Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện từ thực tiễn tỉnh Nam Định - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NHƯ

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: GS.TS. THÁI VĨNH THẮNG

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ
ràng, công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Như


MỤC LỤC

1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện quản lý nhà nước có hiệu quả, nước ta được chia thành
các đơn vị hành chính đồng thời tổ chức chính quyền địa phương theo đơn vị
hành chính tỉnh, huyện, xã. Trong thiết chế chính quyền địa phương có Hội
đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND), là bộ phận hợp thành
bộ máy nhà nước của quốc gia thống nhất, là cơ quan quản lý địa phương, thể
hiện quyền lực của nhân dân địa phương. Trong đó, HĐND là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm
chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân và cơ quan nhà nươc cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định chủ
trương, biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc
phòng, an ninh, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hội
đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân.
Từ khi thành lập nước đến nay, thiết chế HĐND ngày càng được phát
triển và hoàn thiện. Trong đó, HĐND cấp huyện có vai trò quan trọng trong
việc triển khai thực hiện pháp luật, giải quyết các vấn đề của địa phương. Do
đó, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không chỉ đặt ra
đối với các cơ quan nhà nước ở Trung ương mà phải quan tâm thích đáng đến
chính quyền địa phương, trong đó có HĐND cấp huyện. Hiến pháp năm 2013
có những quy định mới về chính quyền địa phương. Vì vậy, để cụ thể hóa quy
định mới của Hiến pháp Quốc hội đã ban hành Luật bầu cử đại biểu quốc hội
(ĐBQH) và HĐND năm 2015, Luật tổ chức chính quyền địa phương để thay
thế các luật trước đây.
Tỉnh Nam Định có 10 đơn vị hành chính cấp huyện. Từ năm 2009 thực
hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội về việc thực hiện thí điểm

1




nước ta hiện nay” của Phạm Quang Hưng; Luận văn thạc sỹ “Chính quyền
địa phương qua các bản Hiến pháp Việt Nam” của Nghiêm Thu Hồng.
- Nhóm đề tài, công trình nghiên cứu riêng về tổ chức và hoạt động của
HĐND có: Đề tài nghiên cứu cấp bộ do PGS,TS Thái Vĩnh Thắng làm chủ
nhiệm, bảo vệ năm 2012 “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức
và hoạt động của HĐND địa phương”; Luận án tiến sỹ của Đinh Ngọc Thắng
về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND trong điều kiện xây dựng và
hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay”; Luận văn thạc sỹ“Vai trò của
HĐND thành phố Đà Nẵng trong điều kiện không tổ chức HĐND quận,
huyện, phường từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” của Đinh Văn Hùng; Luận
văn thạc sỹ“Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã, qua thực tiễn ở tỉnh
Thừa Thiên – Huế” của Nguyễn Thị Nữ; Luận văn thạc sỹ“Nâng cao hiệu lực
giám sát của HĐND tỉnh” của Vũ Mạnh Thông; Luận văn thạc sỹ“Hoạt động
giám sát của HĐND cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” của Nguyễn
Minh Tú;Luận văn thạc sỹ“Tổ chức và hoạt động của HĐND tỉnh từ thực tiễn
tỉnh Quảng Bình” của Phạm Thái Quý.
Như vậy, đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về tổ chức
và hoạt động của HĐND cấp huyện với đặc điểm là cấp chính quyền trung
gian ở địa phương, của đơn vị hành chính chủ yếu là dân cư nông thôn. Do
đó, tôi chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện
từ thực tiễn tỉnh Nam Định” để tiếp tục đi sâu nghiên cứu về những đặc thù
riêng trên nền tảng đặc điểm chung của thiết chế Hội đồng nhân dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng tổ
chức và hoạt động của HĐND cấp huyện tỉnh Nam Định, Luận văn đề xuất
các quan điểm và giải pháp đổi mới về tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động

3

4


Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm: phương pháp
thống kê; phương pháp phỏng vấn trực tiếp; phương pháp quan sát, tổng kết
thực tiễn; phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải; phương pháp so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn đã tập hợp, hệ thống hóa, bổ sung tri thức, quan
điểm lý luận góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả
hoạt động của HĐND cấp huyện trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu
tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, những
người làm công tác về tổ chức chính quyền địa phương, những người tham
mưu cho hoạt động của HĐND và những người là đại biểu HĐND.
7. Cơ cấu của luận văn
Nội dung Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức, hoạt động của Hội
đồng nhân dân cấp huyện.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
cấp huyện tỉnh Nam Định.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu
quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện tỉnh Nam Định.

