt Nam. Qua đó, trên tinh thần pháp luật về BTNN trên thế giới,
học viên khẳng định Việt Nam cũng đã tiếp thu, chọn lọc, rút ra được kinh
nghiệm trong việc xây dựng Luật TNBTCNN ở Việt Nam, cụ thể là:
Thứ nhất, pháp luật về TNBTCNN của Việt Nam tiếp thu trên tinh thần
không quy định quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết bồi thường
ngay mà quy định việc giải quyết bồi thường phải được thực hiện tại cơ quan
có TNBT thông qua việc thương lượng giữa người bị thiệt hại và cơ quan có
TNBT. Người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường
do cơ quan có TNBT ban hành thì trong thời hạn Luật định, người đó mới có
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục TTDS.
Thứ hai, Luật TNBTCNN của Việt Nam tiếp thu một phần kinh nghiệm
17
xây dựng cơ quan có TNBT theo mô hình phân tán giống một số nước trên
thế giới, trong đó, xác định đối với từng vụ việc cụ thể thì cơ quan có TNBT
sẽ là cơ quan giải quyết bồi thường thông qua thương lượng và nếu người bị
thiệt hại khởi kiện sau thì Tòa án sẽ giải quyết bồi thường.
Thứ ba, Việt Nam tiếp thu tinh thần xây dựng luật theo hướng quy định
rõ lĩnh vực được bồi thường và liệt kê cụ thể từng trường hợp được bồi thường.
Thứ tư, Việt Nam ghi nhận và tiếp thu quan điểm về nghĩa vụ hoàn trả
các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế nêu trong các điều ước quốc tế về quyền
con người mà Việt Nam đã là thành viên, trong đó, từ những yêu cầu cơ bản
đối với việc bảo đảm các quyền con người, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
do công chức nhà nước gây ra là một trong những quyền cơ bản về dân sự,
chính trị của con người. Tại khoản 5 Điều 9, ICCPR đã tuyên bố: "Bất cứ
người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp pháp
đều có quyền yêu cầu được bồi thường" [52, tr.503]. Bên cạnh đó, thực tiễn
pháp lý trên thế giới đã cho thấy càng ngày càng có nhiều quốc gia có luật về
TNBTCNN mặc dù nội dung cũng như truyền thống, tư duy pháp luật giữa
các nước có sự khác nhau nhưng có chung một quan điểm về việc Nhà nước
phải thừa nhận trách nhiệm đối với những hậu quả do cán bộ, công chức Nhà
nước gây ra trong quá trình thực thi công vụ. Đồng thời, việc bảo vệ và thúc
đẩy các quyền con người về dân sự, chính trị ngày càng được quan tâm, duy
trì một trật tự xã hội ổn định và công bằng là mục tiêu mà mọi quốc gia, dù ở
chế độ chính trị nào, dù trong hoàn cảnh nào, nền kinh tế ra sao, vẫn luôn
hướng đến và mong mỏi nguyện vọng đó, ý chí đó.
Như đã nêu ở mục trên, trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới thể
hiện quyền lực của Nhà nước với nhân dân song song với việc bảo đảm tối ưu
nhất sự bình đẳng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, đặc biệt, là quyền
19
con người trong pháp luật về BTNN như vậy, không chỉ hòa vào xu thế chung
của khu vực, của thế giới mà việc thừa nhận trách nhiệm của Nhà nước cũng
là phù hợp với nền dân chủ mà chúng ta đang tích cực xây dựng trong Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
1.3.2. Quá trình ra đời Luật TNBTCNN 2010 với mục đích bảo vệ tối
đa các quyền con người về BTNN ở Việt Nam cho đến nay
Ở nước ta, quyền con người đã được khẳng định ngay từ những lời nói
đầu khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt
Nam vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Chỉ một ngày sau đó, tức là ngày 3 tháng