5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

nghị, Chủ tịch đoàn đề cử thư ký kỳ họp HĐND, trong kỳ họp HĐND cũng
có thể lập các Tiểu ban lâm thời để xem xét trước các dự án, nghị quyết. Có
thể thấy, đây là sự manh nha trong việc thành lập Ban HĐND sau này.
Năm 1959 Quốc hội ban hành Hiến pháp, năm 1962 ban hành Luật tổ
chức HĐND và UBHC các cấp. Ở cấp độ Hiến pháp, đây là lần đầu tiên xác
định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.Một điểm mới là tất
cả các đơn vị hành chính đều lập HĐND và UBHC; các thành phố có thể lập
khu phố có HĐND và UBHC.Nhiệm kỳ HĐND tỉnh vẫn là 03 năm, các cấp
khác là 02 năm. Điểm mới trong Hiến pháp 1959 và Luật 1962 là HĐND có
nhiệm vụ, quyền hạn bầu và bãi miễn Chánh án Tòa án nhân dân (TAND)
cùng cấp. Về cơ cấu tổ chức Luật này quy định tùy theo nhu cầu công tác,
HĐND có thể lập các Ban HĐND để giúp HĐND tìm hiểu ý kiến, nguyện
vọng của nhân dân, góp ý kiến HĐND trong xây dựng và thực hiện những
chủ trương công tác ở địa phương. Thành viên của các Ban không chỉ là đại
biểu HĐND mà có thể cử thêm người ngoài HĐND. Quyền hạn của đại biểu
HĐND được bổ sung thêm quyền chất vấn UBHC và các cơ quan chuyên
môn thuộc UBHC.
Sau khi đất nước thống nhất, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1980,
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983. Hiến pháp và Luật xác định vị trí,
vai trò HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa
phương bầu, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chính quyền cấp trên. Nhiệm
vụ, quyền hạn của HĐND các cấp được Hiến pháp và Luật quy định cụ thể
theo các lĩnh vực. Về mặt tổ chức, Luật năm 1983 quy định việc thành lập các
Ban chuyên trách là bắt buộc.Tuy nhiên, Luật chưa quy định cụ thể có mấy
Ban, tên gọi cũng như phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa các Ban. Cùng
7


với việc thành lập các Ban, Luật 1983 quy định thành lập Ban thư ký để giúp
Chủ tịch UBND điều hòa, phối hợp các hoạt động của các Ban HĐND; tổ

thêm việc giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng
cấp. Bỏ quy định HĐND bầu thành viên của TAND mà chỉ bầu Hội thẩm
TAND. Bổ sung đại biểu HĐND có quyền chất vấn đối với người đứng đầu
các cơ quan như Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, Viện trưởng VKSND,
Chánh án TAND.
Để tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa
phương, ngày 26/01/2003, Quốc hội thông qua Luật tổ chức HĐND và
UBND thay thế Luật 1994. Theo luật này vị trí, tính chất, nguyên tắc tổ chức,
hoạt động của HĐND cơ bản không thay đổi nhưng đã làm rõ hơn hai chức
năng quyết định và giám sát. Về tổ chức, Luật quy định Chủ tịch HĐND
không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục. Về Thường trực HĐND,
Luật bổ sung Thường trực HĐND cấp xã, quy định ở cấp tỉnh, cấp huyện có
chức danh Ủy viên Thường trực. Về nhiệm vụ, quyền hạn, Luật này đã quy
định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cấp HĐND; quy định thêm những
nhiệm vụ, quyền hạn riêng của HĐND thành phố trực thuộc Trung ương, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (chính quyền đô thị).
Sau hơn 10 năm thực hiện Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003,
HĐND và UBND các cấp đã không ngừng được củng cố và hoàn thiện, cơ
bản thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội của địa phương theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua thực tiễn
hoạt động của HĐND và UBND các cấp và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ
mới cho thấy Luật này đã bộc lộ những vấn đề cần được nghiên cứu, sửa đổi,
bổ sung như: Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và
phương thức hoạt động của HĐND và UBND cơ bản giống nhau ở cả 3 cấp;
chưa thể hiện tính gắn kết thống nhất giữa HĐND và UBND cùng cấp trong
chỉnh thể chính quyền địa phương; chưa phân biệt theo đặc điểm đô thị, nông
thôn, hải đảo; chưa phân định rõ thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước ở Trung
9




Thứ nhất, tổ chức bộ máy HĐND các cấp ngày càng hoàn thiện. Từ chỗ
chưa có thường trực HĐND, đến Luật 1983 thành lập Ban Thư ký, Luật 1989
thành lập Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện, Luật 2003 có thêm
Thường trực HĐND cấp xã, Luật 2015 mở rộng thành viên Thường trực
HĐND cấp tỉnh, cấp huyện. Từ chỗ chưa có các Ban HĐND đến Luật 1958
tại kỳ họp HĐND có thể thành lập các Tiểu ban lâm thời, Luật 1962 HĐND
có thể thành lập các Ban, đến Luật 1983 việc thành lập các Ban là bắt buộc,
Luật 1994 quy định cụ thể số lượng và tên các Ban HĐND cấp tỉnh, cấp
huyện, Luật 2015 bổ sung quy định HĐND cấp xã lập Ban pháp chế và Ban
Kinh tế - xã hội. Tổ đại biểu được thành lập kể từ Luật năm 1983.
Thứ hai, vị trí, tính chất của HĐND ngày càng định hình rõ ràng hơn.
Từ chỗ Sắc lệnh 63 quy định HĐND là cơ quan do nhân dân bầu, là cơ quan
thay mặt nhân dân, đến Luật năm 1958 đã xác định HĐND là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân bầu ra. Các Luật năm 1983, 1989 và
1994 xác định rõ vị trí, tính chất của HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở
địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, do
nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân và cơ quan nhà
nước cấp trên.
Thứ ba, cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội thì nhiệm vụ, quyền hạn
của HĐND các cấp ngày càng được mở rộng và quy định cụ thể. Từ quy định
nhiệm vụ, quyền hạn chung đến quy định cụ thể trong từng lĩnh vực; quy định
cụ thể cho từng cấp HĐND. Cùng với việc hoàn thiện bộ máy, pháp luật đã
từng bước quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực, các Ban,
các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND.
Thứ tư, nhiệm kỳ của HĐND các cấp ngày càng tăng và thống nhất
giữa các cấp. Từ chỗ nhiệm kỳ HĐND cấp huyện và cấp xã chỉ 02 năm,
nhiệm kỳ HĐND cấp huyện tăng lên 03 năm, 04 năm. Đến Luật tổ chức

11

12


bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, HĐND và thông qua các cơ quan
nhà nước khác”. Theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính
quyền địa phương năm 2015: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do
nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
và cơ quan nhà nước cấp trên”.
HĐND đại diện cho nhân dân ở địa phương. HĐND bao gồm các đại
biểu đại diện của mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, công nhân,
nông dân, trí thức. Do đó, các quyết định của HĐND luôn bảo đảm tính hài
hòa vì lợi ích chung của mọi tầng lớp nhân dân. Ở nước ta, Quốc hội, HĐND
và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
tập trung dân chủ, tức là theo chế độ tập quyền XHCN trong hình thức cấu
trúc nhà nước đơn nhất. Cùng với cấu trúc hành chính lãnh thổ của nước ta,
trong hoạt động của bộ máy nhà nước cấp dưới phục tùng cấp trên, địa
phương phục tùng trung ương “cấu trúc hành chính lãnh thổ địa phương chỉ
thuần túy mang tính hành chính, không bào hàm ý nghĩa một cấu trúc lãnh
thổ có chủ quyền”[33,tr.70]. Theo đó, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương, chứ không phải là của địa phương. Ngoài việc ban hành các
nghị quyết chủ đạo (đường lối, chính sách chung), nghị quyết cá biệt để giải
quyết các vấn đề cụ thể, HĐND còn có thẩm quyền ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật. Như vậy HĐND các cấp là mắt xích trong việc thực hiện
quyền hành pháp. Là cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương nhưng HĐND không có thẩm quyền lập pháp như Quốc hội, do đó
HĐND không phải là phân hệ của cơ quan lập pháp. HĐND đại diện cho
nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy
tiềm năng của địa phương, bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố
quốc phòng, an ninh, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

thông qua các nghị quyết thực hiện trên địa bàn. Các tờ trình, dự thảo nghị
quyết được UBND chuẩn bị chu đáo; các ban liên quan của HĐND thẩm tra
14


kỹ lưỡng, tạo cơ sở để đại biểu HĐND thảo luận và quyết định. Do quá trình
phân cấp mạnh mẽ, tạo sự chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cấp
huyện nên HĐND phải xem xét, thông qua nhiều nghị quyết chuyên đề phát
sinh ở địa phương sát thực tế, phù hợp lòng dân nên tính khả thi cao.
Tại kỳ họp, HĐND huyện cũng dành thời gian để xem xét, thảo luận
các báo cáo theo thẩm quyền. Phiên chất vấn, trả lời chất vấn- một hình thức
giám sát trực tiếp của HĐND tại kỳ họp HĐND huyện cơ bản đáp ứng được
nguyện vọng của đông đảo cử tri.
Ngoài giám sát trực tiếp tại kỳ họp, HĐND huyện còn thực hiện có
hiệu quả chức năng giám sát giữa hai kỳ họp. Quá trình giám sátnêu lên
những vấn đề bức xúc, nổi cộm, nhiều nội dung kết luận sát đúng, thuyết phục
được đơn vị liên quan tiếp thu sửa chữa. Những vấn đề liên quan đến nhiều cơ
quan, đơn vị và cấp trên được tổng hợp báo cáo trực tiếp trước HĐND để đại
biểu thảo luận, xem xét và quyết định.
Vị trí, vai trò của HĐND huyện không những được xác định trong quá
trình thực hiện chức năng của HĐND, mà còn thể hiện trong các nhiệm vụ
khác nhau của HĐND như hoạt động TXCT, hoạt động của Thường trực
HĐND giữa hai kỳ họp.
1.1.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện
Từ vị trí, vai trò của mình, HĐND cấp huyện có những nhiệm vụ,
quyền hạn sau:
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền: HĐND
huyện ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của
HĐND huyện; Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về QPAN; biện pháp
bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành

quy định của pháp luật; Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành,
lĩnh vực trên địa bàn huyện trong phạm vi được phân quyền; Quyết định biện
pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên

16


trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục
hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật.
Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội: Quyết định biện pháp phát triển hệ
thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự
nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức
khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế
hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi
đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói,
giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo
trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.
Trong bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật: Giám sát việc
tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của
HĐND huyện; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND,
VKSND cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm
pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp xã.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Đặc điểm, nguyên tắc hoạt động và các nhân tố tác động đến tổ chức
và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện
1.2.1. Đặc điểm và tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp huyện
Nguyên tắc “tập trung dân chủ” là nguyên tắc chi phối hoạt động của
các cơ quan trong bộ máy của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tuy
nhiên tùy thuộc vào vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ mà trong tổ chức và

đảm bảo phát huy trí tuệ tập thể, vì lợi ích của toàn thể nhân dân.
- Thẩm quyền của HĐND bao quát mọi vấn đề của đời sống xã hội:
HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp để phát triển địa phương trên
tất cả các lĩnh vực: Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính

18


quyền; trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường; trong lĩnh vực văn hóa,
xã hội; trong bảo đảm tổ chức và thi hành Hiến pháp, pháp luật. Không chỉ
thực hiện chức năng quyết định mà HĐND còn thực hiện chức năng giám sát
toàn diện hoạt động thi hành pháp luật ở địa phương. Không chỉ giám sát hoạt
động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND mà còn giám sát việc
tuân theo pháp luật của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương.
1.2.2. Các nguyên tắc hoạt động
Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND cũng phải tuân
thủ các nguyên tắc hoạt động chung được quy định tại Hiến pháp năm 2013
đó là: Nguyên tắc nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân.Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp.Nguyên tắc Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh
đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội.Nguyên tắc nhân dân thực hiện quyền lực nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội,
HĐND và thông qua các cơ quan khác của nhà nước. Nguyên tắc nhà nước
được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng
Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.
Bên cạnh đó, HĐND phải thực hiện các nguyên tắc quy định tại Luật tổ
chức chính quyền địa phương năm 2015 đó là: Tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật, quản lý xã hội bằng pháp luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân

ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND năm 2004, một trong những
nội dung thuộc phạm vi mà các Ban của HĐND phải thẩm tra là “sự phù hợp
của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng”. Do đó các nghị quyết của HĐND phải cụ thể các chủ trương, biện
pháp để thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng. Vì vậy, chất lượng các
nghị quyết của HĐND phụ thuộc vào chất lượng các nghị quyết, chỉ thị của
cấp ủy cùng cấp.
20


- Mức độ phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước: Thực tế cho thấy
rằng, việc giải quyết, đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống về giáo dục, y tế,
văn hóa, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội … đều được thực hiện
tại cơ sở. Việc tổ chức bộ máy nhà nước theo các cấp hành chính luôn gắn với
việc phân cấp, phân quyền, phân định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng
cấp chính quyền.
Đặc điểm của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước có
hình thức cấu trúc đơn nhất, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “tập trung
dân chủ” – mô hình tập quyền XHCN. Chính quyền địa phương ít nhiều có
quyền tự chủ nhưng không có quyền tự quản.Trong tổ chức, hoạt động cơ
quan hành pháp chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực cùng cấp; chính
quyền cấp dưới chịu trách nhiệm, chịu sự chỉ đạo, phục tùng chính quyền cấp
trên.Chính quyền địa phương không phải là cấu trúc hành chính lãnh thổ có
chủ quyền riêng.Chính đặc điểm này không chỉ đã chi phối đến việc phân cấp
quản lý trong thời gian qua mà còn đặt ra nhiều vấn đề cho hiện tại và trong
thời gian tới.
Quy mô, mô hình tổ chức bộ máy của mỗi cấp, mỗi cơ quan nhà nước
không chỉ phụ thuộc vào chức năng, vị trí, tính chất mà còn phụ thuộc vào
tính chất, quy mô nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Một khi chính quyền địa
phương được tăng thêm nhiệm vụ, quyền hạn, tăng quyền tự chủ, tự chịu

vấn đề của địa phương cần phải hạn chế hơn. Chính quyền đô thị phải khác
với chính quyền nông thôn.
- Trình độ dân trí, khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân: Là
cơ quan đại diện của nhân dân hợp thành bởi các đại biểu thuộc mọi thành
phần, tầng lớp trong xã hội, do đó chất lượng của đại biểu sẽ phụ thuộc vào
trình độ dân trí. Khi trình độ dân trí thấp, người dân không hiểu biết được ảnh
hưởng của chính trị tới đời sống hang ngày của họ nên thờ ơ với các hoạt
động chính trị. Khi đó người dân ít quan tâm đến hoạt động bầu cử, thường
không thể hiện tâm tư, tình cảm của mình đối với kết quả bầu cử.Vì vậy chất
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status